1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Giáo án văn 10 tập 1 (chuyên)

59 409 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 376,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A. Mục tiêu cần đạt: Giúp HS: 1. Về kiến thức: Cảm nhận được vẻ đẹp của con người thời Trần qua hình tượng trang nam nhi với lí tưởng và nhân cách cao cả; cảm nhận được vẻ đẹp của thời đại qua hình tượng “ba quân” với sức mạnh và khí thế hào hùng. Vẻ đẹp của con người và vẻ đẹp của thời đại quyện hòa với nhau 2. Về kĩ năng: Vận dụng những kiến thức đã học về thơ Đường luật để cảm nhận và phân tích được thành công nghệ thuật của bài thơ: thiên về gợi, bao quát gây ấn tượng, dồn nén cảm xúc, hình ảnh hoành tráng, đạt tới độ súc tích cao, có sức biểu cảm mạnh mẽ 3. Về thái độ: Bồi dưỡng nhân cách, sống có lí tưởng và quyết tâm thực hiện lí tưởng

Trang 1

3 Về thái độ:

- Bồi dưỡng nhân cách, sống có lí tưởng và quyết tâm thực hiện lí tưởng

B Chuẩn bị :

1 Với giáo viên: SGK, SGV, Sách tham khảo, thiết kế giáo án

2 Với học sinh: đọc SGK, soạn bài

C Tiến trình lên lớp :

1 Ổn định tổ chức, kiểm tra sĩ số

2 Kiểm tra bài cũ:

Câu hỏi: Trình bày những đặc điểm lớn về nội dung và nghệ thuật của văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX ?

Gợi ý:

- Những đặc điểm lớn về nội dung:

+ chủ nghĩa yêu nước: tự hào về truyền thống văn hiến của dân tộc, lòng yêu

Tổ quốc, thiên nhiên, quyết tâm chống giặc bảo vệ đất nước…

+ chủ nghĩa nhân đạo: đồng cảm với những kiếp người bất hạnh, lên án những thế lực hắc ám chà đạp lên quyền sống của con người, bênh vực ca ngợi vẻ đẹp của con người, đồng tình với những ước mơ, khát vọng giải phóng con người…+ cảm hứng thế sự: trăn trở trước hiện thực xã hội, trước nhân tình thế thái, bày tỏ nỗi niềm ưu thời mẫn thế

- Những đặc điểm lớn về nghệ thuật:

+ tính quy phạm và sự phá vỡ tính quy phạm

+ khuynh hướng trang nhã và xu hướng bình dị

+ tiếp thu và dân tộc hóa tinh hoa văn học nước ngoài

Trang 2

3 Bài mới:

(Dẫn) Phạm Ngũ Lão, trước là môn khách, sau là con rể của Trần Hưng Đạo Ông là một vị tướng đã lập nhiều chiến công trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông, trong việc mở mang bờ cõi phía Nam, được phong chức Điện soái Thượng tướng quân Ông là người văn võ toàn tài đã để lại một số bài thơ, trong đó có bài

“Thuật hoài” viết bằng chữ Hán

GV: gọi HS đọc Tiểu dẫn và trả lời

câu hỏi: Trình bày những hiểu biết

của em về tác giả Phạm Ngũ Lão

GV: khuyến khích HS kể chuyện về

chàng trai làng Phù Ủng (ngồi suy

nghĩ chuyện binh nghiệp mà không

biết có xa giá của Trần Hưng Đạo đi

qua)

GV: Gọi một HS đọc văn bản

- Thử suy luận hoàn cảnh ra

đời của bài thơ ?

I Giới thiệu chung

1 Tác giả:

- Phạm Ngũ Lão (1255 – 1320) quê ở làng Phù Ủng, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên

- Sinh ra trong thời loạn, trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông

- Con người:

+ là người có khí phách, có tráng chí, tâm hùng (câu chuyện về chàng trai làng Phù Ủng)+ là người có công lớn trong hai cuộc chiến chống Nguyên – Mông, nổi tiếng với đội quân “Phụ tử chi binh”, đánh đâu thắng đấy và sau này được phong chức “Điện soái thượng tướng quân”

+ Là người văn võ toàn tài Tác phẩm của ông chỉ còn lại hai bài, nhưng đó là những vần

thơ bất hủ: Thuật hoài, Vãn thượng tướng

quốc công Hưng Đạo đại vương là minh

chứng cho quan niệm : “quý hồ tinh, bất quý

Vì vậy bài thơ có sự đan xen giữa hai nguồn cảm xúc: tự hào tự tôn dân tộc và khát vọng lập công danh báo đền nợ nước

- Theo lịch sử, có thể phỏng đoán bài thơ

Trang 3

GV: giải thích Nhan đề

GV: đối tượng được miêu tả trong

câu thơ đầu là ai ?

GV: đối chiếu phiên âm với dịch

thơ và cho biết : Câu thơ dịch “Múa

giáo…” đã lột tả hết ý của câu thơ

trong nguyên tác chưa ?

GV: vẻ đẹp ấy được đặt trong không

gian, thời gian như thế nào ? Điều

ấy có ý nghĩa gì trong việc khắc họa

hình tượng con người thời đại ?

được Phạm Ngũ Lão sáng tác vào cuối năm

1284 khi cuộc kháng chiến lần thứ hai đã đến rất gần

b Nhan đề

- Thuật : kể, bày tỏ (tự thuật, trần thuật)

- Hoài: ôm ấp (hoài bão), có thể dịch là

“nỗi lòng”

Tỏ lòng: bày tỏ khát vọng, hoài bão lớn

trong lòng

II Tìm hiểu văn bản

Bài thơ là vẻ đẹp người anh hùng Hai câu đầu khắc họa tầm vóc, sức mạnh; hai câu sau thể hiện ý chí và nhân cách

1 Hai câu đầu

a Câu thơ đầu thể hiện vẻ đẹp của người tráng sĩ cầm ngang ngọn giáo bảo vệ non sông

- Trong bản dịch thơ “múa giáo”: tư thế động, có chút gì đó ngang tàng, phô diễn động tác làm mất đi sự chắc chắn của hình ảnh

- Trong bản phiên âm “hoành sóc” : tư thế tĩnh, gợi dáng đứng vững chãi, khắc họa được tư thế hiên ngang, lẫm liệt, sẵn sàng chiến đấu Và hơn thế nữa nó còn gợi lên được tâm thế ung dung đầy chủ động của con người

- Vẻ đẹp ấy được đặt trong không gian

“giang sơn”, thời gian là “kháp kỉ thu” Không gian đậm tô tầm vóc lớn lao kì vĩ, thời gian nhấn mạnh sự kiên định, bền bỉ, dẻo dai, lòng tận trung của người tướng triều Trần

Hình ảnh thơ ước lệ, không gian thơ kì

vĩ, tất cả đã tạo nên được ấn tượng về tầm vóc vũ trụ, kích thước lớn ao của con người thời đại, đứng giữa đất trời mà trấn giữ non sông như bất chấp tất cả

b Câu 2: Hình ảnh quân đội nhà Trần

- Tam quân: tiền quân, trung quân, hậu

quân – nói chung chỉ quân đội

Trang 4

GV: theo em câu thứ hai có mấy

cách hiểu? Em chọn cách hiểu nào?

