Do đó, bệnh có thể bị bỏ qua, nếu không có sổ sách ghi chép tình hình sinh sản của đàn: Bò cái giống cuối cùng cũng loại bỏ được mầm bệnh, thường trong vòng sáu tháng do giao phối lây bệ
Trang 1CHƯƠNG 10
BệNH NHIễM KHUẩN DO GIAO PhốI
Và BệNH NHIễM KHUẩN BẩM SINH
1 Bệnh nhiễm khuẩn do giao phối
1.1 Bệnh do Campylobacteria ở bò
Tên khác Bệnh phẩy khuẩn (Vibriosis), bệnh phẩy khuẩn đường sinh dục (Genital vibriosis)
Định nghĩa Bệnh nhiễm vi khuẩn Campylobacter fetus do giao phối ở bò gây vô sinh tạm thời
và đôi khi sẩy thai
Phân bố địa lý Khắp thế giới.
Triệu chứng lâm sàng Cả gia súc giống đực và cái đều có thể mắc bệnh nhưng triệu chứng
vô sinh tạm thời và đôi khi sẩy thai chỉ có ở gia súc cái Những triệu chứng này là do viêm lớp lót âm đạo và tử cung ở gia súc cái có chửa dẫn tới thai chết sớm và đôi khi làm chậm
động dục trở lại Tuy nhiên, một số con mắc bệnh có thể có chửa nhưng sau đó sẩy thai, thường vào khoảng tháng thứ năm hay thứ sáu, nhưng đôi khi sớm hơn Do đó, bệnh có thể bị
bỏ qua, nếu không có sổ sách ghi chép tình hình sinh sản của đàn:
Bò cái giống cuối cùng cũng loại bỏ được mầm bệnh, thường trong vòng sáu tháng do giao phối lây bệnh rồi khỏi hoàn toàn Những con bò khỏi bệnh này có miễn dịch đối với lần mắc bệnh sau và sinh sản bình thường
Bệnh ở bò đực chỉ hạn chế ở lớp lót bao quy đầu và bề mặt dương vật nhưng không có triệu chứng lâm sàng
Cách lây lan Bệnh lây lan do giao phối hay thụ tinh nhân tạo, nếu dùng tinh của bò đực mắc
bệnh
Điều trị Điều trị rất ít kết quả ở bò cái sinh sản, nhưng do cuối cùng thì vi khuẩn cũng bị loại
bỏ nên thông thường không đặt ra điều trị Tuy nhiên, bò đực mang mầm bệnh suốt đời nên cần thiết phải điều trị để loại hết vi khuẩn ra khỏi cơ thể Một số loại kháng sinh có hiệu quả như streptomycin dùng để tiêm và pha thành dung dịch 50% rửa dương vật và lớp lót bao quy
đầu Tuy nhiên, sau khi được chữa khỏi, bò đực vẫn mẫn cảm và có thể tái nhiễm
Phòng chống Trong đàn đã mắc bệnh chăn nuôi quảng canh, gia súc sinh sản tự do, hiện
tượng vô sinh và sẩy thai rải rác thường chỉ xảy ra ở bò cái sinh sản chưa thành thục và thường không phát hiện ra Bò cái lớn tuổi hơn thường đã nhiễm mầm bệnh từ trước và sinh sản bình thường
Tuy nhiên, trong hệ thống chăn nuôi bò sữa thâm canh, tổn thất do bệnh là đáng kể nên cần
có một số biện pháp khống chế Thụ tinh nhân tạo dùng tinh lấy từ bò đực biết chắc không nhiễm mầm bệnh sẽ làm cho đàn không có bệnh, bởi vì bất kì bò cái mắc bệnh nào cuối cùng
đều khỏi, chắc chắn là vào cuối hai kỳ chừa
Nếu không thụ tinh nhân tạo được, tất cả bò phải được xét nghiệm và quản lý bò nhiễm bệnh
và không nhiễm bệnh thành 2 nhóm tách riêng Phải kiểm tra mọi trường hợp mới bổ xung,
Trang 2cẩn thận để đảm bảo cách ly đúng, lấy mẫu bò đực và bò cái sinh sản để kiểm tra ở phòng thí nghiệm
Vắcxin vô hoạt tương đối khó kiếm và chất lượng thay đổi, những vắc-xin có uy tín có thể tạo miễn dịch khoảng hai năm
Nhận xét Hiện tượng vô sinh và thỉnh thoảng sẩy thai ở bò cái tơ làm giống có thể dễ bị bỏ
qua ở bò chăn nuôi quảng canh nơi gia súc sinh sản tự do Tuy nhiên, bệnh này rất quan trọng nếu yêu cầu sinh sản theo mùa vụ ở những đàn bò sữa có sổ sách ghi chép tốt, mọi trường hợp vô sinh hay thỉnh thoảng sẩy thai phải được phát hiện và khuyến cáo chủ gia súc là đàn
