ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂNKHOA XÃ HỘI HỌC TIỂU LUẬN GIỮA KỲ Môn: CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM Đề tài: THUYẾT ĐỘNG NĂNG TÂM LÝ VỚI NHÓM TRẺ EM LAN
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA XÃ HỘI HỌC
TIỂU LUẬN GIỮA
KỲ
Môn: CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM
Đề tài: THUYẾT ĐỘNG NĂNG TÂM LÝ VỚI NHÓM
TRẺ EM LANG THANG ĐƯỜNG PHỐ
Giảng viên: TS Đỗ Thị Ngọc Phương Học viên : Nguyễn Dạ Đan Trang Lớp : CTXH 1
Khóa : QH - 2012 - X
Hà Nội, tháng 01 năm 2013
Trang 2“ Trong đêm một bàn chân bước, bé xíu lang thang trên đường… emrất buồn vì em không biết đi, đi về đâu! Cuộc sống mưu sinh, chỉ làm em quacơn đói từng ngày, vì em không cha, vì em
đã mất mẹ…”
Chắc hẳn không ai trong chúng ta khi
nghe bài hát “ Đứa bé” của nhạc sỹ Minh
Khang lại không chạnh lòng nghĩ đến số
phận của những đứa trẻ lang thang Còn rất
nhiều trẻ em phải mưu sinh từ nhỏ, tự nuôi
sống bản thân mình Cuộc sống thường nhật
ồn ã là thế, vội vã là thế, và, mỗi người trong chúng ta đều có thể dễ dàng đểvụt trôi qua một ngày trong quỹ thời gian của mình một cách lãng phí như chỉđể ngủ, mua sắm hay lang thang “ internet”… và đấy có chăng cũng chỉ làmột ngày của những con người nhàn rỗi, giàu có… Thế nhưng, một ngày củanhững đứa trẻ mà bài tiểu luận sau đây sắp đề cập đến thì lại là cả một chặngđường mưu sinh đầy khó khăn, gian khổ của những người lao động nghèokhó, những đứa trẻ “ đường phố”- trẻ em lang thang, cơ nhỡ- để kiếm kế sinhnhai…
Thuyết động năng tâm lý cũng là một thành công vang dội nằm trongthuyết phân tâm của tác giả người Áo- S.S Freud, đề cập đến những trảinghiệm thời thơ ấu dẫn đến những hành vi, suy nghĩ và tình cảm hiện tại
Trước thực trạng nhức nhối của vấn nạn trẻ em lang thang ngày càngtăng, những hậu quả nặng nề mà các em gánh chịu nhưng lại chưa có một hệthống hay mô hình hỗ trợ, trị liệu phù hợp nên em xin chọn đề tài vận dụnglý thuyết Động năng tâm lý của S.S.Freud trong Công tác xã hội nhóm với trẻ
em lang thang đường phố
Bài viết chắc chắn còn nhiều thiếu sót, em rất mong nhận được ý kiếnđóng góp của giảng viên
Trang 3Em xin chân thành cảm ơn!