GV: Em có nhận xét gì về mối quan

hệ của hai hình ảnh trong hai câu

thơ đầu ?

- Tì hổ: hổ báo (tì: một con vật linh

thiêng của Trung Quốc tượng trưng cho sức mạnh) Sau này, trong “Bình Ngô đại cáo” Nguyễn Trãi cũng mượn hình ảnh đó để tô

đậm thanh thế nghĩa quân Lam Sơn: Sĩ tốt kén

tay tì hổ - Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh) Hình ảnh

ẩn dụ nói lên cái mạnh mẽ hùng cường về lực

- Khí thôn ngưu: ý thơ có hai cách hiểu: + Cách 1: Sách Thi tử của Trung Hoa có câu: giống hổ báo tuy nhỏ, lưng chưa có vằn

nhưng đã có sức nuốt được trâu Thơ Đỗ Phủ

cũng có viết: Tiểu nhi ngũ tuế khí thôn ngưu –

Trẻ nhỏ năm tuổi đã có hào khí nuốt trâu.

+ Cách 2: Ngưu là sao Ngưu – một vì tinh

tú sáng vào bậc nhất trên bầu trời Khí thôn Ngưu: hào khí dũng mãnh làm mờ át cả sao Ngưu Trong một bài phú của Hàn Tín Khí thôn Ngưu hàm ý: khí thế dũng mãnh bốc lên làm mờ cả sao Ngưu sao Đẩu Sau này vào năm 1950 khí chỉ huy chiến dịch Biên giới Thu Đông, trong bài “Đăng sơn” Bác cũng đã

từng viết: Nghĩa binh tráng khí thôn Ngưu

Đẩu.

Dù hiểu theo cách nào thì câu thơ đều nhằm mục đích làm bật lên sức mạnh kì vĩ, khí thế hào hùng của quân dân triều đại nhà Trần Đoàn quân có cái mạnh mẽ hùng cường về lực, có cái hừng hực ngút trời về khí Đó còn

là sức mạnh dân tộc lớn lao, sánh với thiên nhiên vũ trụ

Câu thứ nhất gợi vẻ đẹp cá nhân, câu thứ hai gợi khí thế dân tộc Sự gắn bó bổ sung tôn tạo giữa những vẻ đẹp ấy đã làm bật lên ý chí đoàn kết, tinh thần tự chủ, sức mạnh cộng hưởng của toàn dân tộc Câu thơ mang cảm hứng tự tôn, tự hào, tự cường dân tộc sâu sắc, làm bừng lên hào khí Đông A

Tiểu kết: Hai câu thơ đầu với giọng

Trang 5

GV: cắt nghĩa câu thứ ba

GV: đọc một số câu thơ nói đến chí

làm trai và nợ công danh

GV: Phạm Ngũ Lão gắn nợ công

danh ấy với nỗi thẹn Vũ Hầu Vậy

Vũ Hầu là ai mà một người tài khí

như Phạm Ngũ Lão phải hổ thẹn ?

điệu hào hùng, ngôn ngữ hàm súc, Phạm Ngũ Lão đã khắc họa thành công tầm vóc con người thời đại, sức mạnh đội quân dân tộc làm bừng lên khí thế hào hùng, hào khí Đông A

Đó là một thời đại cao đẹp của những con người cao đẹp

2 Hai câu sau: Tâm sự của tác giả

- Công danh: công lao, danh tiếng, sự

nghiệp để đời Người quân tử lập công bằng con đường tu thân, tề gia, trị quốc để lại danh tiếng, tiếng thơm, địa vị

- Làm trai phải có công danh, quan niệm

đã khích lệ biết bao trang nam tử Sau này Nguyễn Công Trứ đã xem công danh ấy như

lẽ sống của con người: Có trung hiếu nên

đứng trong trời đất – Không công danh thà nát với cỏ cây; Đã mang tiếng ở trong trời đất – Phải có danh gì với núi sông Bản thân ý

thức nợ công danh đã làm bật lên chí khí, nhân cách của con người tác giả Điều đáng trọng hơn ở thời điểm viết bài thơ này có lẽ Phạm Ngũ Lão công đã dầy, danh đã cả nhưng vẫn văn khoăn: vị liễu công danh trái – còn vương

nợ Niềm day dứt ấy là biểu hiện cao nhất của khát vọng công danh, ý thức tu thân (tự vươn lên để hoàn thiện) của lòng nhiệt tâm, nhiệt huyết

- Phạm Ngũ Lão gắn nợ công danh ấy với nỗi thẹn Vũ Hầu Vũ Hầu hay còn gọi là Gia Cát Lượng, được biết đến với tư cách là một người tài năng nhiều mưu lược, một vị quân sư, đặc biệt ông còn là một trung thần, một nhân cách lớn trong Bắc sử Gia Cát Lượng đã giúp Lưu Bị lập nên nhà Thục Hán, trước khi qua đời Lưu Bị đã đem nước gia phó cho Gia Cát Lượng Vì cảm ơn ấy ông nhiều lần đem quân đánh Ngụy để báo đáp tiên chúa

và đã chết nơi trận mạc khi chỉ huy đánh

Trang 6

GV: Có ý kiến cho rằng chữ thẹn

dùng trong bài thơ hình như không

thích hợp với viêc miêu tả vẻ đẹp

hào hùng của một dũng tướng và

chữ thẹn cũng không làm bật lên

được ý chí lập công danh sắt đá ở

người trai đời Trần ? Ý kiến của em

thế nào ?

GV: Đặt trong dòng mạch văn học

thời thịnh Trần có tác phẩm nào các

em đã được học gợi cho em nghĩ

rằng: Thuật hoài là lời bảy tỏ đáp lại

tấm chân tình của những câu văn

tràn đầy nhiệt huyết ấy ?

Ngụy

Phạm Ngũ Lão lấy Gia Cát Lượng – con người tài năng xuất chúng, nhân cách hơn người – làm mẫu mực cho công danh sự nghiệp đời mình và lấy làm thẹn khi chưa lập công danh như Vũ Hầu – Gia Cát Lượng Cổ

nhân từng quan niệm: Biết điều tu sỉ (hổ thẹn)

cũng là một biểu hiện của cái dũng Đây là

nỗi thẹn có ý nghĩa tích cực thể hiện trách nhiệm, nghĩa vụ, danh dự của kẻ làm trai Cái thẹn này có khả năng tạo nên nhân cách cao

cả, hành vi nghĩa hiệp ở đời Sau này trong bài

Thu vịnh, bậc chân nho Nguyễn Khuyến cũng

đã từng nảy sinh nỗi thẹn: Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào Nguyễn Khuyến thẹn vì mình chưa được khẳng khái như Đào Tiềm vẫn còn day dứt về chuyện về hay ở Nhưng với Phạm Ngũ Lão một người đã từng đánh động dẹp bắc, với đội quân trăm trận trăm thắng mà vẫn

tự thấy trong lòng hổ thẹn, thì đó còn là cái thẹn mang tầm vóc lớn, nỗi thẹn tu thân với ý chí lập công sắt đá ấy thể hiện hào khí Đông

A, khí thế hào hùng của thời đại

- Đặt trong dòng mạch văn học thời thịnh Trần, khi Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn vừa truyền tới ba quân – đó là lời răn dạy của thế hệ cha đưa ra bài học cảnh giác khích lệ lòng yêu nước: Nay các ngươi nhìn chủ nhục

mà không biết lo, thấy nước nhục mà không biết thẹn, làm tướng triều đình phải hầu quân giặc mà không biết tức, nghe nhạc thái thường đãi yến ngụy sứ mà không biết căm Bài thơ

“Tỏ lòng” của Phạm Ngũ Lão là lời đáp lại của thế hệ con bày tỏ tấm lòng trung, khát vọng cống hiến trọn đời cho sự nghiệp cứu nước Cha dũng con hùng đó là vẻ đẹp của những thế hệ con người thời đại

- Bài thơ với nhịp điệu hào hùng, giọng

Trang 7

GV: Hào khí Đông A được thể hiện

ở những khía cạnh nào của bài thơ ?

