1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN VĂN: Tác động của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số ở nước ta hiện nay docx

79 755 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác động của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số ở nước ta hiện nay
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 712,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức được vị trí và tầm quan trọng của vấn đề dân số trong sự phát triển xã hội, ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm tới việc thực hiện chính sác

Trang 1

LUẬN VĂN:

Tác động của tâm lý xã hội đối với

việc thực hiện chính sách dân số ở

nước ta hiện nay

Trang 2

mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Dân số và sự tồn tại, phát triển của xã hội là hai vấn đề luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Nói đến vấn đề dân số không có nghĩa là chỉ nói tới mặt số lượng

mà còn bao gồm mặt chất lượng của dân số Cùng với việc phát triển kinh tế- xã hội, con người cần phải điều chỉnh các xu hướng dân số cho phù hợp với sự phát triển Quy mô, cơ cấu dân số, tốc độ gia tăng dân số và sự phân bố dân cư phù hợp sẽ tạo ra những tiền đề và động lực quan trọng cho phát triển bền vững, ngược lại, sự gia tăng dân số không phù hợp sẽ tạo ra những nhân tố cản trở việc thực hiện những mục tiêu kinh tế- xã hội Có thể nói, dân số là cơ hội, đồng thời là thách thức đối với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia Vì vậy, bất cứ quốc gia nào cũng cần có một chính sách dân số hợp lý để tạo ra một quy mô dân số “tối ưu” Nghĩa là, vừa có thể đảm bảo việc phát huy mọi nguồn lực cho sản xuất, tạo ra được nhiều nhất của cải vật chất cho xã hội, mặt khác, vừa có thể đảm bảo được sự kết hợp hài hòa giữa sản xuất với tiêu dùng, tăng cường và thúc đẩy việc tích lũy cho tái sản xuất mở rộng

Nhận thức được vị trí và tầm quan trọng của vấn đề dân số trong sự phát triển

xã hội, ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm tới việc thực hiện chính sách dân số Từ đó đến nay, đặc biệt là từ năm 1993 (Đánh dấu bằng sự ra đời của nghị quyết hội nghị lần thứ tư BCH TW Đảng cộng sản việt nam khóa VII), trong công tác dân số- kế hoạch hóa gia đình chúng ta đã đạt được những thành tựu hết sức quan trọng Có thể nhận thấy, ban đầu chúng ta mới chủ yếu quan tâm tới vấn đề giảm sinh để ổn định quy mô dân số, thì đến nay về cơ bản chúng

ta đã bắt đầu quan tâm được nhiều hơn tới chất lượng dân số, chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội

Việc thực hiện chính sách dân số ở nước ta những năm vừa qua nhìn chung đang có những chuyển biến theo chiều hướng tích cực với thành tựu rất quan trọng Tuy nhiên, gần đây việc thực hiện chính sách dân số lại nảy sinh một số vấn đề mới,

tỷ lệ các cặp vợ chồng sinh con thứ ba tăng “ đột biến”, xu hướng giảm sinh có những dấu hiệu chững lại… Thực tế ấy cho thấy những thành tựu trong việc thực hiện chính sách dân số ở nước ta trong thời gian qua là chưa thực sự bền vững và một trong

Trang 3

những nguyên nhân của thực tế trên đó là sự tác động trở lại “ một cách mạnh mẽ” của những yếu tố tâm lý xã hội cũ, bảo thủ, lỗi thời

Việc nghiên cứu một cách có hệ thống sự tác động của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số, từ đó đề ra những giải pháp khắc phục tác động tiêu cực của tâm lý xã hội trong việc thực hiện chính sách dân số ở nước ta là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, vừa cấp bách vừa lâu dài

Là một tỉnh nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc bộ, Hải Dương cũng không phải

là ngoại lệ Có thể nói, sự tác động của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số ở đây còn hết sức nặng nề Qua thực tế nhiều năm công tác ở cơ sở với đặc thù của công tác nghiên cứu và giảng dạy lý luận chính trị cùng với những kiến thức, kinh

nghiệm ban đầu đã tích lũy được là những lý do để người viết chọn đề tài: "Tác động

của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số ở nước ta hiện nay" (qua thực tế tỉnh Hải Dương) làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Triết học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề ý thức xã hội, tâm lý xã hội, vấn đề dân số đã được các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu và những người quan tâm đề cập dưới những góc độ khác nhau Các công trình nghiên cứu của các tác giả đã được công bố dưới dạng đề tài khoa học, chuyên

đề, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ và các bài đăng tải trên các tạp chí, sách báo Cụ thể như:

- “Những yếu tố tâm lý xã hội ảnh hưởng tới mức sinh”, UBDS Hà nội 1991;

“KAP (Kiến thức- thái độ- thực hành)” UBQGDS (1993); “Tâm lý cộng đồng làng và di

sản”, Đỗ Long- Trần Hiệp (1993); “Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay”, Đề tài KX 07 02 (1996) Phan Huy Lê- Vũ Minh Giang (Chủ biên); “ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay”, Đề tài KX 07 03

(1997) Nguyễn Tài Thư (Chủ biên);

- “Nền sản xuất nhỏ Việt Nam và hậu quả của nó trong tâm lý dân tộc”, Tạp chí Thông tin triết học, số2/ 1971, Tác giả Vũ Khiêu; “ý thức người sản xuất nhỏ và ý thức

hàng ngày”, Tạp chí Triết học, số2/ 1986, Tác giả Hồ Sỹ Quý; “Tâm lý “ trọng nam khinh nữ” trong xã hội hiện nay”, Tạp chí Khoa học về phụ nữ, số 10/ 1995, Tác giả

Trần Thị Minh Đức; “ý thức xã hội với sự gia tăng dân số ở nước ta hiện nay”, Tạp chí

Lý luận chính trị, số 3/ 2005, Tác giả Nguyễn Thị Nga;

Trang 4

- “Sự tác động của phong tục tập quán đến mức sinh và giải pháp nhằm góp

phần nâng cao hiệu quả công tác dân số- kế hoạch hóa gia đình ở Hà Nội”, Luận án phó

tiến sỹ khoa học Triết học (Chuyên ngành Xã hội học), Tác giả Nguyễn Quốc Triệu

(1994); “ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến trong cán bộ lãnh đạo và phương hướng

khắc phục nó”, Luận án tiến sỹ khoa học Triết học, Tác giả Nguyễn Bình Yên; “Tâm lý sản xuất nhỏ ở đội ngũ cán bộ cơ sở hiện nay và phương hướng khắc phục (Qua thực tế tỉnh Thái Bình)”, Luận văn thạc sỹ Triết học, Tác giả Trần Sỹ Dương (1997) …

Đã có không ít công trình khoa học nghiên cứu về lĩnh vực tâm lý, ý thức con người, nhìn chung do yêu cầu mục đích của mỗi công trình, các tác giả chủ yếu tập trung làm rõ những vấn đề lý luận chung cũng như sự tác động của lĩnh vực ý thức xã hội nói chung đối với tồn tại xã hội Tuy nhiên, việc nghiên cứu sự tác động của tâm

lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số, hơn nữa coi sự tác động của tâm lý

xã hội như một trong những nguyên nhân của sự gia tăng dân số nhanh ở Hải Dương hiện nay vẫn chưa được quan tâm đầy đủ Vì vậy, việc thực hiện đề tài này là nhiệm

vụ cần thiết

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Nội dung của chính sách dân số rất rộng, luận văn chủ yếu đi sâu phân tích một

số tâm lý xã hội tác động trực tiếp tới nhận thức, tình cảm, thái độ và hành vi của con người trong việc thực hiện chính sách dân số Hơn nữa, với quy mô và tốc độ gia tăng dân số ở nước ta hiện nay, luận văn chủ yếu tập trung vào tác động của tâm lý xã hội đến

sự gia tăng dân số nhanh, việc sinh con thứ 3 trở lên tăng “ bất thường” và cản trở của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng dân số Đồng thời, những số liệu khảo sát, đánh giá trong luận văn cũng chủ yếu được thực hiện ở tỉnh Hải Dương

4 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

* Mục đích:

Phân tích làm rõ tác động của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân

số ở nước ta hiện nay (qua thực tế tỉnh Hải Dương), từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục tác động tiêu cực của tâm lý xã hội trong việc thực hiện chính sách dân số

* Nhiệm vụ:

Để đạt được mục đích trên, luận văn sẽ tập trung làm rõ:

Trang 5

- Vai trò của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số và những yếu

tố tâm lý xã hội phổ biến tác động tới việc thực hiện chính sách dân số ở nước ta hiện nay

- Nghiên cứu, đánh giá tác động của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số ở Hải Dương hiện nay, từ đó đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm khắc phục tác động tiêu cực của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số ở nước

ta nói chung và Hải Dương nói riêng

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

* Cơ sở lý luận:

Luận văn đã vận dụng những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về lĩnh vực ý thức xã hội, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc xây dựng và hoàn thiện ý thức xã hội mới ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

* Phương pháp nghiên cứu:

Trên cơ sở phương pháp luận triết học mác xít, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp phân tích - tổng hợp, lôgíc - lịch sử, hệ thống - cấu trúc, điều tra khảo sát, thống kê - so sánh trong nghiên cứu và trình bày

6 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn

Luận văn có những đóng góp khoa học mới sau:

- Phân tích một cách có hệ thống tác động của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện CSDS ở nước ta hiện nay (qua thực tế tỉnh Hải Dương)

- Đề ra một số giải pháp cơ bản nhằm khắc phục tác động tiêu cực của tâm lý xã hội trong việc thực hiện chính sách dân số ở Hải Dương hiện nay

7 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho việc hoạch định các chương trình, chính sách phát triển kinh tế- xã hội, cũng như các mục tiêu, chương trình dân số ở các địa phương nói chung và tỉnh Hải Dương nói riêng

- Tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập trong các Trường chính trị tỉnh, thành phố

Trang 6

- Giúp cho những người làm công tác quản lý lãnh đạo xã hội có thể nhận thức, đánh giá một cách đầy đủ hơn về tác động của tâm lý xã hội đối với những lĩnh vực khác nhau của địa phương mình

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 2 chương, 6 tiết

Chương 1

Chính sách dân số và vai trò của Tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số

1.1 Chính sách dân số và quá trình thực hiện chính sách dân số ở nước ta 1.1.1 Chính sách dân số

Trong sự phát triển của lịch sử xã hội, gia tăng dân số là một vấn đề mang tính khách quan, hợp quy luật Bởi vì, nó xuất phát từ những nhu cầu tự nhiên- sinh học của con người, tuy vậy nó cũng là một quá trình mang tính lịch sử- xã hội, nghĩa là nó cần phải được điều chỉnh Việc tác động, điều chỉnh các quá trình dân số được thực hiện thông qua hàng loạt các chính sách xã hội, trong đó trước hết và trực tiếp nhất là chính sách dân số Hiện nay, về chính sách dân số cũng có nhiều quan niệm khác nhau

Quan điểm thứ nhất: Chính sách dân số là những chủ trương và biện pháp của

đảng và nhà nước nhằm điều tiết quá trình biến đổi dân số theo những mục tiêu nhất định [19, tr.195] Quan điểm này mặc dù đã chỉ ra được bản chất của chính sách dân số nhưng vẫn còn khá chung chung

Quan điểm thứ hai: Theo quan niệm của nhóm cố vấn về chính sách dân số

thuộc Uỷ ban dân số của Hội đồng kinh tế và xã hội Liên hợp quốc: Chính sách dân số là

những biện pháp và những chương trình được thiết kế nhằm đóng góp vào việc đạt được mục tiêu kinh tế xã hội, dân số, chính trị, các mục tiêu công cộng khác thông qua việc tác động đến các biến đổi dân số quan trọng, cụ thể là quy mô, cơ cấu và sự phân bố dân số (trong phạm vi quốc gia và quốc tế) và các đặc trưng dân số của nó [20, tr.208-209] Với quan điểm này chính sách dân số không chỉ tác động nhằm tái tạo, tăng giảm số lượng dân số mà còn có ý nghĩa tái tạo và hoàn thiện chất lượng dân cư nhằm giải quyết vấn đề dân số và phát triển Như vậy, chính sách dân số không đồng nhất với việc hạn chế sinh