I CÁC KHÁI NIỆM
1 Công tác xã hội nhóm:
Công tác xã hội nhóm là phương pháp công tác xã hội nhằm giúp tăngcường, củng cố chức năng xã hội của các các nhân thông qua hoạt động nhómvà khả năng ứng phó với các vấn đề của cá nhân, có nghĩa là:
- Ứng dụng những kiến thức, kỹ năng liên quan đến tâm lý nhóm ( hoặcnăng động nhóm)
- Nhóm nhỏ thân chủ có cùng vấn đề giống nhau hoặc có liên quan đếnvấn đề đó
- Các mục tiêu xã hội được thiếp lập bởi nhân viên xã hội trong kế hoạchhỗ trợ thân chủ ( cá nhân, nhóm, cộng đồng) thay đổi hành vi, thái độ,niềm tin nhằm giúp thân chủ tăng cường năng lực đối phó, chức năngxã hội thông qua các kinh nghiệm của nhóm có mục đích nhằm để giảiquyết vấn đề của mình và thỏa mãn nhu cầu
Ví dụ: Nhóm trẻ đá bóng của lớp học tình thương, nhóm phụ nữ bị bạohành, nhóm trẻ em vi phạm pháp luật…
2 Thuyết Động năng tâm ly
2.1 Đôi điều về tác giả S.S Freud
Lý thuyết Động năng tâm lý có nhiều tác giả như S Freud, Woods,Hollis nhưng học giả đầu tiên và quan trọng nhất phải nhắc đến nhà tâm lýhọc nổi tiếng S Freud Ông là người đã phát triển thuyết Phân tâm học- nội
Trang 4dung quan trọng trong thuyết “ Động năng tâm lý” Lý thuyết của ông nhấnmạnh đến yếu tố vô thức ở con người
Thuyết ảnh hưởng nhiều đến lý thuyết công tác xã hội qua 3 giai đoạn:trước năm 1920 ở Hoa kỳ, cuối những năm 1930 ở Anh và đến những năm
1960 là giai đoạn nổi bật nhất
Sigmund Freud (tên đầy đủ là
Sigmund Schlomo Freud (1856- 1939),
nguyên là một bác sĩ về thần kinh và tâm lý
người Áo.Ông là cha đẻ của Phân tâm cổ
điển Theo học trường y khoa, ông chuyên
về thần kinh học và đã học được một năm
tại Paris với Jean- Martin Charcot, ông chịu ảnh hưởng bởi 2 nhà thôi mienAmbroise- August Liebault và Hyppolyte- Marie Bernheim khi cả 2 ngườinày đều tham gia giảng dạy ông tại Pháp
Sau khi học
xong, ông quay trở về
Vienna, nơi mà ông
sống hầu hết thời gian
trong cuộc đời của
mình, và bắt đầu công
việc lâm sàng với những bệnh nhân Hysteria- một loại bệnh loạn thần tâm cănhay còn gọi là bệnh cuồng loạn Vào khoảng từ năm 1887 đến 1897, côngviệc của ông với những bệnh nhân này dẫn đến việc phát triển phân tâm học.Ông mất năm 1939 tại Luân Đôn
Ông được công nhận là người đặt nền móng và phát triển lĩnh vựcnghiên cứu vềphân tâm học Cho đến ngày nay mặc dù lý thuyết về phân tâm
Trang 5của các phương pháp phân tâm học của ông với các phương pháp điều trịkhác, nhưng cũng phải thừa nhận rằng ông là một nhà tư tưởng có ảnh hưởnglớn trongthế kỷ XX.
Trang 63 Trẻ em lang thang
Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dụctrẻ em năm 2004 thì trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được hiểu là trẻ em có hoàncảnh không bình thường về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện đểthực hiện quyền cơ bản và hoà nhập với gia đình, cộng đồng Từ định nghĩanày, Điều 40 đã quy định: “Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt bao gồm trẻ em mồcôi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi; trẻ em khuyết tật, tàn tật; trẻ em lànạn nhân của chất độc hoá học; trẻ em nhiễm HIV/AIDS; trẻ em phải làmviệc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại; trẻ em phải làm việc xagia đình; trẻ em lang thang; trẻ em bị xâm hại tình dục; trẻ em nghiện ma tuý;trẻ em vi phạm pháp luật” Theo đó:
* Trẻ em lang thang là trẻ em rời bỏ gia đình, tự kiếm sống, nơi kiếmsống và nơi cư trú không ổn định; trẻ em cùng với gia đình đi lang thang
Trang 7Trẻ em đường phố, hay trẻ bụi đời, trẻ em lang thang là những đứatrẻ sống trên cácđường phố của một thành phố Chúng hoàn toàn không có sựchăm sóc và bảo vệ của gia đình Đa số trẻ em trên các đường phố nằm trongkhoảng từ 5 đến 17 tuổi, và số lượng của chúng trong các thành phố có sựkhác biệt Trẻ em đường phố sống trong các toà nhà bỏ hoang, các hộp cáctông,công viên hay trên chính đường phố Đã có nhiều nỗ lực được viết ra đểđịnh nghĩa trẻ em đường phố, nhưng khó khăn lớn nhất là không có các tiêuchí chính xác, mà là một sự liên tục, giữa những đứa trẻ thỉnh thoảng ở trêncác con phố và ngủ trong một ngôi nhà với những người cha mẹ không quantâm, với những đứa trẻ sống hoàn toàn trên các đường phố và không có sựchăm sóc hay giám sát của người lớn.