GV: theo em, vấn đề mà Phạm Ngũ

Lão đặt ra là gì ? Vấn đề ấy thuộc về

một thuở hay còn mãi muôn đời ?

điệu hào sảng, ngôn ngữ ngắn gọn hàm súc (sử dụng những điển cố quen thuộc gần gũi) chỉ

có bốn câu với hai mươi tám tiếng mà khắc họa được tầm vóc của cả một thế hệ, một dân tộc, một thời đại

III Tổng kết

- Hào khí Đông A ở đây không chỉ thể hiện ở lòng yêu nước, căm thù giặc, tinh thần quật khởi, lòng tự hào tự tôn dân tộc Nó còn nằm trong những tâm tư sâu kín của con người, là tâm sự đáng kính của vị tướng tài ba cũng là tâm trạng của cả thế hệ thanh niên lúc bấy giờ Những con người lúc nào cũng canh cánh thù nhà nợ nước, đặt trách nhiệm gánh vác sự an nguy của đất nước lên đôi vai mình Hào khí ấy đã làm nên những chiến thắng lẫy lừng lưu danh sử sách

- Vấn đề Phạm Ngũ Lão đặt ra trong bài thơ không thuộc về một thuở, nó còn mãi tới muôn đời Tất cả chúng ta trong bất cứ hoàn cảnh nào, thời điểm nào đều phải biết tu sỉ (hổ thẹn) để tu tâm, để biết vượt lên chính mình

để hoàn thiện Và ý thức xây dựng đất nước, trách nhiệm với xã tắc giang sơn là điều cần thiết đến muôn đời Tất cả thể hiện sức ngân vang của những vần thơ bất hủ

*Bài tập:

- Học thuộc lòng bản phiên âm, dịch thơ

- Phân tích hào khí Đông A thể hiện qua bài thơ “Tỏ lòng”

Trang 8

1 Với Giáo viên: SGK, SGV, tham khảo, thiết kế bài giảng

2 Với Học sinh: đọc SGK, soạn bài

C Tiến trình lên lớp:

1 Ổn định tổ chức lớp, kiểm tra sĩ số

2 Kiểm tra bài cũ:

Câu hỏi: Trình bày những khía cạnh của hào khí Đông A qua bài thơ “Tỏ lòng” của Phạm Ngũ Lão ?

Gợi ý: Hào khí Đông A được thể hiện qua:

- Hai câu thơ đầu: Vẻ đẹp hùng tâm tráng chí qua hình ảnh vị tướng dũng mãnh cầm ngang ngọn giáo trấn giữ non sông và hình ảnh đội quân hùng mạnh mang tầm vóc vũ trụ lớn lao, kì vĩ

- Hai câu sau: Khát vọng lập công danh báo đền nợ nước của cả một thế hệ

3 Bài mới

(Dẫn) Thơ nói về cuộc sống nhàn dật là phần có số lượng bài nhiều nhất và cũng là phần hay nhất trong “Quốc âm thi tập” của Nguyễn Trãi Hôm nay chúng ta sẽ tìm một bài thơ viết về chủ đề nhàn ấy của Ức Trai

Hoạt động của GV và HS Nội dung cần đạt

GV: cho HS đọc phần Tiểu dẫn và

trả lời câu hỏi:

- Dựa vào những kiến thức đã

học, trình bày những hiểu biết của

em về tác gia Nguyễn Trãi ?

I Tìm hiểu chung:

1 Tác giả : Nguyễn Trãi (1380 – 1442)

- Hiệu: Ức Trai; quê gốc: Chí Linh (Hải Dương)

- Là bậc đại anh hùng dân tộc, nhân vật toàn tài hiếm có trong lịch sử phong kiến Việt

Trang 9

- Giới thiệu những nét khái

quát về tác phẩm “Quốc âm thi tập”

GV: giới thiệu cho HS về xuất xứ,

nhan đề, hoàn cảnh sáng tác của bài

thơ “Cảnh ngày hè”

Nam

- Là người phải chịu nỗi oan khiên thảm khốc, số phận của một người tài ba, lỗi lạc nhưng luôn bị nghi kị, gièm pha

- Ông để lại một di sản phong phú về quân

sự, văn hóa, văn học cho nước nhà

2 Quốc âm thi tập

- Là tập thơ Nôm cổ nhất tính đến thời điểm hiện tại và được đánh giá vào loại hay nhất

- Nội dung: Phản ánh vẻ đẹp con người Nguyễn Trãi: tư tưởng nhân nghĩa sáng ngời, tình yêu nước thương dân, hòa cảm với thiên nhiên

- Nghệ thuật: sáng tạo thể thơ Nôm Đường luật: câu thất ngôn xen lục ngôn

- Kết cấu: gồm 254 bài, chia làm 4 phần:

+ Vô đề: Ngôn chí (21 bài), Mạn thuật (14

bài), Tự thán (41 bài), Tự thuật (11 bài), Bào kính cảnh giới (61 bài)

+ Môn thì lệnh+ Môn hoa mộc+ Môn cầm thú

3 Bài thơ “Cảnh ngày hè”

- Xuất xứ: nằm trong tập thơ Nôm “Quốc

âm thi tập”, phần “Bảo kính cảnh giới” có 61 bài, bài này được đánh số 43

- Nhan đề: người viết dựa vào nội dung bài thơ mà đặt tên là “Cảnh ngày hè”

- Hoàn cảnh sáng tác: Thơ Nguyễn Trãi làm dưới triều Lê nhiều bài nói về tâm trạng trong cuộc sống nhàn dật Những bài này được viết trong thời gian ông không còn được nhà vua tin dùng Trong những năm nhàn quan, Nguyễn Trãi luôn ở trong tình thế giằng co giữa một bên là lạc thú nhàn dật và một bên là nợ quân thân cần báo đáp, là đời sống của người dân cần được chăm lo Cho nên, dù nhàn dật,

Trang 10

GV: gọi 2 HS đọc văn bản và yêu

cầu xác định bố cục của bài thơ ?

GV: câu thơ đầu cho em cảm nhận

được điều gì về tâm thế của nhân vật

trữ tình ?