Trang 7

đẻ, mặc dù với hầu hết các nước trên thế giới hiện nay thì hạn chế sinh đẻ là nhiệm vụ trọng tâm của chính sách dân số ở một số nước phát triển, có tỷ lệ gia tăng dân số thấp, thậm chí đang sụt giảm thì các biện pháp ưu tiên và truyền thông dân số lại thể nhắm đến mục tiêu khuyến khích sinh đẻ

Quan điểm thứ ba: Theo quan niệm của các nhà khoa học thuộc Học viện chính

trị Quốc gia Hồ Chí Minh: “ Chính sách dân số là hệ thống các biện pháp do nhà nước

tiến hành nhằm đạt được kiểu tái sản xuất dân số trong tương lai” [20, tr.207] Như chúng

ta đã biết, tái sản xuất dân số là sự lặp lại thường xuyên quá trình vận động của dân số Trên thực tế có hai quan niệm về tái sản xuất dân số: quan niệm về tái sản xuất dân số theo nghĩa hẹp và quan niệm tái sản xuất dân số theo nghĩa rộng Nếu mục tiêu và đối tượng tác động là tái sản xuất dân số theo nghĩa hẹp thì ta có chính sách dân số theo nghĩa hẹp, theo đó chính sách dân số chỉ tác động tới vận động tự nhiên (sinh sản, tử vong) và vận động cơ học (di dân theo lãnh thổ) Còn khi mục tiêu và đối tượng tác động

là tái sản xuất theo nghĩa rộng, ta có chính sách dân số theo nghĩa rộng nghĩa là chính sách dân số phải quan tâm tới cả 3 dạng vận động: vận động tự nhiên, vận động cơ học và vận động xã hội (từ nhóm xã hội này sang nhóm xã hội khác hoặc nâng cao chất lượng của nhóm về mặt xã hội) Quan niệm thứ ba hiện nay đang được dùng phổ biến hơn cả,

nó không chỉ phản ánh được nội dung cơ bản của chính sách dân số mà còn cho thấy tính chất phong phú, đa dạng của chính sách dân số

Trước đây, quan niệm phát triển thường nghiêng về những tiêu chuẩn kinh tế- kỹ thuật thì ngày nay đang chuyển dần sang ý nghĩa phát triển xã hội, phát triển con người

và phát triển bền vững Xem xét quan hệ dân số- phát triển thực chất là nhìn nhận dân số theo quan điểm phát triển bền vững thông qua vai trò của con người Dù quan niệm thế nào thì con người vẫn luôn đứng ở vị trí trung tâm của sự phát triển Phát triển con người một mặt phát huy được tiềm năng của chính mỗi con người, mặt khác giúp cho việc khai thác và sử dụng một cách có hiệu quả nhất các nguồn lực cho phát triển kinh tế- xã hội cũng như đảm bảo cho sự phát triển bền vững của các thế hệ tương lai

Như vậy, “sinh đẻ có hướng dẫn”, “ sinh đẻ có kế hoạch” hay “kế hoạch hóa gia đình” đều là biện pháp cơ bản để vươn tới mục tiêu cao hơn: mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho từng người, từng gia đình và toàn xã hội Thực hiện tốt chính sách dân số

là một trong những giải pháp cơ bản để đạt tới sự phát triển bền vững

Trang 8

Chính sách dân số là một bộ phận của chiến lược phát triển toàn diện của mỗi quốc gia, là một trong những công cụ hữu hiệu để điều tiết quá trình vận động của dân số Trước hết, nó điều tiết sự phát triển dân số hợp lý, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội Chính sách dân số điều chỉnh quá trình di cư, nhập cư, đảm bảo phân bố dân cư và lao động hợp lý, phù hợp với điều kiện, đặc điểm, tình hình phân bố của lực lượng sản xuất, tạo điều kiện phát triển sản xuất, nâng cao năng suất lao động Việc thực hiện tốt chính sách dân số còn góp phần thúc đẩy quá trình phát triển giáo dục, y tế… đặc biệt là giải quyết tốt mối quan hệ giữa dân số với tài nguyên, môi trường, hạn chế tệ nạn xã hội từng bước nâng cao chất lượng dân số, chất lượng cuộc sống… ở nước ta hiện nay, việc thực hiện chính sách dân số suy cho cùng là việc hạn chế tỷ lệ gia tăng dân số nhanh, hạn chế tình trạng sinh con thứ 3 trở lên và thực hiện các mục tiêu nâng cao chất lượng dân

số, chất lượng cuộc sống

Đối với chính sách dân số, quan trọng nhất vẫn là nhóm chính sách có liên quan đến vấn đề sinh, tử và di dân bởi vì mọi sự biến đổi của dân số suy cho cùng đều chịu ảnh hưởng của 3 nhân tố này Theo một phép tính đơn giản thì: Tăng dân số tự nhiên = Số sinh- số chết Vì vậy, việc sinh đẻ và các chính sách tác động tới mức sinh có ý nghĩa quan trọng nhất, nhất là với những nước có tốc độ gia tăng dân số nhanh như Việt Nam Đương nhiên việc con người không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống, kéo dài tuổi thọ… làm cho mức chết giảm đi và như vậy thì vấn đề kiểm soát sự gia tăng dân số chỉ còn là vấn đề kiểm soát mức sinh Tất nhiên, mức chết có ảnh hưởng nhất định tới việc “ gây áp lực dân số” song không thể coi việc “ làm gia tăng yếu tố này” như một giải pháp của giảm áp lực dân số đối với quá trình phát triển Đây cũng chính là lý do vì sao trong phạm vi đề tài này tác giả chủ yếu đề cập tới tác động của tâm lý xã hội tới mức sinh và giải pháp khắc phục tác động của tâm lý xã hội tới mức sinh ở nước ta hiện nay

1.1.2 Quá trình thực hiện chính sách dân số ở nước ta

Chính sách dân số ở Việt Nam đã được Đảng và nhà nước quan tâm từ rất sớm Theo thời gian và dựa vào đặc điểm lịch sử của đất nước, chúng ta có thể chia quá trình thực hiện chính sách dân số thành 3 thời kỳ cơ bản:

- Thời kỳ từ năm 1961 đến năm 1975:

Đây là thời kỳ đất nước còn đang bị chia cắt, chính sách dân số mới chỉ được thực hiện ở Miền Bắc xã hội chủ nghĩa Có thể nhận thấy ngay từ đầu, Đảng và nhà nước

Trang 9

ta đã rất chú ý tới vấn đề dân số, quan tâm tới số lượng cũng như chất lượng dân số “ vì sức khỏe các bà mẹ, vì hạnh phúc và hòa thuận trong gia đình và để nuôi dạy con cái chu đáo” Mục tiêu của giai đoạn này là hướng tới quy mô gia đình 3 con, đối tượng vận động chủ yếu là phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ và đã đông con, trước hết là nữ công nhân viên chức nhà nước, trong các lực lượng vũ trang, phạm vi thực hiện chính sách dân số tập trung ở thành thị, nông thôn đồng bằng Sông Hồng … kinh phí cho hoạt động dựa vào ngân sách nhà nước cấp Kết quả là tốc độ gia tăng dân số có giảm nhưng rất chậm, hiện tượng gia đình đông con khá phổ biến Quan niệm về chính sách dân số như thế còn rất hạn chế, nhìn chung mới chú ý đến quy mô dân số mà rất ít quan tâm tới vấn đề chất lượng dân số, chất lượng cuộc sống Với điều kiện đặc biệt của lịch sử và ảnh hưởng của

cơ chế tập trung bao cấp lúc bấy giờ mà hiệu quả của việc thực hiện chính sách dân số chưa cao

- Thời kỳ từ năm 1975 đến năm 1984:

Đất nước thống nhất, dân số cả nước lúc này đã xấp xỉ 48 triệu người, gần gấp đôi so với năm 1955 Chính sách dân số bắt đầu được triển khai trên phạm vi cả nước với

xu hướng đẩy mạnh cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch Sau một thời gian tạm lắng, cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch lại được phát động một cách sôi nổi và được triển khai rộng khắp trên toàn quốc chuẩn bị cho sự phục hưng nền kinh tế Cũng trong giai đoạn này, công tác dân số- kế hoạch hóa gia đình được xác định là vị trí quốc sách trong sự nghiệp phát triển đất nước Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IV khẳng định: “ Mọi ngành,

mọi cấp phải coi cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch là công tác có tầm quan trọng to lớn,

có ý nghĩa chính trị kinh tế và xã hội góp phần tích cực vào việc nâng cao đời sống của nhân dân ta”

Quan điểm này tiếp tục được khẳng định tại Đại hội Đảng lần thứ V: “ Phải quyết định và thi hành chính sách dân số đúng đắn, trong đó một công việc cực kỳ quan trọng,

có ý nghĩa chiến lược kinh tế và xã hội, mà tất cả các tổ chức Đảng và chính quyền các cấp phải hết sức quan tâm và trực tiếp chăm lo, là tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động sinh

đẻ có kế hoạch” [6, tr.72] Những nỗ lực của cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch bước đầu đã góp phần hạ thấp tỷ lệ gia tăng dân số Số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đã giảm từ 5,25 con năm 1975 xuống còn 3,85 con năm 1984

- Thời kỳ từ năm 1984 đến nay:

Trang 10

Có thể coi đây là thời kỳ việc thực hiện chính sách dân số ở nước ta đã có những chuyển biến tích cực cả về nội dung, hình thức và cách thức tiến hành Nhiều văn bản chính sách

Nghị quyết số 47- NQ/ TW ngày 22 tháng 3 năm 2005 của Bộ chính trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình

Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X tiếp tục khẳng định: “ Thực hiện tốt các chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình Giảm tốc độ tăng dân số Tiếp tục duy trì kế hoạch

Trang 11

giảm sinh và giữ mức sinh thay thế, bảo đảm quy mô và cơ cấu dân số hợp lý, nâng cao chất lượng dân số” [11, tr.103]

Thời kỳ này đã đánh dấu sự thay đổi căn bản nhận thức và hành động của Đảng

và nhà nước ta về chính sách dân số Vị trí quốc sách của chính sách dân số tiếp tục được khẳng định trong văn kiện của hầu hết các đại hội Đảng và trong nhiều chính sách phát triển kinh tế- xã hội khác Việc thực hiện CSDS những năm gần đây ở nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn

1.1.3 Những thành tựu và hạn chế trong việc thực hiện chính sách dân số ở nước ta những năm gần đây

1.1.3.1 Thành tựu

Việc thực hiện chính sách dân số ở nước ta đã có một quá trình lâu dài với nhiều thành tựu và kinh nghiệm vô cùng quý báu Đến nay, có thể đánh giá thành tựu trong việc thực hiện chính sách dân số ở nước ta thời gian qua, nhất là những năm gần đây với các mặt cụ thể như sau:

Thứ nhất, về mức sinh, tốc độ gia tăng dân số cơ bản đã được kiểm soát, điều này

được chứng minh thông qua mức sinh liên tục giảm trong nhiều năm gần đây Kết quả giảm sinh đã đạt được sớm hơn so với dự kiến Mục tiêu của " Chiến lược DS- KHHGĐ đến năm 2000" là " giảm cho được tổng tỷ suất sinh xuống mức 2,9 con hoặc thấp hơn, quy mô dân số dưới mức 82 triệu người vào năm 2000 để đạt mức sinh thay thế vào năm 2015" Thực tế đã chứng minh rằng, những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX tỷ lệ sinh không giảm, hoặc giảm rất chậm thì từ năm 1993 trở lại đây, tức là từ khi thực hiện

Chiến lược dân số đến năm 2000, tổng tỷ suất sinh đã giảm khá nhanh, từ 3,8 con vào

năm 1989 xuống 2,67 con vào thời kỳ 1992- 1996 và còn khoảng 2,3 con vào năm 1999 Quy mô dân số ở mức 78 triệu người vào giữa năm 2000 Kết quả này đã tạo cơ sở để chúng ta có thể đạt mức sinh thay thế chậm nhất vào năm 2005, sớm hơn 10 năm so với

dự kiến [65, tr.2] Từ những thành công nổi bật đó, Việt Nam đã vinh dự được Tổ chức Liên hợp quốc trao giải thưởng Dân số vào năm 1999