bò của họ có thể mắc bệnh, nhưng việc điều tra tiếp theo và phòng chống phải có giám sát của chuyên môn thú y ở nhiều nước nhờ thụ tinh nhân tạo phát triển, bệnh này không còn là một vấn đề lớn như đã từng là trước đây
1.2 Bệnh Tiêm la (Dourine)
Định nghĩa Bệnh nhiễm khuẩn qua giao phối ở các động vật họ ngựa do nguyên sinh động
vật Trypanosoma equiperdum gây nên
Phân bố địa lý Bệnh này đã được thanh toán ở Bắc Mỹ và hầu hết Tây Âu nhưng còn dai
dẳng ở nhiều nơi của Châu Mỹ Latin, châu Phi và châu á Hiện chưa biết bệnh có xẩy ra ở Việt Nam không, nhưng có báo cáo ở Trung Quốc
Triệu chứng lâm sàng Ngựa đực và cái đều mắc bệnh, tuy nhiên ngựa đực có xu hướng mắc
bệnh nặng hơn Tiêm la thường là một bệnh mạn tính, diễn biến chậm chạp và âm ỉ Triệu chứng đầu tiên là chảy dịch từ âm đạo hoặc bao quy đầu, thường kèm theo sốt nhẹ Bộ phận sinh dục bên ngoài sưng và phù, đôi khi sưng lan rộng xuống mặt dưới bụng Những vết loét thường phát triển ở bộ phận sinh dục bị sưng
Kí sinh trùng gây bệnh thoạt đầu tiên nhiễm vào bộ phận sinh dục, nhưng có thể lan vào hệ tuần hoàn và gây triệu chứng ở những nơi khác của cơ thể Những mảng thuỷ thũng tròn,
đường kính tới 10cm phát triển ở dưới da ở mọi nơi trên cơ thể, nhưng phổ biến nhất là ở hai bên cơ thể Ký sinh trùng có thể xâm nhập vào hệ thần kinh trung ương và gây nên rối loạn vận động và bại liệt
Bệnh tiêm la thường là bệnh gây suy yếu mạn tính, ngựa gầy yếu trong một thời gian dài tới 1 năm trước khi chết, mặc dù một số có thể chết sau một cơn bệnh cấp tính trong vài tuần Mắc bệnh nhưng không có triệu chứng lâm sàng cũng có thể xẩy ra đó là con vật mang trùng suốt
đời
Cách lây lan Bệnh truyền qua giao phối xảy ra kịch liệt nhất khi đưa con vật nhiễm bệnh vào
nhóm ngựa giống không có bệnh Vì bản chất bệnh âm ỉ nên một con đực nhiễm bệnh có thể truyền cho nhiều ngựa cái trước khi bệnh trở nên thấy được
Điều trị Điều trị thường không có hiệu quả Thường chọn tiêm Quinapyramine sulphate mặc
dù có báo cáo điều trị thành công bằng diminazene aceturate Mel.Cy, thuốc chống Trypanosoma khá mới có thể có hiệu lực
Phòng chống Có thể khống chế bệnh tiêm la bằng cách ngăn cách những con làm giống với
con không có bệnh Hiện có xét nghiệm máu (ví dụ phản ứng cố định bổ thể) để phát hiện bệnh và phải kiểm tra trước hết đối với bất cứ con nào nhập vào đàn ngựa làm giống Tuy nhiên, các xét nghiệm này không thể phân biệt bệnh tiêm la với bệnh tiên mao trùng, một bệnh phổ biến ở Việt Nam
Trang 3Có thể thanh toán được bệnh tiêm la bằng xét nghiệm tất cả ngựa và loại thải, giết mổ hay thiến những con dương tính Biện pháp này đòi hỏi kinh phí và trình độ tổ chức cao nhưng việc thanh toán là khả thi và đã thành công ở Bắc Mỹ và hầu hết các nước Tây Âu
Nhận xét ở nhiều nơi trên thế giới, ngựa và lừa sinh sản tự do, bệnh giang mai có thể là dịch
địa phương ở mức độ thấp, có thể không phát hiện được Tuy nhiên, nến nghi ngờ thì xác chẩn cũng khó và những cố gắng phân lập ký sinh trùng từ con ốm thường không thành công Hiện tại nếu thực hiện được thì phương pháp cố định bổ thể là phương pháp tin cậy nhất để xác định bệnh
1.3 Bệnh viêm bọc mủ âm đạo âm hộ truyền nhiễm (Infectious pustular vulvo
-vaginitis, IPV).