GV: bình về câu thơ này

GV: bài thơ viết về thời điểm nào

trong ngày? Từ ngữ nào đánh dấu

điều đó ? Thời điểm ấy thường gợi

- 2 câu cuối: Tấm lòng của nhà thơ với đời, với dân, với nước

1 Bức tranh thiên nhiên và cuộc sống

- Theo nguyên lí “thi trung hữu họa”, người đọc có thể cảm thụ thi phẩm như một bức tranh Một búc tranh bằng ngôn từ Một bức tranh nghiêng về gam màu nóng – gam màu đặc trưng của ngày hè Ngày hè hiện ra với một tâm thế, một thời gian, một không gian khá ăn nhập

a Tâm thế

“Rồi hóng mát thuở ngày trường”

- Nhịp thơ: 1/2/3 thong thả, nhịp nhàng

- Cụm từ “Rồi hóng mát” gợi ra hình ảnh một Ức Trai trong dịp nhàn rỗi hiếm hoi nào đó

- “Thuở ngày trường” : đã tóm được cái chênh lệch “đêm ngắn ngày dài” khá đặc trưng của ngày hè

thời gian rảnh rỗi, tâm hồn thư thái, thanh thản, khí trời mát mẻ, trong lành… Một ngày như thế trong đời Nguyễn Trãi nào có là bao ? Ông là người “nhàn thân chứ không nhàn tâm” “Một phút thanh nhàn trong thuở ấy” với Ức Trai thật đáng quý biết bao!

b Thời gian

- Thời gian “buổi chiều” (tịch dương) thường gợi liên tưởng đến sự nghỉ ngơi, mọi vang động náo nhiệt của cuộc sống thường ngày tạm lắng xuống Thời điểm ấy thường dội lên trong lòng người bao nỗi nhớ (ca dao, thơ Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Du, Thôi Hiệu…)

Trang 11

ấy còn không khi đọc bài thơ này ?

GV: chỉ ra những gam màu mà tác

giả đã sử dụng để miêu tả bức tranh

ngày hè ? Bức tranh ấy có đặc điểm

gì về sức sống ?

GV: ngoài thị giác, tác giả còn dùng

giác quan nào để cảm nhận bức

tranh ngày hè ?

- Nhưng đọc bài thơ, người ta lại cảm nhận rằng: sự sống vẫn không dừng lại cho dù trong khoảng thời gian “tịch dương” vốn gợi sự

+ màu sắc: màu lục của lá hòe làm nổi bật màu đỏ của hoa thạch lựu, ánh mặt trời buổi chiều như dát vàng lên những tán hòe xanh+ Ở tầng nào của thiên nhiên, sức sống bên trong cũng như đang trào ra Các tạo vật thiên nhiên không chịu tĩnh, chúng động (các động từ

đùn đùn, giương, phun) Có một cái gì thôi thúc

tự bên trong, đang ứa căng, đang tràn đầy, không kìm được Màu xanh lục lá hòe thì “đùn đùn” như cuộn lên từng khối biếc, tán hòe thì

“rợp giương” như đang cử lọng giương ô Màu

đỏ hoa lựu không lặng lẽ tô son điểm sắc, cũng không lập lòe dậy lên vài đốm lửa mà nhất loạt phun trào thức đỏ Từ dưới ao, hoa sen cũng hưởng ứng bằng sắc hồng chín ửng cùng mùi hương dậy lên bay tỏa không gian

Các động từ mạnh kết hợp với sắc độ gắt của gam màu, tất cả làm dậy lên sức sống của thiên nhiên đang kì toàn thịnh

+ Cặp từ “còn … đã” Loài này đang thì loài kia đã, hô ứng nhau, chen bước nhau gợi ra được không khí các tạo vật đang đua nhau phô sắc khoe hương

Trang 12

GV: qua bức tranh ngày hè, em cảm

nhận được điều gì về tâm hồn nhà

thơ ?

tan là hình ảnh rã đám của một cuộc sống đang

đi xuống Chỉ cần nhìn vào diện mạo chợ cũng

có thể thấy được âm vang của đời sống Âm thanh “lao xao” từ chợ cá làng ngư phủ đã nói lên vẻ sầm uất của cuộc đời xung quanh Cũng

là chợ chiều nhưng nó không có cái đìu hiu quạnh quẽ như trong thơ Bà Huyện Thanh

Quan “Lác đác bên sông chợ mấy nhà” hay sau này trong thơ Huy Cận “Đâu tiếng làng xa vãn

chợ chiều”

+ Thời gian buổi chiều không làm không gian quạnh hiu, cô tịch, trái lại, chính tiếng ve going giả inh ỏi khiến buổi hoàng hôn trở nên náo nhiệt

+ Lối viết đảo ngược cú pháp: đặt những âm thanh “lao xao”, “dắng dỏi” lên đầu mỗi câu tạo nên những điểm nhấn  người viết muốn phổ vào không gian cả một dàn âm thanh rộn rã

2 Vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi

a Tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu đời, yêu cuộc sống

- Ức Trai là nhà thơ của thiên nhiên, ông

tự thấy cái duyên sẵn có giữa mình với non

nước “Non nước cùng ta đã có duyên” (Tự

thán, bài 4) Trong hoàn cảnh nào, tâm hồn nhà

thơ cũng rộng mở đón thiên nhiên: “Túi thơ

chứa hết mọi giang san” (Tự thán, bài 2)

Thật hiếm hoi khi nhà thơ có phút giây thanh nhàn “hóng mát” để làm thơ, để yêu say cảnh đẹp

- Chính tình yêu thiên nhiên nồng nàn, tinh tế đã giúp nhà thơ cảm nhận vẻ đẹp của cảnh ngày hè bằng nhiều giác quan: thị giác, thính giác, khứu giác… Thiên nhiên qua cảm nhận của nhà thơ trở thành một bức tranh ngày

hè thật sống động, có sự hài hòa giữa đường nét, âm thanh, màu sắc, con người và cảnh vật

b Tấm lòng ưu ái với dân, với nước

Trang 13

GV: Câu thơ cuối cho chúng ta hiểu

thêm điều gì về con người Nguyễn

Trãi ?

GV: chỉ ra những điểm khác biệt của

bài thơ so với một bài thơ thất ngôn

bát cú Đường luật thông thường ?

- Nguyễn Trãi yêu thiên nhiên, nhưng trên hết vẫn là tấm lòng của ông tha thiết với con người, với dân, với nước Nhìn cảnh sống của dân, đặc biệt là người lao động – những người dân chài lam lũ, được yên vui no đủ, Nguyễn Trãi ước có cây đàn của vua Nghiêu vua Thuấn

để gảy khúc Nam Phong, ca ngợi cảnh thái bình, thịnh trị “Dân giàu đủ khắp đòi phương”

 Câu kết ngắn gọn 6 chữ thể hiện

sự dồn nén cảm xúc của toàn bài Điểm kết tụ hồn thơ Nguyễn Trãi không phải ở thiên nhiên tạo vật mà chính là ở con người, ở người dân Nguyễn Trãi mong cho dân được ấm no, hạnh phúc: “dân giàu đủ” đó còn là hạnh phúc cho tất

cả mọi người, mọi nơi: “khắp đòi phương” Câu kết đột nhiên ngắn lại như ghim sâu hơn nỗi niềm đau đáu ấy của tác giả

III Tổng kết

1 Nghệ thuật:

Điểm khác biệt so với một bài thơ Đường luật:

- Xuất hiện hai câu lục ngôn

- Câu 3, 4 ngắt nhịp ¾ (nhịp thường thấy

3 Luyện tập:

3.1 Phân tích bức tranh cảnh ngày hè ?

3.2 Vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi qua bài thơ ?

3.3 Đọc bài thơ sau , xác định điểm tương đồng giữa hai bài thơ, từ đó rút

ra những kết luận cần thiết :

Thuật hứng (số 24)

Trang 14

Công danh đã được hợp về nhàn Lành dữ âu chi thế nghị khen

Ao cạn vớt bèo cấy muống Đìa thanh phát cỏ ương sen Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc Thuyền chở yên hà nặng vạy then Bui có một lòng trung lẫn hiếu Mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen.