Thứ hai, về cơ bản đã thống nhất được nhận thức và hành động của toàn xã hội

về tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách dân số Hầu hết các tổ chức Đảng, chính quyền đã coi công tác dân số là bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội.Với sự tích cực hưởng ứng và tham gia của các tổ chức Đảng, chính quyền các cấp,

Trang 12

các ban ngành và đoàn thể, bước đầu chúng ta đã tạo được những cơ sở cho việc thay đổi hành vi một cách bền vững, hạn chế được tác động tiêu cực của tâm lý xã hội Trong xã hội, quan niệm về hôn nhân, sinh đẻ đã có những chuyển biến tích cực ngày càng nhiều người có ý thức kết hôn muộn, đẻ ít con, nuôi con khỏe mạnh

Thứ ba, công tác thông tin- giáo dục- truyền thông từng bước được đẩy mạnh

Nhận thức, thái độ, hành vi của cộng đồng đối với công tác dân số đã có sự chuyển biến đáng kể Các hoạt động truyền thông mang tính đa dạng, nhiều chiều, nội dung phong phú Đặc biệt đã có sự quan tâm chú ý tới từng nội dung, từng đối tượng cụ thể để có những phương pháp phù hợp, hiệu quả Truyền thông dân số đã được lồng ghép vào các nội dung tuyên truyền, giáo dục, các chương trình chính sách phát triển

Thứ tư, hệ thống những quan điểm, chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước

ta cùng với thời gian đã từng bước được bổ sung, phát triển hoàn thiện và ngày càng thể hiện tính đúng đắn, hiệu quả, sát với tình hình thực tế hơn Mục tiêu và các giải pháp của chiến lược dân số- kế hoạch hóa gia đình nhìn chung là phù hợp với điều kiện kinh tế- xã hội của đất nước, cơ chế quản lý dân số theo chương trình mục tiêu được định hình và đang phát huy tác dụng Có thể khẳng định rằng: Những chính sách được ban hành nếu đáp ứng được sự mong mỏi của nhân dân, xuất phát từ những cơ sở thực tiễn khách quan thì đều tạo ra được sự đồng thuận cao trong xã hội, phát huy được sức mạnh của đông đảo nhân dân và được thực hiện một cách có hiệu quả

Ngoài những thành tựu cơ bản nêu trên, cũng cần phải kể tới thành công đó là chúng ta đã tạo dựng được một bộ máy tổ chức và mạng lưới những người làm công tác dân số- kế hoạch hóa gia đình rộng khắp từ trung ương tới cơ sở Trình độ những người làm công tác dân số được nâng lên rõ rệt, nhất là đối với đội ngũ cán bộ chuyên trách Trang thiết bị được tăng cường, hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu thực tiễn được quan tâm Chất lượng dịch vụ kế hoạch hóa gia đình cơ bản đã đáp ứng được những yêu cầu của người sử dụng hiện nay Với những thành tựu như vậy, có thể nói Việt Nam đã tạo dựng được những cơ sở mấu chốt nhất cũng như môi trường xã hội thuận lợi cho việc triển khai các

chương trình, chính sách dân số những năm tiếp theo

1.1.3.2 Những hạn chế

Do chúng ta chưa nhận thức được hết tính chất khó khăn, phức tạp và lâu dài của công tác dân số- kế hoạch hóa gia đình, ở một số nơi đã có những dấu hiệu của sự chủ

Trang 13

quan, thỏa mãn với những thành tích bước đầu trong công tác dân số- kế hoạch hóa gia đình Có không ít địa phương, chính quyền và cơ quan chức năng đã thể hiện sự thiếu kiên quyết trong khâu tổ chức thực hiện Chính vì vậy, công tác dân số cũng bộc lộ một

số hạn chế Những hạn chế tiêu biểu có thể kể ra đó là:

Một là, quy mô dân số nước ta vẫn ở mức cao và đang không ngừng tăng lên

Đây đã và sẽ tiếp tục là thách thức lớn đối với sự phát triển của Việt Nam Theo thống kê của các tổ chức liên hợp quốc dân số Việt Nam hiện đang xếp thứ ba ở Đông Nam á (đứng sau In- đô- nê- xia và Phi- Líp- Pin) và thứ 14 trên thế giới Dự báo số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ sẽ tăng từ 21,1 triệu người năm 2000 lên 25,5 triệu vào năm 2010 Việt Nam lại là một nước có cơ cấu dân số trẻ, do vậy có thể nói tiềm năng sinh đẻ còn rất lớn Trong nhiều năm tới, cho dù mức sinh tiếp tục giảm song dân số tiếp tục tăng mỗi năm khoảng từ 1 đến 1,1 triệu người Việt Nam vẫn là một trong những quốc gia có mật

độ dân số cao trong khu vực và trên thế giới

Hai là, mức sinh ở một số nơi vẫn còn ở mức cao và sự chênh lệch về mức sinh

giữa các vùng còn khá lớn, có khi lên tới từ 1,1 đến 1,9 lần Việc giảm sinh diễn ra chưa đồng đều Từ năm 2000 mức sinh giảm sinh đã chững lại và không đạt chỉ tiêu quốc hội giao là giảm tỷ lệ sinh là 5%o mỗi năm Kết quả thực hiện chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình giảm sút Trong những năm 2003 và 2004 tỷ lệ sinh con thứ 3 tăng mạnh trở lại Đặc biệt năm 2003, sự tăng đột biến của việc sinh con thứ 3 đã kéo theo tỷ lệ phát triển dân số từ 1,32% vào năm 2002 lên 1,47% năm 2003 [20, tr 211- 213]

Ba là, một thời gian dài chúng ta đã quá chú trọng tới mục tiêu giảm sinh mà

chưa thực sự quan tâm tới chất lượng dân số, chất lượng cuộc sống Chính sách dân số còn thể hiện sự mất cân đối Chất lượng dân số, chất lượng cuộc sống chưa đáp ứng được yêu cầu về nguồn nhân lực có chất lượng cao cho thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Các tố chất về thể lực của con người Việt Nam như chiều cao, cân nặng và sức bền còn hạn chế

Bốn là, bộ máy quản lý dân số ra đời muộn, chưa ổn định, trình độ của đội ngũ

quản lý, triển khai chương trình còn hạn chế, điều này thể hiện cả về trình độ khoa hoa học cơ bản, hiểu biết pháp luật cũng như trình độ chuyên môn nghiệp vụ Thực tế

đã có không ít những nơi tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể và ngay cả những cán

bộ chuyên trách đã hết sức lúng túng trước những vấn đề cụ thể và thực tiễn đặt ra, ví

Trang 14

dụ như việc xử lý vấn đề sinh con thứ 3 trong thời gian qua Điều này cũng phần nào cho thấy về năng lực dự báo, lập kế hoạch và xử lý tình huống của đội ngũ cán bộ còn yếu Việc lồng ghép các yếu tố dân số vào quá trình hoạch định chính sách, lập kế hoạch chưa đáp ứng được những yêu cầu của tình hình mới Không ít người dân vẫn thể hiện sự “ thờ ơ”, thiếu trách nhiệm trong việc thực hiện chính sách dân số

Tóm lại, nâng cao hiệu quả công tác dân số, phấn đấu vì mục tiêu giảm sinh

mà trước hết là hạn chế tình trạng sinh con thứ 3 hiện nay là một yêu cầu vừa cấp bách vừa lâu dài Việc thực hiện tốt chính sách dân số sẽ đem lại lợi ích to lớn đối với

sự phát triển kinh tế- xã hội và tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện con người Mặt khác, nếu chính sách dân số đúng đắn, phù hợp với tâm tư nguyện vọng của nhân dân, đảm bảo sự kết hợp và tác động cùng chiều cũng như khai thác được những yếu

tố truyền thống, tâm lý xã hội tích cực thì hoàn toàn có thể thu được những kết quả mong đợi

1.2 Tâm lý xã hội và vai trò của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số ở nước ta hiện nay

1.2.1 Tâm lý xã hội trong đời sống tinh thần xã hội

Đời sống của con người được chia thành nhiều lĩnh vực hoạt động Hoạt động tinh thần của đời sống xã hội là một trong những lĩnh vực hoạt động cơ bản Trong đời sống tinh thần của con người thì tâm lý xã hội lại có một vị trí hết sức quan trọng

ý thức xã hội bao gồm những tư tưởng, quan điểm, lý luận cùng những tình cảm,

tâm trạng, truyền thống của một cộng đồng người phản ánh tồn tại xã hội của họ [21, tr.165]

ý thức xã hội là một bộ phận thuộc đời sống tinh thần của xã hội, phản ánh tồn tại

xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định theo những cách thức khác nhau và biểu hiện bằng những hình thái ý thức xã hội cụ thể như: ý thức chính trị, ý thức pháp quyền,

ý thức đạo đức, ý thức tôn giáo…Trong đó ý thức xã hội không chỉ được tồn tại dưới dạng lý luận và quan điểm xã hội mà còn tồn tại như là những trạng thái của tình cảm, xúc cảm, thói quen, tập quán …Căn cứ góc độ xem xét và với những tiêu chí khác nhau người ta có thể có những cách phân chia ý thức xã hội thành những cấp độ khác nhau

Thông thường, căn cứ vào trình độ phản ánh người ta phân chia kết cấu ý thức xã

hội bao gồm ý thức xã hội thông thường và ý thức lý luận ở trình độ ý thức xã hội thông

Trang 15

thường, tâm lý xã hội là bộ phận chủ yếu, còn trong ý thức lý luận bộ phận chủ yếu đó là

hệ tư tưởng

Triết học Mác- Lênin khẳng định: Tâm lý xã hội bao gồm những tình cảm, tâm

trạng, ý thích, mong muốn, cả những tập quán, truyền thống.v.v được hình thành một cách tự phát dưới ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện sinh sống hàng ngày [21, tr.167]

Là một phương thức tồn tại của ý thức xã hội, tâm lý xã hội không tồn tại độc lập như một thành phần trong kết cấu của ý thức xã hội Nó có mặt trong tất cả các hình thái của ý thức xã hội: ý thức chính trị, ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức, ý thức thẩm mĩ …

Tâm lý xã hội và hệ tư tưởng đều là sự phản ánh tồn tại xã hội và chịu sự quy định của tồn tại xã hội Tuy vậy, về cơ bản thì tâm lý xã hội thuộc cấp độ thấp của ý thức

xã hội Tâm lý xã hội là một bộ phận của ý thức xã hội thông thường nhưng nó lại có vị trí rất quan trọng Nếu coi tâm lý xã hội là cấp độ thấp của ý thức xã hội để rồi coi nhẹ tâm lý xã hội là hết sức sai lầm Giữa tâm lý xã hội và hệ tư tưởng, giữa tình cảm và lý trí, giữa tri thức và nhiệt tình cách mạng luôn có sự thống nhất và sự tác động qua lại lẫn nhau Trong nhiều trường hợp sức mạnh của tư tưởng chỉ trở thành sức mạnh hiện thực khi nó kết hợp với yếu tố tâm lý và có sức mạnh lâu bền khi nó đi vào tập quán Bản thân

tư tưởng không có thể tạo ra những bước ngoặt của lịch sử nếu như không có hoạt động của con người với ngọn lửa của lòng nhiệt tình cách mạng Tình cảm, xúc cảm thúc đẩy con người hoạt động, giúp con người vượt qua những khó khăn Thành công của bất kỳ hoạt động nào của con người phụ thuộc rất nhiều vào thái độ của con người đối với hoạt động đó Nếu cuộc sống của chúng ta thiếu đi những tình cảm, xúc cảm, lòng nhiệt tình

và quyết tâm của mỗi con người thì có lẽ trước đây, hiện nay và cả mai sau sẽ không có

và cũng không thể có sự tìm kiếm của con người về chân lý Nhưng nếu chúng ta thiếu sự hiểu biết khoa học về nó, cường điệu hóa vai trò của tâm lý xã hội thì cũng dễ dẫn đến những hậu quả tai hại