Tên khác Phát ban do giao phối (Coital exanthema)
Định nghĩa Bệnh nhiễm khuẩn do giao phối của bò và trâu do herpesvirus có quan hệ gần gũi
với vi-rút gây bệnh viêm khí quản-mũi truyền nhiễm ở bò (Infectious bovine rhinotracheitis)
Phân bố địa lý Khắp thế giới
Triệu chứng lâm sàng ở bò mắc bệnh, âm đạo đau, đỏ, sưng và có những bọc mủ nhỏ, có thể
liên kết làm chảy dịch mầu hơi vàng Những tổn thương tương tự phát triển ở bao quy đầu và
đầu dương vật bò đực mắc bệnh nên những con bò này ngại giao phối
Triệu chứng lâm sàng kéo dài một vài ngày, trong thời gian đó con vật sốt và bỏ ăn Con vật khỏi bệnh hoàn toàn trong vòng khoảng hai tuần nhưng vẫn mang mầm bệnh và có thể tái phát nếu bị stress ở một số bò đực, hiện tượng dính ở bộ phân sinh dục ngoài gây nên không thể giao phối vĩnh viễn
Cách lây lan Thường do giao phối nhưng đôi khi do thụ tinh nhân tạo nếu tinh dịch nhiễm
vi-rút
Điều trị Không có điều trị đặc hiệu, nhưng có thể điều trị triệu chứng cho những con mắc
bệnh
Phòng chống Không được dùng bò mắc bệnh để sinh sản cho tới khi con vật khỏi hẳn
Nhận xét Nhiễm vi-rút này có vẻ ở khắp nơi nhưng bệnh rất ít được báo cáo, có thể do những
con mắc bệnh có triệu chứng lâm sàng thường khỏi nhanh chóng hoàn toàn
1.4 Bệnh do trùng roi âm đạo (Trichomonosis)
Định nghĩa Bệnh nhiễm nguyên sinh động vật do giao phối do Trichomonas foetus
Phân bố địa lý ở khắp nơi trên thế giới
Triệu chứng lâm sàng Nhiễm T foetus ở bò chỉ giới hạn ở đường sinh dục Bò đực nhiễm
mầm bệnh chỉ bị viêm nhẹ ở bề mặt dương vật và bao quy đầu nhưng mang mầm bệnh vĩnh viễn
Ngược lại, bò cái nhiễm bệnh có thể có những hậu quả nghiêm trọng Một thời gian ngắn sau khi giao phối nhiễm mầm bệnh, âm đạo hơi đỏ, nhưng tác hại chính phát triển gần hai tháng sau Vi sinh vật xâm nhập vào hầu hết đường sinh dục làm đường sinh dục viêm nặng gây sẩy thai sớm (2-4 tháng) và đôi khi tích mủ trong tử cung (chứng tử cung hoá mủ-pyometra)
Trang 4sau khoảng 4-5 tháng Thông thường trong vòng sáu tháng kể từ khi nhiễm mầm bệnh, tử cung không còn Trichomonas nữa và trở lại bình thường, mặc dù bò cái khỏi bệnh vẫn mẫn cảm khi bị tái nhiễm Tuy nhiên, trường hợp từ cung tích mủ có thể kéo dài lâu hơn nhiều và không con nào động dục trở lại
Cách lây lan Mầm bệnh thường nhiễm do giao phối, nhưng cũng có thể do thụ tinh nhân tạo
dùng tinh dịch của bò đã nhiễm mầm bệnh, hoặc do dụng cụ dẫn tinh hay tay người chăn nuôi nhiễm mầm bệnh
Điều trị Không cần điều trị bò cái vì thông thường thế nào chúng cũng khỏi bệnh Đã thử
nhiều cách điều trị khác nhau cho bò đực mắc bệnh cho kết quả khác nhau Điều trị bên ngoài bằng thụt rửa bao quy đầu và dương vật bây giờ không còn ưa dùng mà phần lớn thay bằng cho uống hay tiêm thuốc chống diệt trùng roi đặc hiệu Một số thuốc có thể gây nên tác dụng phụ nên việc điều trị phải tiến hành dưới giám sát của thú y chuyên môn