_ Nguyễn Trãi _

Tiết

Trang 15

1 Với giáo viên: SGK, SGV, thiết kế bài giảng

2 Với học sinh: ôn lại kiến thức đã học ở lớp 8, 9 về tóm tắt văn bản tự sự; trả

lời các câu hỏi trong phần bài học

C Tiến trình lên lớp :

1 Ổn định tổ chức, kiểm tra sĩ số lớp

2 Bài mới:

Hoạt động của GV và HS Nội dung cần đạt

GV: nêu một số câu hỏi để HS trả

GV: hướng dẫn HS ôn lại những

kiến thức liên quan đến nhân vật và

nhân vật chính trong văn bản tự sự :

- Vic tóm tắt này giúp ta nắm vững tính cách và số phận của nhân vật, góp phần đi sâu tìm hiểu và đánh giá tác phẩm Muốn vậy, bản tóm tắt cần đáp ứng đầy đủ yêu cầu chung của một văn bản, trung thành với văn bản gốc, nêu được đặc điểm và những sự việc xảy ra với nhân vật chính

II Cách tóm tắt văn bản tự sự theo nhân vật chính

1 Ôn tập:

- Nhân vật văn học là hình tượng con người (có thể là loài vật hay cây cỏ… được nhân cách hóa) được miêu tả trong văn bản văn học Nhân vật thường có tên tuổi, lai lịch, ngoại hình, hành động, lời nói, suy nghĩ, tình cảm… Mỗi nhân vật còn có mối quan hệ với những nhân vật khác và thường được bộc lộ qua diễn biến của cốt truyện

- Nhân vật chính là nhân vật gắn liền

Trang 16

GV : Yêu cầu HS đọc Truyện An

Dương Vương và Mị Châu – Trọng

Thủy và trả lời câu hỏi :

Tiết Đọc văn:

NHÀN

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)

Trang 17

- Biết cách đọc – hiểu một bài thơ có những câu thơ ẩn ý, thâm trầm; thấy được

vẻ đẹp ngôn ngữ tiếng Việt: mộc mạc, tự nhiên, ý vị

3 Về thái độ:

- Hiểu đúng quan niệm sống nhàn của tác giả, từ đó càng thêm yêu mến, kính trọng Nguyễn Bỉnh Khiêm

B Chuẩn bị:

1 Với giáo viên: SGK, SGV, tài liệu tham khảo, thiết kế giáo án

2 Với học sinh: đọc SGK và soạn bài

C Tiến trình lên lớp:

1 Ổn định tổ chức, kiểm tra sĩ số lớp

2 Kiểm tra bài cũ:

Câu hỏi: Đọc thuộc lòng bài thơ “Cảnh ngảy hè” Cảm nhận của em về vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi qua tác phẩm này?

Gợi ý: Vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi qua bài thơ “Cảnh ngày hè”:

- Tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu đời, yêu cuộc sống (phân tích bức tranh cảnh ngày hè giàu sức sống, hài hòa về màu sắc, đường nét, âm thanh…)

- Tấm lòng ưu ái với dân, với nước

3 Bài mới:

(Dẫn) Trong tiết học trước, các em đã được tìm hiểu một tác gia văn học tiêu biểu của dân tộc ta trong thế kỉ XV – tác gia Nguyễn Trãi, thấy được tình yêu tha thiết với thiên nhiên và tấm lòng gắn bó ưu ái với dân, với nước của ông Hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu một nhà thơ – nhà văn hóa lớn của dân tộc, người được mệnh danh là “cây đại thụ văn hóa thế kỉ XVI” – tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm và bài thơ “Nhàn” của ông

Hoạt động của GV và HS Nội dung cần đạt

GV: hướng dẫn HS đọc phần Tiểu

dẫn và trả lời câu hỏi:

- Trình bày những hiểu biết

Trang 18

của em về tác giả Nguyễn Bỉnh

Khiêm ?

- Chủ đề của bài thơ “Nhàn” là

gì ?

Phủ, hiệu: Bạch Vân cư sĩ

- Sinh ra trong một gia đình nội ngoại đều có người đỗ đạt cao, danh gia vọng tộc

- Đỗ Trạng nguyên năm 1535, làm quan cho nhà Mạc trong 8 năm

- Dâng sớ chém 18 tên lộng thần nhưng không được vua chấp nhận nên ông cáo quan

về quê, mở quán Trung Tân, lập am Bạch Vân và mở trường dạy học bên sông Hàn Giang (Tuyết Giang)

- Được người đời suy tôn là Tuyết Giang Phu Tử, được phong tước Trình Quốc Công nên được gọi là Trạng Trình

b) Sự nghiệp:

- Là người thông thạo cả Nho – Y – Lí – Số Được vua Mạc, chúa Trịnh, chúa Nguyễn nhiều lần đến hỏi ý kiến cho những công việc đại sự

- Là người có học vấn uyên thâm, “một cây đại thụ văn hóa”

- Là nhà thơ lớn của dân tộc, để lại tập thơ chữ Hán “Bạch Vân am thi tập” (gần 700 bài) và tập thơ chữ Nôm “Bạch Vân quốc ngữ thi” (gần 170 bài)

- Thơ ông mang đậm chất triết lí, giáo huấn, ngợi ca chí của kẻ sĩ, thú thanh nhàn, đồng thời phê phán những điều xấu xa trong

xã hội

2 Tác phẩm “Nhàn”

- Văn tự: chữ Nôm

- Xuất xứ: bài thứ 73 / 170 bài trong tập

“Bạch Vân quốc ngữ thi”

- Chủ đề : “Nhàn” : Nhàn là một chủ đề lớn trong thơ chữ Hán và rất đậm nét trong thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm Thơ NBK hội tụ những nội dung phong phú, đa dạng của chữ “nhàn”: “rỗi nhàn”, “thân nhàn”, “phận nhàn”, “thanh nhàn” Nhàn là

Trang 19

GV: những hình ảnh “mai, cuốc, cần

câu” gợi ra một cuộc sống như thế

nào ?