Phản ánh những điều kiện sinh hoạt vật chất của con người một cách trực tiếp, vì vậy, biểu hiện của tâm lý xã hội trong đời sống xã hội rất phong phú đa dạng, phức tạp Nhìn chung thì tâm lý xã hội mang nhiều dấu ấn chủ quan như tâm trạng, xúc cảm ở tâm

lý xã hội yếu tố trí tuệ còn đan xen với yếu tố tình cảm Mặt khác, tâm lý xã hội thường

có tính phổ biến, mang tính “ lây lan” nhanh, dễ thâm nhập vào quần chúng

Trang 16

Cũng phải thấy rằng, tâm lý xã hội bên cạnh những ưu điểm còn có những hạn chế nhất định Thực tế cho thấy, tâm lý xã hội thường có tính bảo thủ rất lớn, nhất là khi

nó đã ăn sâu vào đầu óc con người và trở thành thói quen, tập quán…Nó thường lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội, tức là nó có thể tồn tại lâu hơn khi những cơ sở kinh tế- xã hội nảy sinh ra nó đã biến đổi hoặc không còn nữa Hơn nữa, tâm lý xã hội thường mới chỉ dừng lại ở sự phản ánh bề ngoài của tồn tại xã hội, do vậy chưa sâu sắc và ít nhiều mang tính cảm tính Tâm lý xã hội khó có khả năng vạch ra đầy đủ, rõ ràng những mối liên hệ bản chất của tồn tại xã hội Đồng thời nó còn mang nặng tính kinh nghiệm và hạn chế về tính sáng tạo Mặt khác, tâm lý xã hội thường ăn sâu vào đầu óc con người nên những yếu tố bảo thủ, lạc hậu lại có “ khả năng” trở thành lực cản “ ghê gớm” đối với sự phát triển kinh tế- xã hội

ở các xã hội có giai cấp, tâm lý xã hội cũng mang tính giai cấp Mỗi giai cấp có những điều kiện sinh hoạt vật chất khác nhau mà hình thành nên những nét tâm lý khác nhau, thậm chí đối lập nhau Các học giả của giai cấp thống trị thường phủ nhận tính giai cấp của ý thức xã hội nói chung và tâm lý xã hội nói riêng Trái lại, triết học Mác- Lênin một mặt khẳng định tính phổ biến của tâm lý xã hội nhưng mặt khác cũng không phủ nhận tính giai cấp của nó Triết học Mác- Lênin còn khẳng định những tầng sâu của tâm

lý xã hội trong từng giai cấp C.Mác và Ph ăngghen viết: “ Giai cấp nào chi phối những

tư liệu sản xuất vật chất thì cũng chi phối luôn cả những tư liệu sản xuất tinh thần, thành thử nói chung tư tưởng của những người không có tư liệu sản xuất vật chất cũng đồng thời bị giai cấp thống trị đó chi phối [29, tr.66]

Tâm lý xã hội không chỉ mang tính giai cấp mà tâm lý xã hội còn bao gồm những đặc điểm tâm lý dân tộc

Tâm lý dân tộc là những đặc điểm về tình cảm, ý chí, tập quán, tính tình, thị

hiếu…, được hình thành do ảnh hưởng của những điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội và cả những điều kiện tự nhiên trong quá trình phát triển lâu dài của một dân tộc Những đặc điểm tâm lý dân tộc ăn sâu vào tâm tư, tình cảm của các tầng lớp nhân dân lao động và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và trở thành phong tục tập quán nên những đặc điểm của tâm lý dân tộc thường tương đối ổn định Tất nhiên, những thay đổi có tính bước ngoặt trong điều kiện lịch sử, trong sinh hoạt chính trị, xã hội của một dân tộc cũng có thể dẫn tới những thay đổi nhất định trong tâm lý xã hội của dân tộc đó

Trang 17

Trong xã hội có giai cấp, tâm lý dân tộc và tâm lý giai cấp có mối lên hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và tạo ra cuộc đấu tranh tư tưởng rất phức tạp Cũng như toàn bộ ý thức của giai cấp thống trị, những đặc điểm tâm lý xã hội của giai cấp thống trị chi phối cả tâm lý dân tộc và tâm lý xã hội của các giai cấp khác Hơn nữa, tâm

lý của các giai cấp trong xã hội không tồn tại một cách cô lập mà trong mối quan hệ với nhau Đề cập về ảnh hưởng của tâm lý của các giai cấp trong lịch sử đối với tâm lý của giai cấp công nhân, V.I Lênin viết:

Họ (tức những người sản xuất nhỏ) bao quanh giai cấp vô sản từ mọi phía bằng một bầu không khí tiểu tư sản, làm cho giai cấp vô sản bị tiêm nhiễm, bị hủ hóa, luôn làm cho giai cấp vô sản tái phạm những tính xấu cố hữu của giai cấp tiểu tư sản như: tính nhu nhược, tản mạn, chủ nghĩa cá nhân [25, tr.46]

Trong chủ nghĩa xã hội, tâm lý dân tộc và tâm lý giai cấp có sự thống nhất với nhau, nó xuất phát từ sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp chứ hoàn toàn không xuất phát từ một mong muốn chủ quan nào ở đó luôn diễn ra đồng thời quá trình: khai thác, phát triển những yếu tố tích cực của tâm lý dân tộc và đấu tranh để xóa bỏ những tàn dư tâm lý lạc hậu, phản động của các giai cấp thống trị bóc lột cũng như của những người sản xuất nhỏ đã và đang là những lực cản đối với sự nghiệp xây dựng xã hội mới

Tâm lý xã hội cũng có mối quan hệ chặt chẽ với tâm lý cá nhân Tâm lý cá nhân

là sự phản ánh những điều kiện sinh hoạt vật chất của các cá nhân ở những mức độ khác nhau

Tâm lý cá nhân là toàn bộ thế giới chủ quan của một cá nhân phản ánh thế giới khách quan (chủ yếu là quan hệ xã hội) thông qua điều kiện sống, hoạt động và thể nghiệm của bản thân Nó là sự thống nhất giữa thế giới khách quan và thế giới chủ quan, là sự thống nhất giữa cái chung, cái đặc thù và cái rêng trong một cá nhân [48, tr.142]

Tâm lý cá nhân thể hiện thế giới tinh thần của những con người riêng biệt, cụ thể Tuy nhiên tâm lý cá nhân không thể không mang tính xã hội, bởi vì cái cá nhân chỉ tồn tại và biểu hiện sự tồn tại của mình trong xã hội hay là trong mối quan hệ với những cá nhân khác Triết học Mác- Lênin khẳng định: “Xã hội … là sản phẩm của sự tác động lẫn

Trang 18

nhau giữa người với người” và “Lịch sử xã hội của người ta bao giờ cũng chỉ là lịch sử phát triển cá nhân của họ” [35, tr.788- 789] Sự hình thành hệ thống cấu trúc tâm lý trọn vẹn trong mỗi cá nhân làm cho mỗi cá nhân có nhân cách riêng, có sức mạnh riêng trong nhận thức và cải tạo thế giới hiện thực

Tâm lý cá nhân chịu ảnh hưởng trực tiếp của tâm lý xã hội Tất nhiên, nói như vậy không có nghĩa là tâm lý xã hội và tâm lý cá nhân không có sự khác biệt Tâm lý cá nhân không phải bao giờ cũng thể hiện đầy đủ quan điểm, tư tưởng, tình cảm phổ biến của một cộng đồng, một tập đoàn xã hội, một thời đại xã hội Mặt khác, tâm lý xã hội không phải là tồn tại chung chung, trừu tượng mà tâm lý xã hội bao giờ cũng tồn tại trong tâm lý cá nhân, thông qua tâm lý cá nhân Sự thâm nhập của tâm lý xã hội trong tâm lý cá nhân sẽ quyết định tính phổ biến cũng như vai trò của tâm lý xã hội trong đời sống xã hội

Sự tác động của tâm lý xã hội đối với tồn tại xã hội là sự tác động thông qua tâm

lý cá nhân, trên cơ sở đó hình thành những tình cảm, ước muốn, thói quen và định hướng

và điều chỉnh hành vi của con người Nếu quá nhấn mạnh điều kiện sinh sống cụ thể của mỗi cá nhân, thổi phồng những nét riêng biệt thì không thể hiểu được bản chất đời sống tinh thần của cá nhân, dẫn đến mơ hồ, lệch lạc trong việc đánh giá nhận thức và hoạt động của cá nhân Ngược lại, nếu chỉ chú ý tới mặt xã hội mà coi nhẹ đặc điểm tâm lý riêng biệt của từng cá nhân thì cũng dẫn đến chủ quan, giản đơn trong việc xem xét tâm

lý cá nhân, do đó sẽ không thể giải thích được một thực tế là cùng sống trong một điều kiện sinh hoạt vật chất nhất định nhưng những tình cảm, suy nghĩ và hành động của con người lại có thể khác nhau Mối quan hệ này được thể hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội

1.2.2 Những xu hướng biến đổi cơ bản của tâm lý xã hội và vai trò của nó trong việc thực hiện chính sách dân số

1.2.2.1 Những xu hướng biến đổi của tâm lý xã hội

Trong giai đoạn hiện nay, những biểu hiện và những xu hướng biến đổi của tâm

lý xã hội ở Việt Nam là rất phức tạp, nhiều chiều

Xu hướng thứ nhất mang tính chủ đạo là quá trình hình thành những yếu tố tâm

lý xã hội mới Đây là xu hướng tất yếu của sự phát triển Sự ra đời của tâm lý xã hội mới trên cơ sở đó là sự chuyển biến của những tâm lý xã hội cũ sang tâm lý xã hội mới đồng

Trang 19

thời nó còn là sự phản ánh những điều kiện sinh hoạt vật chất đang nảy sinh và phát triển

Sự hình thành những tâm lý xã hội mới này góp phần to lớn vào quá trình nâng cao đời sống tinh thần của con người, tạo điều kiện cho việc phát huy tính năng động tự chủ, thúc đẩy tính tự giác của mỗi cá nhân, từ đó đẩy xã hội phát triển

Chuyển biến mạnh mẽ trong lĩnh vực tâm lý xã hội ở nước ta hiện nay là kết quả trực tiếp của những thay đổi về nhu cầu và các quan hệ lợi ích Những thành tựu kinh tế

xã hội của hơn 20 năm đổi mới một mặt đã tạo điều kiện đáp ứng ngày càng tốt hơn những nhu cầu thiết yếu của con người, mặt khắc nó cũng làm nảy sinh ra những nhu cầu mới Đồng thời, những quan hệ lợi ích trong xã hội cũng có những thay đổi đáng kể, trong đó lợi ích cá nhân ngày càng được quan tâm Do tác động của các yếu tố kinh tế- xã hội và văn hóa, trình độ dân trí và trình độ nhận thức của con người được nâng cao, người dân có điều kiện để lựa chọn những giá trị mới phù hợp để tạo sự tương đồng với nhau hình thành một hệ giá trị chuẩn mực tiến bộ Trong phương thức thừa nhận và lựa chọn hệ giá trị chuẩn mực, yếu tố lý trí sẽ không ngừng tăng lên so với yếu tố tình cảm, điều này làm cho hệ giá trị mới mang tính thực tế hơn Lối sống mới đã và đang làm biến đổi những quan niệm về đạo đức, tình cảm và hành vi ứng xử giữa các cá nhân, tác phong công nghiệp đang dần thay thế cho lối sống tùy tiện, lạc hậu, trì trệ Dưới tác động của hệ thống quản lý mới và sự hoàn chỉnh của hệ thống pháp luật, ý thức pháp luật của người dân được hình thành đầy đủ hơn, chính vì vậy mà vai trò và tác động (nhất là tác động tiêu cực) của tâm lý truyền thống cũng giảm bớt