Phòng chống ở đàn bò không có bệnh, có thể phòng bệnh bằng cách chỉ dùng bò không bệnh
cho sinh sản hay dùng thụ tinh nhân tạo bằng tinh dịch của bò biết chắc chắn là không có bệnh
Nếu đàn bò nhiễm mầm bệnh, điểm then chốt khống chế bệnh là xác định con nhiễm bệnh bằng xét nghiệm dịch âm đạo và chất nạo bao quy đầu của bò giống Không dùng bò cái nhiễm mầm bệnh để sinh sản trong vài tháng để loại bỏ mầm bệnh, bò đực có thể điều trị hay loại thải Tuy nhiên, biện pháp này chỉ có thể thực hiện ở đàn nuôi nhốt hoặc đàn quản lý chặt chẽ Trong chăn thả quảng canh, biện pháp có thể chấp nhận là chỉ sử dụng bò đực không có bệnh dưới bốn tuổi để sinh sản, vì bò đực lớn hơn có nhiều khả năng nhiễm mầm bệnh hơn và gây ra nhiễm mầm bệnh dai dẳng trong đàn
Nhận xét Những biện pháp nêu lên ở trên thực tế đã thanh toán bệnh trùng roi âm đạo ở bò
trong chăn nuôi tập trung Tuy nhiên, bất cứ khi nào trong đàn bò có lịch sử vô sinh và thỉnh thoảng sẩy thai đều phải nghi là bệnh trùng roi âm đạo Điều tra bệnh này và triển khai chương trình khống chế bệnh là ngoài khả năng của người chăn nuôi và người chăn nuôi nên cần có sự giúp đỡ của chuyên môn thú y
2 Bệnh nhiễm trùng bẩm sinh
2.1 Bệnh dịch nhầy (Mucosal disease)
Tên khác Bệnh ỉa chảy do vi-rút ở bò (Bovine virus diarrhoea).
Định nghĩa Bệnh nhiễm pestivirus của bò non từ bò mẹ trong thời gian mang thai.
Phân bố địa lý Khắp thế giới
Triệu chứng lâm sàng Bệnh dịch nhầy phát triển ở bê, thường giữa 6 tháng - 2 năm tuổi
Vi-rút gây bào mòn bề mặt niêm mạc toàn bộ đường tiêu hoá gây ra bệnh cảnh lâm sàng giống như với bệnh dịch tả trâu bò, tức là sốt, ủ rũ, thở nhanh, tổn thương ở miệng và mõm bò, ỉa chảy phân thối khắm có những mảnh màng ruột, dịch nhầy và máu Tổn thương ở miệng và mõm bao gồm các vết loét nông ở môi, lợi, vòm miệng, lưỡi và mõm, tổn thương này lan rộng, hợp lại với nhau và đóng vảy, có lớp hoại tử Các triệu chứng khác có thể xẩy ra như chảy nước mũi, chảy nhiều nước mắt và què do da kẽ ngón chân và gờ móng bị bào mòn và viêm Bò mắc bệnh rất ủ rũ, mất nước và thường chết khoảng 1 tuần , một sốít sống dai dẳng tới hàng tuần và thậm chí hàng tháng trước khi chết
Cách lây lan Dịch tễ học của bệnh này phức tạp và chưa biết được đầy đủ, nhưng có bằng
chứng là nhiễm vi-rút này lan rộng ở bò Nhiễm bệnh ngoài thời kì chửa gây bệnh cấp tính
Trang 5nhưng nhẹ và thường không rõ gồm sốt nhẹ và ỉa chảy nên gọi là “Bệnh ỉa chảy do vi-rút ở bò” Con vật mắc bệnh khỏi trong một vài ngày, sinh kháng thể chống lại vi-rút và thải hết mầm bệnh
Nhiễm mầm bệnh lần đầu ở bò mẹ đang chửa có thể gây ra truyền vi-rút qua nhau thai tới bào thai và hậu quả phụ thuộc vào giai đoạn mang thai như sau:
Chửa dưới 125 ngày Bò mẹ đẻ ra bê nhiễm mầm bệnh suốt đời, hệ thống miễn dịch của bê không phân biệt được vi-rút là vi sinh vật lạ nên không sinh ra kháng thể chống lại vi-rút Khoảng một nửa số bê này phát bệnh Dịch nhầy vào hai năm tuổi khi nhiễm các chủng vi-rút