Trang 8Một bộ định nghĩa được chấp nhận rộng rãi, thường được cho làcủaUNICEF, phân chia trẻ em đường phố theo hai tiêu chí chính:
1. Trẻ em đường phố là những đứa trẻ tham gia vào một số hoạt độngkinh tế từ ăn xintới bán dạo Đa số về nhà vào cuối ngày và góp phầnkiếm được của mình cho gia đình Chúng có thể đến trường và vẫn cócảm giác thuộc về một gia đình Bởi sự mong manh kinh tế của giađình, nhưng đứa trẻ đó có thể cuối cùng sẽ lựa chọn một cuộc sốngthường xuyên trên đường phố
2. Trẻ em đường phố thực tế sống trên
đường phố (hay bên ngoài một môi
trường gia đình bình thường) Các mối
quan hệ gia đình có thể hiện diện
nhưng mong manh và chỉ được duy trì
không thường xuyên
(nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/Trẻ_em_đường_phố )
II NỘI DUNG THUYẾT ĐỘNG NĂNG TÂM LÝ- ƯU ĐIỂM, NHƯỢC ĐIỂM CỦA THUYẾT
1 Nội dung của thuyết Động năng tâm ly
Khi xem xét sự phát triển nhân cách của con người, S.Freud cho rằngcó hai động cơ chính thúc đẩy những suy nghĩ, tình cảm và hành vi của conngười, đó là tính dục và sự hung tính
Tính dục được coi là động cơ chính thúc đẩy các hoạt động nhằm thỏamãn, đảm bảo đáp ứng những nhu cầu của con người, còn hung tính được coi
Trang 9như cách con người bảo vệ mình khỏi những tác nhân gây hại cho sự pháttriển.
2 Những vấn đề quan trọng được đề cập đến trong ly thuyết động năng tâm ly của S Freud
2.1 Bản năng
Ông cho rằng con người được sinh ra với những bản năng thuộc về vôthức Nó bao gồm bản năng sống và bản năng chết
Bản năng sống: Là sự đói khát, là tình dục
Bản năng chết: Là những bản năng hướng tới sự phá bỏ, tiêu diệt cuộcsống Những hành vi gây thương tích, tự hủy hoại bản thân ở con người.Những hành vi hung tính, sự nóng giận cũng là bản năng chết của con người
2.2 Cấu trúc nhân cách
S Freus cho rằng cấu trúc nhân cách bao gồm 3 cấu thành: Đó là cáiNó/ Cái ấy (Id), Cái tôi (Ego) và cái siêu tôi ( Super Ego) Các cấu trúc nàyđược hình thành và phát triển dần tới khi con người được 5 tuổi
• Cái ấy (Id): Hệ thống này bao gồm những bản năng vô thức và thúc đấycon người thỏa mãn những mong muốn mà không tính đến các nguyêntắc xã hội, các quy định, các chuẩn mực đạo đức mà xã hội đề ra
• Cái tôi (Ego): Được hoạt động, điều chỉnh ( kiểm soát) bởi thực tiễn thếgiới xung quanh
• Cái siêu tôi ( Super Ego): bao gồm ý thức và đạo đức, chuẩn mực đạođức, lương tâm con người
Trang 10Cả ba cấu thành trên được tập hợp trong một con người và chúng quyđịnh, ảnh hưởng lẫn nhau Cái nó hoạt động theo nguyên tắc thỏa mãn Cái tôitheo nguyên tắc thực tiễn và cái siêu thôi hoạt động theo nguyên tắc kiểmduyệt Sự mâu thuẫn tồn tại giữa cái Ấy và cái Siêu tôi dễ làm cho con ngườirơi vào trạng thái căng thẳng Để giúp cho con người có thể thoát khỏi tìnhtrạng này, S Freud cho rằng cần có những cơ chế tự vệ để đảm bảo tạo ra sựcân bằng trong tâm lý của con người.