Xu hướng thứ hai là sự tồn tại dai dẳng của những tâm lý xã hội bảo thủ, lạc hậu

đã và đang là những lực cản to lớn đối với sự phát triển kinh tế- xã hội Nảy sinh trên cơ

sở một nền nông nghiệp lạc hậu, trì trệ, sản xuất nhỏ và manh mún, tâm lý xã hội của con người Việt Nam chịu ảnh hưởng khá sâu sắc của tâm lý xã hội truyền thống với những đặc trưng bảo thủ, trì trệ, khép kín…

Có thể nói, do những đặc điểm lịch sử và dân tộc, chế độ quốc hữu hóa ruộng đất

và sự tồn tại dai dẳng của công xã nông thôn đã làm cho sự phát triển của xã hội Việt Nam nói chung có tính chất “ tiệm tiến” mà không có những bước tiến mang tính nhảy vọt Trong lịch sử phát triển ấy, sự phân biệt của các phương thức sản xuất không biểu hiện một cách rõ rệt Sự kết hợp giữa thủ công nghiệp với nông nghiệp trong khuôn khổ công xã nông thôn làm cho nó có “ khả năng” cung cấp những sản phẩm tiêu dùng thiết

Trang 20

yếu của con người trong khuôn khổ của “ văn minh nông nghiệp” Cơ cấu kinh tế giản đơn, tự cung tự cấp đã tạo ra cho công xã nông thôn một sức sống tương đối ổn định và lâu dài

Công xã nông thôn có ảnh hưởng lớn tới cả cơ cấu kinh tế, xã hội, văn hóa và tư tưởng con người Việt Nam Làng xã cổ truyền là nơi nơi lưu giữ, bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc thông qua các phong tục, tập quán, lễ hội truyền thống… Tuy nhiên, tác động tiêu cực của nó cũng không nhỏ, đó là sự duy trì lâu dài nền kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc, làm cho làng xã trở thành những đơn vị kinh tế khép kín, cản trở sự phát triển của sở hữu

tư nhân, hạn chế sự phát triển của công nghiệp, quan hệ hàng hóa- tiền tệ Trong môi trường kinh tế- xã hội đó cá nhân bị hòa tan vào cộng đồng, bị trói buộc trong những mối quan hệ cổ truyền, chính vì thế mà cá nhân khó có cơ hội phát triển Việc đề cao vai trò của đời sống tình cảm, luân lý, đạo đức đã không chỉ làm hạn chế lý trí của con người mà còn làm cho con người luôn bị “ giam hãm” trong các làng xã- công xã với vô vàn những tập tục từ ngàn xưa, làm con người bị giảm thiểu nhu cầu, mất hết tính chủ động sáng tạo Những tư tưởng, tình cảm, đạo đức, lối sống cũ cũng vì thế mà luôn có một sức sống lâu bền và một vị trí đặc biệt trong xã hội Khi phân tích về sự thống trị của Anh ở ấn Độ, đề cập đến công xã nông thôn, C Mác viết:

Những công xã nông thôn thơ mộng ấy, dầu cho chúng có vô hại như thế nào chăng nữa, bao giờ cũng vẫn là cơ sở bền vững của chế độ chuyên chế phương Đông, rằng những công xã ấy đã hạn chế lý trí của con người trong những khuôn khổ chật hẹp nhất, làm cho nó trở thành công cụ ngoan ngoãn của mê tín, trói buộc nó bằng những xiềng xích nô lệ của những quy tắc cổ truyền, làm cho nó mất hết sự vĩ đại, mọi tính chủ động lịch sử [32, tr.177] Những tâm lý này về cơ bản đã hết vai trò lịch sử của nó, nhưng vì những lý do nào đó mà nó vẫn tồn tại Những tâm lý xã hội này cần phải từng bước được xóa bỏ Cũng phải nhấn mạnh rằng, để xóa bỏ những tâm lý xã hội này phải trải qua một quá trình lâu dài, khó khăn

Xu hướng thứ ba là sự kết hợp, đan xen giữa những yếu tố tâm lý xã hội cũ và

mới Đây là xu hướng cần lưu tâm, nhất là đối với việc thực hiện chính sách dân số Bởi

vì, nếu chỉ cần một tác động nào đó (ví dụ như chính sách, luật pháp hay nhận thức của chủ thể hoạt động…) những tâm lý này có thể chuyển biến theo hướng tích cực, nhưng

Trang 21

cũng có thể chuyển biến theo hướng hoàn toàn ngược lại, nhất là khi những yếu tố tâm lý

xã hội cũ được khơi dậy Thực tế đã chứng minh, tâm lý xã hội bảo thủ, lạc hậu không tự mất đi và cũng không mất đi ngay lập tức, trái lại nó có thể tồn tại trong một giai đoạn lịch sử nhất dưới những hình thức khác nhau Một yếu tố tâm lý xã hội nào đó, mặc dù bảo thủ, lạc hậu nhưng nếu bằng cách này hay cách khác đã tìm được cho mình một khả năng thích ứng với những điều kiện mới thì nó có thể “ bùng lên” mạnh mẽ và tác động của nó đối với sự phát triển kinh tế- xã hội là vô cùng to lớn

Những xu hướng biến đổi của tâm lý xã hội cho thấy những mâu thuẫn trong việc thừa nhận và lựa chọn hệ giá trị chuẩn mực cũng như sự phân hóa trong đời sống tâm lý tình cảm của con người Việt Nam hiện nay Từ những xu hướng vận động hết sức phức tạp, đan xen của tâm lý xã hội ở nước ta hiện nay mà sự tác động của tâm lý xã hội đối với những cơ sở kinh tế- xã hội đã làm nảy sinh ra chúng cũng rất phong phú, đa dạng Vai trò của tâm lý xã hội đối với sự phát triển xã hội phụ thuộc vào những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể, vào tính chất của các mối quan hệ kinh tế trên cơ sở đó mà tâm

lý xã hội nảy sinh, vào mức độ phản ánh đúng đắn của tâm lý xã hội đối với những nhu cầu phát triển xã hội và mức độ mở rộng của tư tưởng trong quần chúng

1.2.2.2 Vai trò của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số

Trong việc thực hiện chính sách dân số ở nước ta hiện nay, sự tác động của tâm

lý xã hội thể hiện rõ nét trên cả hai phương diện: tác động tích cực và tác động tiêu cực Nói cách khác, đó là sự tác động có tính chất đan xen, giữa những tác động tiêu cực và những tác động tích cực không có một gianh giới tuyệt đối Điều này vừa biểu hiện như một mâu thuẫn bên trong, vừa biểu hiện tính chất hai mặt của tâm lý xã hội Có thể đứng trên nhiều góc độ để xem xét sự tác động của tâm lý xã hội trong việc thực hiện chính sách dân số Về những tác động của tâm lý xã hội trong việc thực hiện chính sách dân số,

cụ thể là vào quan niệm và quyết định sinh con, theo Tiến sỹ Nguyễn Thị Nga là “ khá lặng lẽ nhưng sâu sắc, âm thầm nhưng dẻo dai, không ồn ào nhưng cũng không kém phần quyết liệt” [41, tr.69] Cũng theo Tiến sỹ Nguyễn Thị Nga thì mọi hành vi của con người đều phản ánh thái độ và quan niệm của chính họ; tức là dù thừa nhận hay không thừa nhận thì quan niệm và thái độ của con người cũng chi phối những hành vi của họ, mà quan niệm và thái độ của con người có được xét đến cùng đều xuất phát từ vấn đề nhận

Trang 22

thức của họ Như vậy thì sự tác động của tâm lý xã hội phụ thuộc vào sự thâm nhập, chuyển hóa của tâm lý xã hội trong tâm lý cá nhân

Tâm lý xã hội thường được hiểu là sự phản ánh những cơ sở kinh tế- xã hội “ đã

bị vượt qua” Do đó, việc nhìn nhận tác động của tâm lý xã hội đối với sự phát triển thường nghiêng về đánh giá tiêu cực Tất nhiên, có mối quan hệ nhất định giữa tâm lý xã hội với những cơ sở kinh tế- xã hội của giai đoạn trước và cũng gây ra nhiều tác động không tốt đối với sự phát triển xã hội song vấn đề lại nằm ở năng lực khai thác và mục đích sử dụng của chủ thể Vai trò của tâm lý xã hội trong việc thực hiện chính sách dân

số ở nước ta hiện nay thể hiện ngay trong những tác động của tâm lý xã hội tới nhận

thức, tình cảm, thái độ … và hành vi của cá nhân trong việc thực hiện chính sách dân số

Thứ nhất, tác động tới nhận thức của mỗi cá nhân trong việc thực hiện chính sách

dân số Một trong những đặc điểm của tâm lý xã hội là “ tính lây lan” nhanh và phạm vi ảnh hưởng là rất rộng Tâm lý xã hội càng có phạm vi ảnh hưởng rộng thì càng có xu hướng thống nhất về nội dung các chuẩn mực, phán xét, đánh giá, càng làm cho người ta nhận thức sâu sắc hơn về những vấn đề diễn ra trong xã hội Trong điều kiện môi trường

xã hội lành mạnh, không có những lệch lạc về chuẩn mực và những thước đo giá trị xã hội, các giá trị văn hóa, truyền thống, phong tục tập quán được coi trọng thì nhân cách, trình độ văn hóa của con người có điều kiện phát triển Một xã hội phát triển sẽ dẫn dắt hành vi con người theo những chuẩn mực giá trị Ngược lại, trong sự khủng hoảng, suy thoái, những giá trị văn hóa, tinh thần … bị coi nhẹ, hoặc tổn thương sẽ là “ mảnh đất hiện thực” vô cùng màu mỡ cho những hành vi phản văn hóa, trái đạo lý Tác dụng của tâm lý xã hội ở đây đó chính là sức mạnh chuyển tải thông tin, tuyên truyền phổ biến các giá trị, các quan điểm của của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước về chính sách dân số cũng như việc thực hiện chính sách dân số

Thứ hai, tác động tới tình cảm, tâm trạng … thái độ của cá nhân trong việc thực

hiện chính sách dân số Tình cảm, tâm trạng, xúc cảm và thái độ là những yếu tố cơ bản của tâm lý cá nhân Mặc dù về cơ bản nó được hình thành một cách tự phát dưới những tác động của những điều kiện sinh sống hàng ngày, tuy nhiên nó cũng không tách rời những yếu tố truyền thống, phong tục tập quán, những kinh nghiệm sống đã được tích lũy trong quá trình lịch sử Bản chất con người “ không phải là một cái trừu tượng cố hữu của những cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó,bản chất người là tổng hòa những

Trang 23

quan hệ xã hội” [29, tr.11] Tình cảm của cá nhân thường được bộc lộ dưới dạng những phản ứng là tích cực hay tiêu cực của họ trước những sự kiện, hiện tượng và các quá trình diễn ra trong xã hội Tình cảm của cá nhân trong việc thực hiện chính sách dân số biểu hiện trong thực tế đó là thái độ lên án hay đồng tình đối với những hành vi dân số, ủng hộ hay thờ ơ trong việc thực hiện chính sách dân số, có hay không việc đề cao trách nhiệm công dân …Cũng chính vì vậy mà mỗi cá nhân đều mong muốn tự kiểm soát được tình cảm và thái độ của mình phù hợp với tình cảm và thái độ chung của cả cộng đồng

Thái độ của cá nhân không những bị lệ thuộc vào tình cảm mà còn phụ thuộc vào

cả trạng thái tâm lý của họ Do ảnh hưởng trực tiếp của những điều kiện sinh sống mà trạng thái tâm lý được thể hiện ở những trạng thái đối lập: hưng phấn hay ức chế, lạc quan hay bi quan, quan tâm hay thờ ơ … Tùy thuộc vào những trạng thái tâm lý mà thái

độ của họ cũng có thể khác nhau Chẳng hạn khi trong trạng thái hưng phấn, nhiệt tình người ta thường có những phản ứng mạnh mẽ, tích cực trước những hành vi vi phạm chính sách dân số, ngược lại người ta thường thờ ơ trước những hành vi vi phạm chính sách dân số Những trạng thái tâm lý đó được bộc lộ trong nội dung các phán xét, đánh giá của tâm lý xã hội và qua đó, tâm lý xã hội tác động tới thái độ của con người trong việc thực hiện chính sách dân số