có độc lực quan hệ gần gũi với vi-rút mà hệ thống miễn dịch của bê không nhận ra là vi sinh vật lạ Kết quả là sự nhiễm sau này làm bùng phát và gây nên bệnh dịch nhầy Tuy nhiên, không phải tất cả bê có kháng thể âm tính này đều phát bệnh dịch nhầy, một số chỉ chậm lớn, trong khi một số khác bình thường về lâm sàng nhưng đẻ ra bé nhiễm mầm bệnh suốt đời Chửa từ 125 - 180 ngày Nhiễm bệnh ở giai đoạn này gây dị dạng cho não và mắt trong bào thai và đẻ ra bê đi đứng không bình thường và mù ở những mức độ khác nhau
Chửa trên 180 ngày Vào giai đoạn này hệ thống miễn dịch của bào thai đã phát triển đầy đủ
để sinh kháng thể chống lại vi-rút và loại bỏ mầm bệnh Những bê như vậy bình thường về mặt lâm sàng khi đẻ ra và có kháng thể chống lại vi-rút
Ngoài những điều nêu trên, nhiễm mầm bệnh trong bất cứ giai đoạn mang thai nào đều có thể dẫn tới sẩy thai Vi-rút không sống sót được bên ngoài cơ thể bò và con vật nhiễm mầm bệnh bẩm sinh dai dẳng là nguồn nhiễm bệnh chủ yếu
Điều trị Không có điều trị bệnh Dịch nhầy
Phòng chống Trong một đàn bò nhiễm bệnh, có thể xẩy ra ba loại:
Bò có kháng thể dương tính Những con vật này không còn nhiễm mầm bệnh nữa nhưng đã sinh kháng thể chống lại vi-rút
Bò không nhiễm bệnh Bò chưa bao giờ nhiễm bệnh và không có kháng thể
Bò nhiễm mầm bệnh nhưng hháng thể âm tính Bò nhiễm mầm bệnh dai dăng do bẩm sinh và không có kháng thể
Loại cuối cùng này là nguồn lây bệnh chủ yếu và trong chương trình khống chế bệnh, có lẽ loại thải con nhiễm mầm bệnh khỏi đàn nếu số lượng không nhiều là thích hợp Những bò này có thể phát hiện bằng các xét nghiệm máu cả đàn để phát hiện sự có mặt hay không có mặt của mầm bệnh hoặc kháng thể
Mặt khác những biện pháp khống chế bệnh phải tập trung vào bò cái sinh sản vì chúng là
động vật duy nhất có nguy cơ lây nhiễm Hiện có vắc-xin sống và vô hoạt, bò cái sinh sản phải tiêm phòng tối thiểu ba tuần trước khi phối giống để đảm bảo chúng đã được miễn dịch trước khi bắt đầu có chửa Vắc-xin sống có hiệu lực hơn nhưng nếu dùng cho bò chửa có nguy cơ vi-rút vắc-xin sẽ qua nhau thai vào bào thai và gây nên bệnh dịch nhầy Vắc-xin vô hoạt an toàn nhưng phải tiêm hai lần cách nhau khoảng hai tuần mới có tác dụng
Nhận xét Bệnh dịch nhầy chỉ là một biểu hiện của nhiễm mầm bệnh phức hợp May mắn là
mặc dù bệnh này có ở khắp nơi nhưng chỉ có một tỷ lệ nhỏ bò nhiễm bệnh lần đầu trong nừa
đầu thời gian mang thai và chỉ khoảng một nừa số bê nhiễm bệnh bẩm sinh là phát triển bệnh Dịch nhầy Do đó bệnh biểu hiện là một bệnh xẩy ra rải rác nhưng gây chết, nhiều chủ trại chịu tổn thất còn hơn là triển khai chương trình khống chế bệnh phức tạp và tốn kém đòi hỏi giám sát của thú y
Trang 6Hình 10.1 Bệnh ỉa chảy do vi-rút ở bò:
vết mòn ở lợi và bệnh tích hoại tử màu trắng hơi vàng ở mặt lưỡi.
Hình 10.2 Bệnh ỉa chảy do Vi-rút ở bò:
chảy nước mũi có dịch nhầy.