2.3 Các cơ chế tự vê
- Sự dồn nén: Kiềm chế những lo lắng lại, che giấu không để lộ ra bên ngoài
- Sự phóng chiếu: Chuyển những cảm xúc của mình lên người khác ( Tâm
sự)
- Sự chối bỏ: từ chối, không chấp nhận những lo lắng, sợ hãi đang tồn tại
trong bản thân
- Sự thoái bộ: thoái lui về giai đoạn trước, có những hành vi thuộc lứa tuổi
trước đó (hiện tượng trẻ con hóa, ngây ngô)
- Sự tạo lập hành động ( phản ứng): Chuyển những cảm xúc ( lo âu, muộn
phiền, tức giận ) thành hành động Ví dụ: Lo lắng trước kì thi -> chăm chỉ
ôn bài…
- Sự thăng hoa: chuyển lo âu, sợ hãi thành các sản phẩm có ích cho xã hội
( thất tình- làm thơ của nhà thơ Xuân Diệu, Trần Quốc Tuấn tức giận vì đấtnước bị xâm lăng- viết Hịch tướng sĩ…)
- Sự mơ mộng: thỏa mãn những mong muốn trong giấc mơ.
2.4 Quá trình phát triển nhân cách
Trang 11S Freud cho rằng tâm lý con người phát triển qua các giai đoạn khácnhau sau đây:
- Giai đoạn môi miệng ( Oral stage): Từ khi sinh ra cho đến1,5 tuổi Sự
thỏa mãn được thực hiện qua ăn uống, mút, bú mẹ Nếu đứa trẻ trong thời
kỳ này không được thỏa mãn nhu cầu này thì nó sẽ có những cảm giác tiêucực như tự ti, lo âu về sự an toàn của những giai đoạn sau trong cuộc đời
- Giai đoạn hậu môn ( Anal stage): Từ 1.5-3 tuổi Sự thỏa mãn được thực
hiện qua sự đi đại tiện, tiểu tiện Thời kỳ này trẻ bắt đầu học cách kiểmsoát cơ thể và môi trường xung quanh qua việc quy định vệ sinh và cáchoạt động giáo dục khác
- Giai đoạn dương vật ( Phallic stage): Từ 3-5 tuổi Trong giai đoạn này có
3 mặt phát triển chính: hứng thú tình dục ,phát triển cái siêu tôi, mở rộngphạm vi quá trình bảo vệ cái tôi
- Giai đoạn tiểm ẩn (Latance stage): Từ 5 tuổi trở lên đến tuổi vị thành
niên Lúc này trẻ học cách thăng hoa tình yêu với bố mẹ và những ngườixung quanh, nó được thể hiện bằng sự tôn kính
- Giai đoạn cơ quan sinh dục ngoài ( Genital stage): Là giai đoạn tuổi
thanh niên và sang tuổi trưởng thành, lúc này cá nhân đã có thể nhận thứcvà ý thức hành vi ở người lớn
3 Ưu điểm, nhược điểm của thuyết Động năng tâm ly khi vận dụng vào công tác xã hội nhóm
3.1 Ưu điểm
- Đóng góp to lớn của S.S Freud là đưa ra giả thuyết về vô thức, tiểm thức,là những mặt quan trọng trong đời sống tâm lý của con người Để thấy
Trang 12rằng trong hoạt động nhóm, các cá nhân đều có những quá khứ riêng biệtvà người nhân viên xã hội cần hiểu cũng như tôn trọng quá khứ đó.