Thứ ba, tác động tới hành vi của cá nhân trong việc thực hiện chính sách dân số

Nói tới hành vi của con người trong việc thực hiện chính sách dân số tức là nói tới việc tham gia của con người với tư cách là chủ thể của chính sách dân số Hành vi của con người trong việc thực hiện chính sách dân số là kết quả của những kinh nghiệm xã hội, những thuộc tính xã hội, những kết quả của giáo dục, đào luyện mà họ được tiếp nhận từ

xã hội; là cái cá thể và sự phát triển của cá thể hóa đã đạt được đến một mức nào đó thông qua tác động của cái xã hội và quá trình xã hội hóa đối với con người Sự chuyển hóa của tâm lý xã hội trong tâm lý cá nhân cuối cùng biểu hiện ra ở việc cá nhân có thể tự đánh giá và điều chỉnh hành vi ứng xử của mình trong xã hội Trong chừng mực nhất định hành vi của con người trong việc thực hiện chính sách dân số là sự phản ánh nhận thức và thái độ của họ đối với việc thực hiện chính sách dân số Trong trường hợp này có thể coi tâm lý xã hội là “ tấm gương” để mỗi cá nhân tự soi mình vào đó mà định hướng, thực hiện cũng như việc điều chỉnh hành vi của mình theo những chuẩn mực xã hội đã trở thành thói quen, phong tục tập quán … trong tâm lý xã hội ở đây, sức mạnh điều chỉnh

Trang 24

hành vi của tâm lý xã hội khiến cho mỗi cá nhân phải đứng trước những sự lựa chọn nhất định, phải suy nghĩ, đánh giá trước khi thực hiện một hành vi dân số nào đó Hành vi đó đúng hay sai, phù hợp hay không phù hợp? … Có thể thấy, tác động của tâm lý xã hội đối với hành vi của con người trong việc thực hiện chính sách dân số chính là ở cách thức mà con người lựa chọn cũng như thực hiện hành vi dân số của mình

1.3 Những yếu tố cơ bản chi phối sự tác động của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số

Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng, có thể làm giảm nhẹ hay trầm trọng hơn những tác động của tâm lý xã hội, thậm chí giúp cho việc khai thác những tâm lý xã hội truyền thống như một nhân tố “ có lợi” trong việc thực hiện chính sách dân số Chúng ta có thể chỉ ra những nhân tố cơ bản sau đây:

1.3.1 Hệ thống các cơ chế, chính sách và pháp luật

Đây là yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ nhất Thực tế cho thấy, sau khi

có pháp lệnh dân số 2003 được ban hành, tỷ lệ các cặp vợ chồng sinh con thứ 3 trở lên lại

có xu hướng tăng mạnh Có nhiều lý do đã được đưa ra để giải thích cho hiện tượng này

và một trong những lý do được nhắc tới nhiều nhất lại nằm ở nội dung của pháp lệnh dân

số Trong pháp lệnh dân số, lần đầu tiên “ quyền sinh sản” của công dân được khẳng định: “ Bảo đảm việc chủ động, tự nguyện, bình đẳng của mỗi cá nhân, gia đìng trong kiểm soát sinh sản, chăm sóc sức khỏe sinh sản, lựa chọn nơi cư trú và thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng dân số” [44, tr.8- 9] Điều 10 của pháp lệnh ghi rõ: “ Mỗi cặp

vợ chồng và cá nhân có quyền: Quyết định về thời gian sinh con, số con và khoảng cách giữa các lần sinh phù hợp với lứa tuổi, tình trạng sức khỏe, điều kiện học tập, lao động,công tác, thu nhập và nuôi dạy con của cá nhân, cặp vợ chồng trên cơ sở bình đẳng”[44, tr 13]

Pháp lệnh Dân số 2003 thể hiện một bước tiến lớn trong nhận thức và hoạt động thực tiễn của Đảng và nhà nước ta Tuy nhiên, trong điều kiện cụ thể nước ta nó thực sự chưa mang lại hiệu quả mong muốn Như vậy là có một thực tế, một chính sách (mà cụ thể là chính sách dân số) có thể phù hợp với xu hướng vận động và phát triển chung nhưng có thể lại là chưa phù hợp với những điều kiện lịch sử cụ thể Sự phù hợp hay không phù hợp của chính sách dân số với những đặc điểm và diễn biến tâm lý xã hội có một ý nghĩa rất quan trọng, nó chi phối sự tác động của tâm lý xã hội đối với việc thực

Trang 25

hiện chính sách dân số Cùng với chế độ sở hữu, hệ thống tổ chức bộ máy và các thiết chế quyền lực nói chung, hệ thống pháp luật và các công cụ, phương tiện quản lý là một đảm bảo cần thiết về tư tưởng và tinh thần cho xã hội ảnh hưởng của cơ chế, chính sách pháp luật thường bằng những phương thức và công cụ quản lý nhất định, Với hệ thống cơ chế, chính sách và pháp luật, nhà nước thực hiện sự kiểm soát, điều chỉnh của mình đối với hành vi của mỗi công dân

1.3.2 Mức độ thâm nhập và chuyển hóa tâm lý xã hội trong tâm lý cá nhân

Như chúng ta đã phân tích, giữa tâm lý xã hội và tâm lý cá nhân có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nhưng tâm lý cá nhân không phải là “ bản sao” đầy đủ của ý thức xã hội Sự hình thành và phát triển của tâm lý cá nhân là một quá trình phức tạp, bao gồm sự tác động của nhiều yếu tố Tâm lý học Mác- xít không phủ nhận yếu tố bẩm sinh, di truyền nhưng coi yếu tố này chỉ là cơ sở, là tiền đề vật chất có ảnh hưởng nhất định đối với mặt nào đó của tâm lý cá nhân chứ không phải là yếu tố duy nhất quyết định

sự hình thành và phát triển của tâm lý cá nhân Sự thâm nhập và chuyển hoá của tâm

lý xã hội trong tâm lý cá nhân phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động của cá nhân Tâm lý

cá nhân không phải là được “ hấp thụ” một cách trực tiếp từ trong xã hội mà là kết quả của một một quá trình rèn luyện, thể nghiệm bản thân lâu dài, gian khổ, phức tạp Do

đó, một mặt mỗi cá nhân phải luôn thể hiện tính tích cực, chủ động của mình, biết phân tích, tiếp thu một cách có phê phán đối với những quan điểm và hành vi trong xã hội Mặt khác, nó cũng đòi hỏi sự định hướng và chỉ đạo thống nhất ở đây, vai trò của những nhà quản lý xã hội, các tổ chức xã hội như: Mặt trận tổ quốc, hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, … là rất lớn

Bản thân các tư tưởng không thể “ cải biến” được hiện thực Tư tưởng nói chung

và tâm lý xã hội nói riêng chỉ có thể phát huy sức mạnh cải tạo hiện thực khi nó thâm nhập được vào quần chúng và định hướng cho hoạt động thực tiễn Nội dung của đời sống tâm lý cá nhân là sự phản ánh thế giới khách quan thông qua hoạt động của mỗi cá nhân Sự hình thành và phát triển của tâm lý cá nhân quyết định việc phát huy vai trò của

cá nhân đối với xã hội

1.3.3 Chế tài xử lý của pháp luật

Có thể nói để pháp luật dân số thực sự đi vào đời sống xã hội và ngày càng phát huy hiệu quả thì ý thức pháp luật của người dân phải được nâng cao Ngoài việc nâng cao

Trang 26

chất lượng hệ thống văn bản pháp luật, đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật nói chung và pháp luật dân số nói riêng chúng ta cần chú ý tới cả vấn đề cần phải có những biện pháp mạnh, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật Một trong những nguyên nhân làm cho việc vi phạm pháp luật dân số diễn ra khá phổ biến và trong một thời gian dài đó là việc ban hành hệ thống pháp luật thiếu đồng bộ, văn bản được đưa

ra nhưng thiếu chế tài xử lý làm cho những cơ quan chuyên trách, các cấp ủy đảng và chính quyền nhiều địa phương hết sức lúng túng Đơn cử một ví dụ: Pháp lệnh Dân số được ra đời từ ngày 9 tháng 1 năm 2003 và chính thức có hiệu lực từ ngày 1 tháng 5 năm

2003 nhưng đến ngày 16 tháng 9 năm 2003 mới có nghị định hướng dẫn thực hiện và hướng dẫn xử lý vi phạm Như vậy, việc ban hành Pháp lệnh Dân số và một số chính sách khác thiếu chặt chẽ cùng với sự chậm trễ kể trên đã tạo “ điều kiện pháp lý” cũng như đủ thời gian cho sự ra đời của “ cả một thế hệ” Và khi có văn bản hướng dẫn thực hiện thì hậu quả của nó đã hiện hữu và công tác xử lý chỉ còn là xử lý vấn đề “ đã xảy ra” Hơn nữa, trong công tác xử lý vi phạm pháp luật dân số cũng chưa được thực hiện một cách triệt để, thiếu kiên quyết, nhất là đối với cán bộ, đảng viên vi phạm Đến lúc này có thể khẳng định rằng với một hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, chế tài xử lý của pháp luật vừa thiếu, vừa yếu đã trở thành “ cơ hội” cho sự trỗi dậy và tác động của tâm lý

xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số ở nước ta thời gian vừa qua và là một

trong những nguyên nhân làm cho việc sinh con thứ 3 khó kiểm soát

1.3.4 Trình độ dân trí

Trình độ dân trí có liên quan tới những điều kiện và khả năng tiếp nhận các thông tin xã hội cùng với năng lực nhận thức, đánh giá đúng đắn các thông tin đó Đồng thời nó cũng có ảnh hưởng trực tiếp tới hành vi của con người Khi trình độ dân trí được nâng cao, người dân có những điều kiện để nhận diện được đâu là những giá trị văn hóa đích thực, những tình cảm, thói quen, truyền thống tâm lý có tác dụng cho cuộc sống và hoàn thiện con người Nhìn chung thì trình độ học vấn có ý nghĩa to lớn trong việc thẩm định các giá trị, chuẩn mực trong xã hội, từ đó tạo dư luận tiến bộ trong cộng đồng

Trình độ dân trí cơ bản được biểu hiện ở trình độ học vấn học vấn của dân cư Đây là cơ sở vững chắc cho sự phát triển dân số hợp lý trong quá trình phát triển Mức sinh phụ thuộc rất nhiều vào trình độ học vấn của dân cư mà trước hết là trình độ học vấn của phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ và sắp bước vào độ tuổi sinh đẻ Kết quả điều tra nhân khẩu

Trang 27

học cho thấy: Phụ nữ có trình độ học vấn cao thường có ít con bởi vì họ có khả năng kiểm soát được những yếu tố tác động tới mức sinh Số con đã sinh trung bình của một phụ nữ thường tỉ lệ nghịch với trình độ học vấn của người mẹ Điền này không chỉ phụ thuộc trình độ học vấn của phụ nữ nói chung mà còn phụ thuộc vào cả tỷ lệ phụ nữ có trình độ học vấn cao trong tổng số phụ nữ

Bảng 1.1: Quan hệ giữa số con trung bình và trình độ học vấn của phụ nữ [66, tr 64]

Không được đi học

Chưa tốt nghiệp tiểu học

Tốt nghiệp tiểu học

Tốt nghiệp trung học

cơ sở

Tốt nghiệp THPT trở lên

Số con TB

của một phụ

nữ

hôn, đời sống kinh tế, việc làm, thu nhập, tốc độ đô thị hóa…và ngay cả mức sống, mức

độ phổ biến của tâm lý xã hội cụ thể, chúng đều ảnh hưởng tới sự tác động của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số ở những mức độ khác nhau

Tóm lại, tâm lý xã hội là sản phẩm của quá trình phát triển lịch sử lâu dài Với tư

cách là một bộ phận của ý thức xã hội thông thường, tâm lý xã hội phản ánh tồn tại xã hội