2.2 Bệnh viêm khí quản - mũi truyền nhiễm ở bò (Infectious bovine rhinotracheitis-IBR)
Tên khác Bệnh mũi đỏ (Red nose); bệnh nhiễm herpesvirus – 1 của bò (Borvine herpesvirus
-1 infection)
Định nghĩa Bệnh nhiễm herpesvirus của bò và trâu nhà gây nên bệnh về hô hấp và sinh dục Phân bố địa lý Bệnh xẩy ra ở khắp nơi trên thế giới, đặc biệt thấy ở Bắc Mỹ, châu Âu, úc và
Nam Phi
Trang 7Triệu chứng lâm sàng Mọi lứa tuổi đều mẫn cảm, nhưng bệnh thường thấy ở bò 6 tháng tuổi
hoặc hơn Bệnh gây viêm ở đường hô hấp trên từ niêm mạc mũi đến ống phổi (khí quản) Trường hợp bệnh nhẹ có sốt nhẹ, viêm ở niêm mạc mũi (viêm mũi) và bề mặt mắt (viêm kết mạc); chúng thường khỏi trong vòng vài ngày Trường hợp nặng hơn, viêm lan xuống khí quản, sốt cao hơn và chảy nhiều nước mắt và nước mũi đặc, chúng phổ biến bị nhiễm khuẩn
kế phát gây nên viêm phổi
Nhiễm mầm bệnh ở bò cái chửa có thể gây sẩy thai, thường vào khoảng tháng chửa thứ 6 Thai sảy thường thấy đã chết được vài ngày và có biểu hiện tự phân huỷ (tự phân giải) Nếu nhiễm mầm bệnh vào cuối kỳ chửa, thai có thể sống sót, đẻ ra còn sống nhưng bị bệnh toàn thân nặng liên quan tới não, đường hô hấp, tiêu hoá, gan và thận Sốbê này thường chết ngay sau khi đẻ
Cách lây lan Nguồn nhiễm bệnh duy nhất là thai, nhau và dịch sẩy thai của các con ốm có
triệu chứng lâm sàng Những con mắc bệnh về hô hấp thải vi-rút từ mắt và mũi, bệnh lây lan sang bò tiếp xúc qua bọt không khí Bò đực nhiễm bệnh thải vi-rút vào tinh dịch truyền bệnh qua giao phối cho bò cái sinh sản
Một mặt quan trọng của bệnh IBR là bò khỏi bệnh tiếp tục chứa vi-rút và có thể măc bệnh trở lại sau này Do đó tất cả bò khỏi bệnh phải coi là một nguồn có thể gây nhiễm
Điều trị Do nguy cơ bội nhiễm vi khuẩn nên các ca bệnh phải điều trị bằng các khang sinh có
kháng phổ rộng
Bệnh có thể phòng được không? Hầu hết bò khỏi bệnh IBR và điều trị bằng kháng sinh phải
đảm bảo sự tổn thất do bệnh đường hô hấp ở mức tối thiểu Tuy nhiên những tổn thất lớn nhất
là do sẩy thai và bê đẻ ra mắc bệnh Cần xem xét việc tiêm phòng cho bò phối giống có thể tiêm bắp hay giỏ mũi vắc-xin sống, việc phòng bệnh bằng giỏ mũi an toàn cho bò đang có chửa
Nhận xét IBR không có thể thành một vấn để đáng kể cho trâu bò chăn nuôi quảng canh
nhưng lại là một bệnh quan trọng khi nuôi nhốt Bệnh hô hấp quan trọng ở bò thịt do tốn nhiều thức ăn còn tổn thất do sẩy thai và bê sơ sinh mắc bệnh còn đáng kể hơn ở các trại bò sữa Nếu yêu cầu có một chương trình phòng bệnh thì tìm sự hướng dẫn của thú y về dùng vắc-xin, điều trị, chăm sóc những ca mắc bệnh và quản lý bò mới nhập đàn
Vi-rút này phổ biến trên khắp thế giới ở loài nhai lại nuôi và hoang dã, bệnh IBR vì vậy có thể xẩy ra ở bò chăn nuôi tập trung Bệnh này cũng xẩy ra ở trâu nhà
Hình 10.3 Bệnh viêm mũi – khí quản nhiễm trùng ở bò:
Trang 8H×nh 10.4 BÖnh viªm mòi – khÝ qu¶n nhiÔm trïng ë bß:
s−ng (phï) mi m¸t vµ ch¶y n−íc m¾t.