GV: cuộc sống đạm bạc của cụ

Trạng được gợi lên qua những chi

tiết nào trong hai câu 5, 6 ?

sống thuận theo tự nhiên “Dẫu nhẫn chê khen dầu miệng thế / Cơ cầu tạo hóa mặc tự nhiên” Nhàn là đối lập với danh lợi “Để rẻ công danh đổi lấy nhàn” Nhàn là triết lí, là thái độ sống, là tâm trạng

II Đọc – hiểu văn bản

1 Vẻ đẹp cuộc sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm

a) Là một cuộc sống thuần hậu :

Một mai, một cuốc, một cần câu

Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

- Cụ Trạng trở về sống giữa thôn quê như một lão nông tri điền, với những công

cụ lao động : mai để đào, cuốc để xới đất,

về với cuộc sống ấy như một sự ngông ngạo trước thói đời Tuy vậy, ngông chứ không ngang mà cứ thuần hậu, nguyên thủy

- Cái dáng « thơ thẩn » của cụ mặc người đời vui thú nào đó thật bình thản, ung dung

b) Cuộc sống đạm bạc mà thanh cao :

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

- Thức ăn : măng trúc, giá  đạm bạc,

dân dã, quê mùa, là những thứ cây nhà lá vườn, do mình tự lo, là công sức của chính mình

- Sinh hoạt : tắm hồ, tắm ao như bao người dân quê khác

Trang 20

GV: em hiểu thế nào là “nơi vắng

vẻ”, “chốn lao xao” ?

Vic nhà thơ tìm đến “nơi vắng vẻ”,

tránh xa “chốn lao xao” cho thấy nét

đẹp gì trong tâm hồn ông ?

GV: Quan niệm “dại – khôn” của

tác giả có gì đặc biệt ? Qua đó

chúng ta cảm nhận được điều gì

trong trí tuệ Nguyễn Bỉnh Khiêm ?

Hai câu thơ đăng đối tự nhiên hài hòa, có một bức tranh tứ bình về bốn mùa xuân, hạ, thu, đông Có mùi vị, có hương sắc Không nặng nề, không ảm đạm

Đạm bạc chứ không khắc khổ Đạm đi với thanh Đó là cuộc sống thanh cao trong sự trở

về với tự nhiên, mùa nào thức nấy

2 Vẻ đẹp nhân cách Nguyễn Bỉnh Khiêm

- Tuyết Giang Phu Tử trở về với thiên nhiên, sống hòa thuận theo tự nhiên là thoát

ra ngoài vòng ganh đua với thói tục, là không

bị cuốn hút bởi tiền tài, địa vị, danh vọng, để tâm hồn an nhiên, khoáng đạt

- Nhân cách Nguyễn Bỉnh Khiêm đối lập với danh lợi như nước với lửa :

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ Người khôn người đến chốn lao xao

Vắng vẻ >< lao xaoDại >< khôn

Ta >< người

Ta tìm nơi vắng vẻ là nơi không người cầu cạnh ta và ta cũng không phải cầu cạnh người Nơi vắng vẻ là nơi tĩnh tại của thiên nhiên và là nơi thảnh thơi của tâm hồn

Người đến chốn lao xao là đến chốn cửa quyền, là bước vào đường hoạn lộ Chốn lao xao sang trọng thì có kẻ hầu người hạ, ngựa

xe tấp nập, có bon chen, thủ đoạn, luồn lót, sát phạt

- Thơ nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm là

sự phủ nhận danh lợi :

Để rẻ công danh đổi lấy nhàn

Và Nguyễn Trãi cũng từng tổng kết :

Dưới công danh đeo khổ nhục

Trong dại dột, có phong lưu

3 Vẻ đẹp trí tuệ Nguyễn Bỉnh Khiêm

- Trạng Trình là một bậc thức giả với trí

Trang 21

GV: gọi một HS đọc phần Ghi nhớ

tuệ vô cùng tỉnh táo Tỉnh táo trong sự chọn lựa « Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ » mặc cho người đời « Người khôn người đến chốn lao xao » Tỉnh táo trong cách nói đùa vui, ngược nghĩa : dại mà thực chất là khôn, khôn

mà hóa ra dại Ở một bài thơ khác, Nguyễn Bỉnh Khiêm có viết :

Khôn mà hiểm độc là khôn dại

Dại vốn hiền lành, ấy dại khôn

dại, khôn ở Nguyễn Bỉnh Khiêm có phần xuất phát từ trí tuệ, triết lí dân gian « Ở hiền gặp lành, ác giả ác báo »

- Trạng Trình là một bậc triết gia với trí tuệ uyên thâm Bậc đại nho, đại trí này nắm vững lẽ biến dịch, hiểu thấu nhũng quy luật : họa / phúc, bĩ / thái, cùng / thông, táng / đắc Với Nguyễn Bỉnh Khiêm, cái khôn của người thanh cao là quay lưng lại với danh lợi, tìm

sự thư thái cho tâm hồn, sống ung dung hòa hợp với thiên nhiên

- Với cái nhìn thông tuệ và nhãn quan

tỏ tường, NBK tìm đến say nhưng chỉ là để tỉnh :

Rượu, đến cội cây ta sẽ uống

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao

Cuộc sống nhàn dật này là kết quả của một nhân cách, một trí tuệ Trí tuệ nhận ra công danh, của cải, quyền quý chỉ là giấc chiêm bao Trí tuệ nâng cao nhân cách để nhà thơ từ

bỏ chốn lao xao quyền quý đến nơi vắng vẻ đạm bạc mà thanh cao

III Tổng kết :

1 Nội dung :

- Vẻ đẹp cuộc sống, nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm : cuộc sống đạm bạc, nhân cách thanh cao, trí tuệ sáng suốt, uyên thâm

2 Nghệ thuật :

Trang 22

- Vẻ đẹp của ngôn ngữ tiếng Việt : mộc mạc, tự nhiên, ý vị

- Nhiều câu thơ ẩn ý, thâm trầm

3 Củng cố :

- Chữ « nhàn » trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm là cùng dòng với chữ « nhàn » của Chu Văn An, Nguyễn Trãi Những bậc đại hiền này nhàn thân chứ không nhàn tâm Tuy về nhàn nhưng các ông vẫn luôn ưu ái với đời Nó khác xa lối sống « độc thiện kì thân » (làm tốt cho riêng mình)

4 Bài tập :

4.1 Triết lí nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ này là gì ?

Gợi ý : « Nhàn » theo quan niệm của Nguyễn Bỉnh Khiêm là :

- Sống hòa hợp với thiên nhiên, sống cuộc sống đạm bạc mà thanh cao

- Sống xa lánh chốn cửa quan ồn ào, nhiều thị phi, lắm bon chen gièm pha, luồn lót, sát phạt ; giữ cho tâm hồn luôn trong sạch, nhân cách thanh cao

Tiết: Đọc văn:

ĐỌC TIỂU THANH KÍ

Trang 23

(Độc Tiểu Thanh kí – Nguyễn Du)

- Quan niệm về con người trong sáng tác của Nguyễn Du đã toàn diện hơn: con người không chi cần có điều kiện vật chất để tồn tại mà cần có cả những giá trị tinh thần, cần tôn vinh cả những chủ nhân làm nên các giá trị văn hóa tinh thần đó

- Thấy được thành công nghệ thuật của bài thơ về từ ngữ, kết cấu…

2 Kiểm tra bài cũ:

Câu hỏi: Em hiểu gì về triết lí nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ “Nhàn” của ông?