ít nhiều mang tính tự phát, đây là một đặc điểm hết sức quan trọng giúp chúng ta phần nào có thể lý giải được vì sao tâm lý xã hội nói chung có tính chất kinh nghiệm, bảo thủ

và trì trệ Tuy vậy tâm lý xã hội vẫn là một bộ phận không thể thiếu, đồng thời giữ vị trí

vô cùng quan trọng trong toàn bộ đời sống tinh thần của con người

Tâm lý xã hội của con người Việt Nam là kết quả của sự kết hợp chặt chẽ giữa những yếu tố truyền thống bản địa với những yếu tố từ bên ngoài tác động vào như những tư tưởng của Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo…Cũng như toàn bộ ý thức xã hội, tâm

lý xã hội có sự tác động trở lại đối với tồn tại xã hội và chi phối những hiện tượng và quá trình diễn ra trong xã hội, sự tác động này diễn ra theo hai xu hướng: tác động tích cực và tác động tiêu cực Sức mạnh của tâm lý xã hội là sức mạnh của truyền thống, của tập quán, của thói quen, của dư luận xã hội, …do vậy, tác động của tâm lý xã hội là âm thầm, bền bỉ, nhưng vô cùng quyết liệt về mức độ và tác hại thì cũng rất khó lường Việc

Trang 28

nghiên cứu một cách có hệ thống những tác động của tâm lý xã hội đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội không những giúp chúng ta có thể hạn chế những tác động tiêu cực của nó mà còn có thể phát huy những giá trị cũng như tác động tích cực của nó trong đời sống xã hội

Trang 29

Chương 2

tác động của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số ở hải dương và những giải pháp cơ bản nhằm khắc phục tác động tiêu

cực của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số hiện nay

2.1 Việc thực hiện chính sách dân số ở Hải Dương những năm qua- thành tựu và những vấn đề đặt ra

2.1.1 Đặc điểm kinh tế- xã hội tỉnh Hải Dương

Hải Dương là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía bắc (Hà nội- Hải Phòng- Quảng Ninh), phía bắc giáp Bắc Ninh, Bắc Giang, Quảng Ninh; phía đông giáp Quảng Ninh, Hải Phòng; Phía tây giáp Hưng Yên; phía nam giáp Thái Bình Diện tích tự

huyện và thành phổ, trong đó có 2 Huyện miền núi thấp Theo số liệu báo cáo của Uỷ ban Dân số- gia đình- trẻ em tỉnh Hải Dương, đơn vị có mật độ dân số đông nhất là thành phố

vùng đất giàu truyền thống cánh mạng và nhiều tiềm năng phát triển Trong hành trình lịch sử của dân tộc, nhân dân Hải Dương đã cùng nhân dân cả nước viết lên những trang

sử huy hoàng Con người Hải Dương kiên cường bất khuất trong chiến đấu, cần cù sáng tạo trong lao động, đoàn kết gắn bó trong xây dựng quê hương, đất nước Sau 20 năm đổi mới, với sự nỗ lực phấn đấu cao, Đảng bộ và nhân dân Hải Dương đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên hầu hết các lĩnh vực kinh tế- xã hội

Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV Đảng bộ tỉnh Hải Dương (12/2005) nêu rõ: năm 2005 Hải Dương hiện đang đứng thứ 13 trong 64 tỉnh, thành phố cả nước; thứ 4 trong 11 tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng về tốc độ phát triển kinh tế, thu ngân sách nhà nước đạt trên 2000 tỉ đồng, thu nhập bình quân 450 USD/ người/năm Cơ cấu kinh tế năm 2005: Nông nghiệp 27,5%, Công nghiệp và xây dựng 43%, Dịch vụ 29,5% (năm 1985: Nông nghiệp 53,2%, Công nghiệp và xây dựng 20,4%, Dịch vụ 26,4%) So với năm

1985, tổng sản phẩm năm 2005 đã tăng gấp 5 lần, bình quân tăng 8,39%/ năm Kết cấu hạ tầng phát triển mạnh, nhất là về giao thông, thủy lợi, mạng lưới điện, thông tin liên lạc,

Trang 30

trường học, bệnh viện, khu đô thị và nhà ở Quan hệ sản xuất tiếp tục được đổi mới và củng cố, các thành phần kinh tế phát triển hết sức năng động và không ngừng lớn mạnh

Sự nghiệp phát triển văn hóa, y tế, giáo dục, … tiếp tục phát triển nhanh chóng Tính đến ngày 31/ 12/ 2004, toàn tỉnh có 375 làng và khu dân cư văn hóa, trên 90% số làng, khu dân cư xây dựng và thực hiện quy ước, hương ước; 68% gia đình đạt danh hiệu “ gia đình văn hóa” Tình hình an ninh chính trị và trật tự ân toàn xã hội nhìn chung được đảm bảo

Như vậy, có thể nhận định rằng, cùng với đà phát triển kinh tế- xã hội chung trên

cả nước, bộ mặt kinh tế- xã hội Hải Dương đã có nhiều thay đổi theo hướng tiến bộ, đời sống vật chất và tinh thần của đại bộ phận nhân dân lao động đã được nâng lên rõ rệt Mặc dù vậy, đối với Hải Dương nông nghiệp và nông thôn vẫn đóng vai trò hết sức quan trọng Có lẽ đây cũng chính là một yếu tố hết sức cơ bản làm cho những tập quán, truyền thống của nền sản xuất sản xuất nông nghiệp lạc hậu, tâm lý xã hội bảo thủ, lỗi thời có một “ mảnh đất hiện thực” để tồn tại và tác động mạnh mẽ đối với mọi mặt đời sống xã hội của con người trong quá khứ cũng như hiện tại, mà điển hình là tác động đối với việc thực hiện chính sách dân số ở Hải Dương hiện nay

2.1.2 Thành tựu trong việc thực hiện chính sách dân số ở Hải Dương thời gian qua

Trong quá trình thực hiện chính sách dân số, đặc biệt là sau hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết TW 4 khóa VII về chính sách dân số- kế hoạch hóa gia đình, được sự quan tâm của các cấp ủy đảng và chính quyền, các đoàn thể, tổ chức xã hội từ tỉnh tới cơ

sở, nhất là sự ủng hộ và tích cực tham gia của nhân dân, việc thực hiện chính sách dân số

ở Hải Dương ngày càng hiệu quả và đi vào chiều sâu Chúng ta thể đánh giá kết quả của công tác dân số- kế hoạch hóa gia đình ở Hải Dương thời gian qua trên các mặt cơ bản sau đây:

Một là, nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền, các ngành, đoàn thể và nhân

dân về dân số- phát triển và chăm sóc sức khỏe sinh sản được nâng lên rõ rệt, công tác dân số- kế hoạch hóa gia đình đã được coi là bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội ở địa phương, là yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống Trong đại bộ phận nhân dân quan niệm về sinh đẻ đã có những chuyển biến tích cực Công tác dân số- kế hoạch hóa gia đình từng bước được xã hội hóa Mô hình “ Lồng ghép

Trang 31

yếu tố dân số với phát triển bền vững thông qua hoạt động tín dụng tiết kiệm và phát triển kinh tế gia đình” đạt hiệu quả tốt và được đề nghị nhân rộng

Hai là, quy mô dân số ngày càng ổn định Số người trung bình trong một hộ đã

giảm từ 4,01 người/ hộ vào năm 1999 xuống còn 3,8 người/ hộ vào năm 2004 Dân số vào thời điểm 1/ 4/ 2004 so với thời điểm 1/ 4/ 1999 tăng 44.024 người (2,7%) Như vậy, tốc độ tăng dân số bình quân hàng năm thời kỳ 1999- 2004 là 0,53% chậm hơn 0,38%

so với thời kỳ 1989- 1999 (0,91%) Kết quả này đã góp phần quan trọng vào công tác xóa đói, giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống, đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội, làm tiền đề vững chắc để Hải Dương bước vào thực hiện Chiến lược Dân số Việt

Nam 2001- 2010

Theo báo cáo quý 3 năm 2005 của Uỷ ban dân số- gia đình & trẻ em tỉnh Hải Dương, tính đến tháng 9 năm 2005, dân số của tỉnh là 1.707.131 người với 432.938 hộ;

Nữ 15- 49 tuổi là 461.217 người, trong đó số nữ có chồng là 319.851 người; Số sinh là

14.871 cháu, trong đó có 1.260 cháu là con thứ 3 trở lên

Ba là, về mức sinh ở Hải Dương liên tục có chiều hướng giảm từ 2,05 con

năm 1999 xuống 2 con vào năm 2002 và duy trì mức sinh tương đối ổn định cho đến nay Tỷ suất sinh thô từ 15,72% năm 2001 xuống còn 14,45% năm 2004 Tỷ lệ sinh con thứ 3 mặc dù gần đây có tăng mạnh nhưng vẫn ở mức thấp so với toàn quốc, dao động trong khoảng từ 8,7 đến 9,7% [52, tr.3]

Bốn là, về việc các cặp vợ chồng thực hiện các biện pháp tránh thai đã tăng đáng

kể Tỷ lệ các cặp vợ chồng sử dụng các biện pháp tránh thai đạt từ 73,3% năm 2000 lên 75,5% vào các năm 2004, 2005 Đảm bảo đa dạng hóa các biện pháp tránh thai hiện đại

an toàn, hiệu quả, đáp ứng một cách tốt nhất những nhu cầu của đối tượng sử dụng [52, tr.3]

Thành tựu đạt được trong việc thực hiện chính sách dân số ở Hải Dương những năm qua là cơ bản Tuy nhiên, mấy năm gần đây, cũng như nhiều địa phương khác, việc thực hiện chính sách dân số ở Hải Dương đã vấp phải những khó khăn mới nảy sinh, ví

dụ như tình trạng sinh con thứ 3 trở lên Theo thống kê thì hầu hết các huyện trong tỉnh đều xuất hiện tình trạng sinh con thứ 3, thậm chí có những nơi tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên

khá cao: điển hình là Thanh Miện: 14,99%; Bình Giang: 14,36% … [52, tr.3- 4]

Trang 32

Như chúng ta đã biết việc sinh con thứ 3 trở lên chỉ là một trong nhiều nguyên nhân đã và đang gây cản trở đối với việc thực hiện chính sách dân số ở nước ta nói chung

và Hải Dương nói riêng Điều đó cho thấy thực tiễn đã và đang đặt ra những vấn đề cấp bách đòi hỏi chúng ta cần phải nhận thức và giải quyết kịp thời

2.1.3 Những vấn đề đặt ra trong việc thực hiện chính sách dân số ở Hải Dương hiện nay

Thứ nhất, những năm qua ở Hải Dương xu hướng giảm sinh tiếp tục được duy trì,

tốc độ gia tăng dân số mặc dù vẫn trong phạm vi kiểm soát song những kết quả đạt được

là chưa thực sự vững chắc Xu hướng giảm sinh chững lại và báo hiệu rằng kết quả của những năm tới sẽ gặp nhiều khó khăn Điều này được thể hiện ở bảng tổng hợp dưới đây:

Bảng 2.1: Tổng hợp kết quả thực hiện Chương trình dân số- KHHGĐ của tỉnh hải

Dương - Giai đoạn 1996- 2005 [53]

Trang 33

Thứ hai, từ sau khi Pháp lệnh dân số 2003 được ban hành, tỷ lệ các cặp vợ

chồng sinh con thứ 3 trở lên có chiều hướng tăng mạnh (nhất là vào những năm 2003

và 2004) Đáng chú ý là sự “ lây lan” của hiện tượng này diễn ra tương đối nhanh trên một phạm vi rất rộng và khó kiểm soát Trước đây, tình trạng sinh con thứ 3 hầu hết rơi vào những gia đình đã sinh hai con là gái và một số ít gia đình đã có hai con trai Tuy nhiên, hiện nay tình trạng này lại xuất hiện khá nhiều ở những gia đình đã có cả con trai và con gái, theo thống kê toàn tỉnh tỷ lệ này khoảng 30% Dĩ nhiên, nguyên nhân không chỉ nằm ở " những kẽ hở" của Pháp lệnh dân số 2003 hay sự chậm trễ trong việc ban hành nghị định hướng dẫn thực hiện pháp lệnh mà thực chất nó chỉ là những " lí do" để biện hộ cho sự tồn tại và tác động của những yếu tố tâm lý xã hội từ bao đời đang đè nặng lên đầu óc những con người đang sống