- Ông đưa ra một số cơ chế tâm lý như tự vệ, dồn nén, các mặc cảm, đồngnhất hóa, các giai đoạn phát triển nhân cách Phương pháp giải tỏa tâm lýcủa ông đã được sử dụng rộng rãi và hiệu quả trong các bệnh viện tâmthần và trong nhóm, đặc biệt là nhóm trị liệu
- Freud đã đưa ra một lí thuyết trọn vẹn về nhân cách, nó đầy đủ và chophép giải quyết nhiều vấn đề tâm lý có ứng dụng thực tế mà đến nay vẫncòn được sử dụng
- Ông cũng đề cao vai trò giáo dục trong gia đình Ngay từ khi còn bé, sựgiáo dục của những người thân thiết với đứa trẻ sẽ quyết định tính cáchcủa chúng sau này Tuy không hoàn toàn chính xác nhưng cũng là mộtđiểm khiến cho các bậc phụ huynh phải quan tâm
- Ông còn được đánh giá cao khi là người đã khám phá ra một lĩnh vựcnghiên cứu mới của tâm lý học: Vô thức
- Có công lớn trong việc nghiên cứu động lực hành vi của con người làđộng cơ vô thức Vấn đề các động cơ bị che giấu của bệnh nhân trong lâmsàng và ý nghĩa của nhân tố này đối với các nhà lâm sàng
3.2 Nhược điểm
- Do quá nhấn mạnh đến mặt vô thức trong con người ngay từ khi mới sinh,ông đã không thấy được mặt bản chất trong ý thức của con người, khôngthấy được bản chất xã hội- lịch sử của các hiện tượng tâm lý người Hạthấp vai trò của ý thức, không coi ý thức là đối tượng của tâm lý học
Trang 13- Con người trong thuyết của ông là con người cơ thể, con người sinh vật bịphân ly ra thành nhiều mảng, con người với những mong muốn chủ yếu làthỏa mãn những đam mê tính dục, đối lập với xã hội
- Ông cũng quá chú trọng đến vai trò giáo dục của gia đình ( mà ở đây quantrọng nhất là cha mẹ) mà không quan tâm đến yếu tố môi trường xã hội, khíchất, tính cách của cá nhân đó Đặc biệt trong một nhóm, các cá nhân cònche giấu bản thân mình, ít bộc lộ bản thân mình nhiều hơn
- Theo những nhà tâm thần học thì họ không phủ nhận học thuyết của Freudtrong việc chữa trị những căn bệnh tâm lý phức tạp, vì một mặt họ vẫn vậndụng những khái niệm, phương pháp của Freud để chữa bệnh, nhưng họphải tìm cho ra cơ sở vật chất, thương tổn gây ra bệnh, có khi còn phải vậndụng cả những phát minh vật lý, hóa học…để phát hiện nguyên nhân vàcách chữa trị, họ không chấp nhận quan điểm tâm lý đơn thuần, chỉ biếtđến những cơ cấu và cơ chế tâm lý, bỏ quên mất sinh lý
- Freud là một nhà tâm thần học của thế kỷ 19 cho nên học thuyết của ông có
2 tính chất:
+ Tính máy móc: Muốn đithẳng từ nguyên nhân đến kết quả với conđường nhân quả 1 chiều
+ Tính nhị nguyên đối lập Tâm và Thể
Bệnh án gốc của Freud là một ca Hysteria được chữa bằng thôi mien.Tring một buổi thôi miên bệnh nhân sống lại một sự cố từ thời bé, đã quên từlâu
Bệnh án gốc của Freud là một ca hystêri được chữa bằng thôi miên.Trong một buổi thôi miên bệnh nhân sống lại một sự cố từ thời bé, đã quên từlâu, sống lại với cảm xúc sôi động và sau đó chứng bệnh đã giảm hẳn Từ đóFreud đề xuất ra quan niệm về vô thức, khái niệm trấn áp và luận điểm cho