Gợi ý: Triết lí nhàn có thể hiểu:

- Nhàn là sống hòa hợp với tự nhiên, cuộc sống thuần hậu, đạm bạc mà thanh cao

- Nhàn là tránh xa công danh, phú quý, giữ nhân cách cao đẹp

I Tìm hiểu chung

Trang 24

GV: hướng dẫn HS đọc phần Tiểu dẫn

- Trình bày những hiểu biết của em

về nhân vật Tiểu Thanh

GV: kể tóm tắt truyện Tiểu Thanh:

Tương truyền Tiểu Thanh là vợ thiếp của một

người ở Hổ Lâm, nhà ở Quảng Lăng, Giang Tô,

cùng họ với chồng nên chỉ được gọi là Tiểu

Thanh Thuở bé thông tuệ khác thường Năm 10

tuổi gặp một ni sư dạy cho Tâm kinh, chỉ qua

một hai lượt đã thuộc lòng, đọc lại không sai

một chữ Ni sư bảo: Cô này thông tuệ sớm, phúc

bạc, nếu không cho vào chùa thì đừng cho học

chữ, may ra sống đến ba mươi tuổi Người nhà

cho là nói bậy Mẹ Tiểu Thanh vốn là gia sư nên

cho con theo học Được đi lại với nhiều nhà

khuê các nên Tiểu Thanh sớm tinh thông nhiều

nghề, kể cả âm luật Năm 16 tuổi, cô đi lấy

chồng, làm lẽ một công tử giàu có nhưng ngốc

nghếch, không phải kẻ hào hoa phong nhã Vợ

cả lại là người độc ác, cả ghen, bắt cô ở riêng

trên núi Cô Sơn, không cho tiếp xúc với chồng

Cô buồn khổ, uất ức, tấm lòng gửi cả vào thư từ

Tiểu Thanh cô đơn, đau buồn mà sinh bệnh Vợ

cả sai thầy lang và con hầu mang thuốc đến, có

lẽ là thuốc độc, cô vờ cảm ơn sau đem vứt đi

Nàng không ăn cơm, chỉ uống nước quả nhưng

chú ý trang điểm và ăn mặc đẹp Có khi cho gọi

cô gái đàn tỳ bà chơi ít bài mua vui Một hôm

cô nhắn chồng cho mời họa sĩ đến bảo vẽ chân

dung Vẽ bức thứ nhất, Tiểu Thanh chê chỉ vẽ

được hình mà chưa bắt được cái thần Vẽ bức

thứ hai, nàng khen đã nắm được cái thần, nhưng

thiếu phong thái, lại bỏ đi Nàng bảo họa sĩ ngồi

chơi, quan sát nàng pha trà, vẽ tranh, trò

chuyện… Hồi lâu bảo họa sĩ vẽ chân dung,

được một bức sinh động như thật Họa sĩ về,

Tiểu Thanh đem bức tranh cúng trước sập, thắp

hương, rót rượu Nàng nói: “Tiểu Thanh ơi Tiểu

Thanh, lẽ nào đây là duyên phận của mi?” Rồi

ôm ghế mà khóc, nước mắt như mưa, một cơn

xúc động dâng lên rồi chết Năm đó nàng vừa

18 tuổi Chập tối chồng hay tin chạy lại, vén

màn thấy dung nhan như sống, xiêm áo tinh

tươm, đau đớn khóc to Sau đó lục lọi tìm được

sống vào đầu đời Minh, là một phụ nữ tài hoa, xinh đẹp nhưng bạc mệnh Năm 16 tuổi lấy lẽ một thương gia họ Phùng nhưng

bị vợ cả ghen ghét, bị đẩy ra sống một mình trên núi Cô Sơn (cạnh Tây Hồ) cuộc đời đang ở lứa tuổi đẹp nhất nhưng lại bị ngăn cách với thế giới bên ngoài, bị tước đi khát vọng được giao cảm với đời cô đơn, lẻ loi, tủi phận

- Đau đớn, uất ức, nàng sinh bệnh rồi mất Khi nàng chết rồi, vợ cả sai đem đốt cả bức ảnh vẽ nàng như thật, đốt hết tập thơ nàng gửi gắm tâm sự khi còn sống  Con người bị đày đọa cả khi chết đi rồi

NX: Cuộc đời của Tiểu Thanh cùng biết

bao người con gái khác như nàng cho thấy: sắc đẹp, tài năng thơ ca, đàn hát là những giá trị tinh thần cao quý Nhưng chủ nhân của những giá trị đó lại phải chịu số phận bất hạnh.

c) Hoàn cảnh sáng tác: tồn tại 2

quan điểm:

- Nguyễn Du trong lần đi sứ, có đi qua Tây Hồ, nghe câu chuyện về Tiểu Thanh

mà cảm khái viết nên bài thơ này

- Nguyễn Du nhân đọc truyện về Tiểu Thanh và phần dư cảo của nàng mà viết tác phẩm

Trang 25

thơ một quyển, chân dung một bức và một

phong thư gửi một phu nhân Vợ cả thấy chồng

đau đớn khóc than, bèn sai người đốt hết thơ, từ

của nàng Nhưng trước khi mất, Tiểu Thanh có

lấy mấy đồ trang sức gói trong hai tờ giấy để

tặng cô con gái bà giúp việc Đó chính là bản

thảo thơ của nàng Về sau, một người họ nhà

chồng sưu tập đem cho khắc in, đặt tên là “Phần

dư” (bị đốt còn sót lại)

GV: theo em, đâu là cảm hứng để thi

nhân sáng tác bài thơ này?

GV: phân tích cặp hình ảnh đối lập trong

“Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư”

+ Xuất hiện các cặp đối lập:

hoa uyển >< khư (quá khứ) >< (hiện tại) (cảnh đẹp) >< (cô quạnh hoang vu)

+ Từ “tẫn” gợi sự đổi thay khốc liệt: vườn hoa Tây Hồ đẹp là thế mà nay đã thay đổi hết, không lưu lại một chút dấu vết nào

Câu thơ là cảm xúc của ND trước sự đổi thay của cuộc đời, trước lẽ đời dâu bể, nhưng mối thương tâm của thi nhân lại đặt

ở nơi cái đẹp bị tàn phá phũ phàng ND xót

xa thương cảm cho cái đẹp, cảnh đẹp một thời, nay đã thành hoang phế, gợi sự khắc nghiệt của bước đi thời gian

- Trong “truyện Kiều”, Thúy Kiều tri

Trang 26

GV: theo em hai câu đề có nội dung gì?

GV: cuộc đời nàng Tiểu Thanh gặp

“Độc điếu song tiền nhất chỉ thư”

+ Chữ “độc” và chữ “nhất” trong chữ Hán đều để chỉ sự cô độc, cũng là nỗi đau, niềm đau

Hai câu đề là sự xúc động của Nguyễn Du trước sự thay đổi phũ phàng của thời gian, cuốn trôi và tàn phá bao nhiêu cái đẹp một thời

- Đời Tiểu Thanh là điển hình của hai

bi kịch, hai nỗi oan lớn: hồng nhan bạc mệnh và tài mệnh tương đố Người đẹp mà bất hạnh, chết yểu Có tài thơ văn như nàng

mà đến chết vẫn còn bị dập vùi Di cảo của Tiểu Thanh chính là di hận:

“Chi phấn hữu thần liên tử hậu Văn chương vô mệnh lụy phần dư”

+ Tác giả vẫn dùng các ẩn dụ quen thuộc:

Son phấn: tượng trưng cho cái đẹp Văn chương: tượng trưng cho tài năng

+ Hai vật thể vô tri vô giác được nhân cách hóa để có “thần”, có “hồn”

- Nếu hiểu son phấn, văn chương là chủ thể tự hận, tự thương thì đưa tới cách cảm nhận: son phấn có thần chắc phải xót

xa vì những việc sau khi chết, văn chương

Trang 27

GV: Từ nỗi oan hờn của Tiểu Thanh, tác

giả đã mở rộng nỗi oan ấy theo chiều

 Dù hiểu theo cách nào thì hai câu thơ cũng là niềm cảm thương trước số phận oan trái của sắc tài, đồng thời là lời khẳng định

sự vĩnh hẳng của cái đẹp và tài năng: cái đẹp có thể tàn về thân xác nhưng cái hồn, cái thần của nó thì “chôn vẫn hận” Cái mệnh của Tiểu Thanh thật ngắn ngủi nhưng cái mệnh văn chương của nàng thì dẫu “đốt còn vương”  Tiếng khóc Tiểu Thanh của nhà đại thi hào đã kết thành từng hạt châu trân trọng, ngưỡng mộ tài năng và sắc đẹp

3 Hai câu luận:

Từ nỗi oan hờn của Tiểu Thanh, tác giả mở rộng ra nỗi oan, nỗi hận của tài hoa, trí tuệ trong trường kì lịch sử:

Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi Cái án phong lưu khách tự mang

Cổ kim: xưa nay  cái hận muôn đời, cái

hận xưa nay, cái hận triền miên, không bao giờ chấm dứt Nó quá lớn, dồn tụ, cô đặc lại như một dấu hỏi treo lơ lửng giữa không trung, khó mà hỏi trời được “thiên nan vấn” “Trời” trong quan niệm của người xưa, là đấng toàn năng, có thể định đoạt mọi việc, có thể biết mọi điều Vậy mà nỗi oán hận kia “khó hỏi trời” chứng tỏ nỗi hận lớn vô cùng,trải dài bất tận qua nhiều kiếp, nhiều đời

- Bên cạnh cái hận là cái “án phong lưu” Khách phong lưu là những người hào

Trang 28

GV: Hai câu kết chuyển ý thật bất ngờ

nhưng không lạc giọng mà vẫn thống

nhất trong mạch cảm xúc Hãy phân tích

điều ấy ?

GV: tại sao Nguyễn Du không đặt câu

hỏi ở hiện tại mà phải ngóng đợi ở tương

lai ? Điều ấy gợi mở cho người đọc câu

trả lời nào cho hiện tại ?

GV: theo em đâu là nét mới trong tư

tưởng nhân đạo của Nguyễn Du qua bài

thơ này ?

hoa, phong nhã, có tài năng (nghệ thuật) Vậy mà khách phong lưu ấy lại khổ, lại mắc nỗi kì oan (nỗi oan lạ lùng)

“ngã”: tôi, ta  khách thể và chủ thể đã nhập làm một  Nguyễn Du tự coi mình là người cùng hội cùng thuyền với những người mắc nỗi oan lạ lùng vì cái nết phong nhã ấy

Bằng sự thể nghiệm của bản thân, Nguyễn Du đã thấu hiểu được nỗi đau oan khuất của Tiểu Thanh Cảm hứng đã chuyển từ thương người sang tự thương

4 Hai câu kết

Hai câu kết chuyển ý thật bất ngờ nhưng không lạc giọng mà vẫn thống nhất trong mạch cảm xúc:

Bất tri tam bách dư niên hậu Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?

Khấp: khóc không thành tiếng, nước mắt

chảy vào trong

Khốc: khóc to thành tiếng

Nguyễn Du muốn thể hiện sự xót thương trong sự lặng lẽ nhưng âm ỉ, dai dẳng

“Ba trăm năm”: Tiểu Thanh sống vào đầu

đời Minh (thế kỉ 15) còn Nguyễn Du sống vào đầu đời Nguyễn (thế kỉ 19) ->Nguyễn

Du cách Tiểu Thanh 300 năm+ Câu hỏi tu từ: không hỏi quá khứ, không hỏi hiện tại mà hỏi tương lai, không hỏi trời

mà hỏi người đời Hỏi ba trăm năm sau trong thiên hạ có ai khóc Tố Như? Với Tiểu Thanh, ba trăm năm sau còn có một Nguyễn Du “thổn thức bên song” trước

“mảnh giấy tàn” Còn với Nguyễn Du, liệu

ba trăm năm sau còn ai khóc Tố Như chăng?

+ Nguyễn Du hỏi tương lai nhưng lại cho ta lời giải đáp với hiện tại Có lẽ trong thời đại

Trang 29

GV: gọi một HS đọc phần Ghi nhớ

của mình, Nguyễn Du luôn cảm thấy bơ vơ, lạc lõng, không ai chia sẻ, không ai hiểu ông Bởi thế thi nhân khắc khoải, hoài vọng

ở tương lai sẽ có kẻ tri âm, có người đời sau khóc người đời nay như chính ông đã khóc Tiểu Thanh

Nguyễn Du vừa khóc người vừa khóc mình Hai tiếng khóc ấy khi hòa nhập làm một, khi tách ra để thương người và tự thương

Cái mới trong tư tưởng nhân đạo của Nguyễn Du:

- ND đã hướng ngòi bút đến những người phụ nữ đẹp, có tài âm nhạc, nghệ thuật văn chương mà bất hạnh Điều này rất

có ý nghĩa vì các nhà văn nhà thơ viết về người phụ nữ có thể quan tâm đến cả những người phụ nữ dưới đáy xã hội (những người đói rách) Nhưng rõ ràng những phụ nữ có tài năng, sắc đẹp, tức là những người đại diện cho giá trị, là tinh hoa của giới phụ nữ

mà số phận bất hạnh vẫn là đối tượng có nhiều vấn đề hơn để nhà thơ quan tâm đến

- ND đã đưa ra tiếng nói tự thương mình Đây là nét mới mang tinh thần nhân bản của thời đại Con người không chỉ ý thức về nhân phẩm, về tài năng cá nhân mà còn thức tỉnh nỗi đau của chính mình

Thương người là sự mênh mang của trái tim nhân đạo Thương mình là sự sâu sắc của tư tưởng nhân văn “Đọc Tiểu Thanh kí” đã hội nhập được cả hai điều đó

III Tổng kết

- Bài thơ là lời kí thác tâm sự của Nguyễn Du, thêm một lần nữa ta bắt gặp trái tim nhân đạo vừa mênh mông vừa sâu thẳm của ông Trái tim ấy không chỉ dành

Ngày đăng: 04/09/2014, 17:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

B. Câu 2: Hình ảnh quân đội nhà Trần - Giáo án văn 10 tập 1 (chuyên)
u 2: Hình ảnh quân đội nhà Trần (Trang 3)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w