Bảng 2.2: Kết quả giảm sinh ở Hải Dương giai đoạn 2001- 2005

[Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương năm 2004]

Đơn vị tính

Thứ ba, xu hướng sinh con thứ 3 trở lên tăng mạnh trong nhóm gia đình có điều

kiện kinh tế khá giả, học vấn cao Số liệu thống kê của xã Lê Hồng- Thanh Miện cho thấy

từ năm 2002 đến nửa đầu năm 2005 trên địa bàn xã, trong số các trường hợp sinh con thứ

ba trở lên không có trường hợp nào lại nằm trong diện kinh tế khó khăn Có thể nói đây

là một xu hướng mới, thậm chí trái ngược với những quan niệm trước đây cho rằng nguyên nhân sinh con thứ ba trở lên là do những nguyên nhân như: điều kiện kinh tế khó khăn, nhận thức thấp …, điều này làm cho công tác tuyên truyền gặp rất nhiều khó khăn Dường như kinh tế xã hội càng ổn định, đời sống càng được nâng lên thì nguy cơ của gia tăng dân số ngày càng lớn

Trang 34

Bảng 2.3: Cơ cấu sinh con thứ 3 trở lên giai đoạn 2002- 2005 xã Lê Hồng- Thanh

Miện- Hải Dương [60]

Số gia đình sinh con thứ 3 trở lên

Đã sinh con một

bề

Đã có trai,

có gái

Điều kiện kinh

tế khá

Điều kiện kinh

tế TB

Điều kiện kinh

tế khó khăn

Đảng viên, công chức

Dân thườn

Thứ tư, một vấn đề cũng rất đáng lo ngại là tình trạng sinh con thứ ba đã xuất

hiện trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, công chức nhà nước và ở hầu hết các địa phương Việc Pháp lệnh dân số năm 2003 ra đời là một bước tiến trong nhận thức và công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện chính sách dân số ở nước ta Đây là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất từ trước tới nay và có ý nghĩa rất lớn trong việc định hướng một cách sâu sắc và toàn diện công tác dân số Rõ ràng, không chỉ trong lĩnh vực này, " quyền" và " nghĩa vụ" không tách rời nhau thực tế cho thấy không thể có " quyền" vượt quá khỏi khuôn khổ giới hạn của " nghĩa vụ" Đành rằng, nếu quá nhấn mạnh mục tiêu có thể dẫn tới một số biểu hiện của việc vi phạm quyền con người song xét đến cùng mọi quyền mà con người có và được đảm bảo bao giờ cũng trên cơ sở việc thực hiện nghĩa vụ của mọi công dân trong xã hội Đáng tiếc nhiều người, trong số đó có cả cán bộ, đảng viên, công chức nhà nước lại không hiểu hay cố tình hiểu sai điều đó Điều này đã ảnh hưởng lớn đến nhận thức

và hành vi của quần chúng nhân dân

Trang 35

Tóm lại, căn cứ vào tình hình thực tiễn với những vấn đề cấp bách đang đặt ra,

nhất là qua các số liệu nêu trên cho thấy những tác động của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số là không nhỏ, thậm chí có nơi, có lúc nó đã trở thành nhân tố

cơ bản dẫn tới việc sinh con thứ 3 trở lên tăng mạnh Dù những tác động này ở mức độ như thế nào thì việc nghiên cứu sự tác động một cách có hệ thống cũng có ý nghĩa lý luận

2.2.1 Những tác động tiêu cực của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số ở Hải Dương hiện nay

Chiến lược dân số Việt Nam 2001- 2010 khẳng định những mục tiêu của công tác dân số ở nước ta hiện nay:

Mục tiêu tổng quát:

Thực hiện gia đình ít con, khỏe mạnh, tiến tới ổn định quy mô dân số ở mức hợp lý để có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, nâng cao chất lượng dân số, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững đất nước

Mục tiêu cụ thể:

Mục tiêu 1: Duy trì xu thế giảm sinh một cách vững chắc để đạt mức sinh thay thế bình quân trong toàn quốc vào năm 2005, ở vùng sâu, vùng xa và

Trang 36

vùng nghèo chậm nhất vào năm 2010 để quy mô, cơ cấu dân số và phân bổ dân cư phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội vào năm 2010

Mục tiêu 2: Nâng cao chất lượng dân số về thể chất, trí tuệ và tinh thần, phấn đấu đạt chỉ số phát triển con người (HDI) ở mức trung bình tiên tiến thế giới vào năm 2010 [65, tr.11]

Thực hiện Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XIV, đồng thời trên cơ sở Chiến lược Dân số Việt Nam 2001- 2010, Nghị quyết 47/ NQ- TW ngày 22/ 3/ 2005 của

Bộ chính trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số- kế hoạch hóa gia đình, Tỉnh ủy Hải Dương đã xây dựng Chương trình hành động số 41/ CTR/ TU ngày 1/ 7/

2005 về thực hiện công tác dân số, gia đình, trẻ em giai đoạn 2006- 2010, trong đó xác định các chỉ tiêu dân số cần đạt vào năm 2010:

- Dân số cả tỉnh không vượt quá 1,8 triệu người

- Tỷ lệ tăng dân số dưới 0,8%

- Hạ tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên xuống dưới 7%

- Tăng tỷ lệ các cặp vợ chồng sử dụng các BPTT lên 75,5% …

Căn cứ vào những mục tiêu của Chiến lược dân số Việt Nam 2001- 2010 và Chương trình hành động số 41/ CTR- TU của Tỉnh ủy Hải Dương chúng ta có thể đánh giá những tác động tiêu cực của tâm lý xã hội tới việc thực hiện chính sách dân số ở Hải Dương hiện nay trên các mặt sau đây:

2.2.1.1 Tâm lý xã hội cản trở thực hiện mục tiêu gia đình ít con

- Trong những tâm lý tác động tới quyết định sinh con, nhất là việc sinh con thứ

3 trở lên thì trước hết và trực tiếp nhất phải kể tới tâm lý “ muốn có nhiều con”

Đây là tâm lý khá phổ biến trong xã hội và được hình thành trong lịch sử từ rất sớm Lý giải cho vấn đề vì sao người ta muốn có nhiều con người ta có thể đưa ra nhiều nguyên nhân khác nhau Tuy nhiên, theo chúng tôi thì phải kể đến những nguyên nhân chủ yếu sau đây:

Một là, ngay từ xa xưa trong đời sống tinh thần của người Việt đã rất coi trọng

tinh thần Gia- Tộc Gia đình càng đông, dòng họ càng lớn thì càng được trọng vọng Ngược lại, gia đình ít con, dòng họ nhỏ thường bị thua thiệt, bị lấn át trong xã hội Việc coi trọng tinh thần gia tộc, mà ở đây giá trị được đề cao là con cái đông đúc Quan niệm “ mỗi con mỗi lộc”, nhiều con nhiều của” đã làm cho quy mô gia đình lớn rất phổ biến ở

Trang 37

không ít những địa phương gia đình đông đúc, nhiều thế hệ cùng chung sống thậm chí còn được coi là một giá trị được đề cao trong xã hội

Hai là, do ảnh hưởng của nền sản xuất nhỏ Đó nền sản xuất manh mún lạc hậu,

tự cấp tự túc, ít có sự biến động lớn Đặc trưng của nền sản xuất nhỏ “ là ruộng đất thì chia manh mún, các tư liệu sản xuất khác thì phân tán” Sở hữu nhỏ về tư liệu sản xuất đã làm cho lực lượng sản xuất phát triển trong một khuôn khổ hết sức chật hẹp, chủ yếu là lao động thủ công Đối với Việt Nam, chúng ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu Trải qua 20 năm đổi mới, chúng ta đã thu được những thành tựu hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế- xã hội, mặc dù vậy nền kinh tế nước ta vẫn mang nặng dấu ấn của một nền sản xuất nhỏ Trong nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu, tư liệu sản xuất chủ yếu vẫn bao gồm đất đai canh tác và sức lao động cơ bắp của con người Trong nhiều lĩnh vực khác của nền kinh tế, lao động thủ công vẫn chiếm ưu thế, lao động sống (sức lao động của con người) luôn đóng vai trò rất quan trọng Nhìn chung, ở nước

ta hiện nay, gia đình là một đơn vị sản xuất tự cung, tự cấp Quyền sử dụng ruộng đất, nhà cửa và nhiều quyền lợi khác cơ bản vẫn còn tính theo đầu người Mặc dù hiện nay, chính sách kinh tế- xã hội đã có nhiều thay đổi nhưng trên thực tế việc “ đông con, nhiều cháu” dường như sẽ có lợi thế hơn về sức lao động và khả năng khai thác đất đai, do đó cũng đem lại nhiều hơn thu nhập cho gia đình Đó là chưa kể đến những cơ hội việc kiếm việc làm, thu nhập ở bên ngoài hay sự “ thăng tiến” địa vị trong xã hội … thì các mối quan hệ anh em, họ hàng vẫn là chỗ dựa đáng tin cậy Đông con trở thành một biểu tượng của sức mạnh kinh tế

Ba là, do những tư tưởng cục bộ gia đình , dòng họ tương đối phổ biến Tư tưởng

cục bộ địa phương, bè cánh trên cơ sở họ hàng thân tộc, là tâm điểm để ứng xử các mối quan hệ xã hội ở nông thôn Cái nếp “ việc làng bênh lấy họ”, “ việc họ bênh lấy anh em”

đã chi phối rất nhiều mối quan hệ trong đời sống xã hội ở không ít nơi lợi ích cộng đồng

đã bị thay thế bởi lợi ích riêng của các dòng họ Quan niệm “ một người làm quan cả họ được nhờ” khá phổ biến, vì thế họ tìm mọi cách đưa những người trong họ, thân thích vào các cơ quan lãnh đạo địa phương bất chấp năng lực như thế nào, tình trạng “ chi bộ

họ ta”, “ Chủ tịch xã của họ ta”, thậm chí “ Đảng ủy họ ta”… không còn là vấn đề xa lạ Thực tế đó đã và đang làm trầm trọng thêm những mâu thuẫn trong nội bộ dân cư, có nơi,

có lúc những mâu thuẫn đó đã bùng phát trở thành những “ điểm nóng” và “ xung đột”

Trang 38

gây ra những hậu quả hết sức tai hại Như vậy, đông con không chỉ mang biểu tượng của sức mạnh kinh tế mà còn mang biểu tượng của sức mạnh chính trị, uy tín xã hội

Việc người ta muốn sinh nhiều con còn do chức năng “ bảo hiểm gia đình” của

con cái Nhìn chung thì trong xã hội, tâm lý “ trẻ cậy cha, già cậy con” đã trở thành

“công thức” khá phổ biến Lẽ dĩ nhiên thì nó là sản phẩm của nền kinh tế tự cung, tự cấp song ngày nay nó cũng có cơ sở tồn tại nhất định, tư tưởng này cũng tồn tại ngay cả ở những nước kinh tế- xã hội tương đối phát triển “Trẻ cậy cha, già cậy con” là một thực tế vừa có ý nghĩa kinh tế, vừa mang tính đạo lý, vừa như một giá trị của văn hóa ở nước ta hiện nay, do điều kiện kinh tế- xã hội còn khó khăn, đa số thế hệ người già hôm nay chủ yếu nhờ cậy vào con cái của họ, vô hình trung họ trở thành nhân tố “ kích thích” nhu cầu sinh đẻ và tác động không nhỏ tới tâm lý của thế hệ trẻ trong việc sinh con, đẻ cái để được “nhờ cậy” sau này

Biểu hiện của tâm lý muốn có nhiều con khá phong phú nhưng tựu chung là họ

có thể sử dụng mọi “cơ hội” có thể có để sinh con (ở đây bao gồm cả những cơ hội xét về phương diện pháp lý cũng như cơ hội thực tế) Một điều dễ nhận ra trong việc thực hiện chính sách dân số ở nước ta những năm qua là chỉ cần sự buông lỏng, thiếu kiểm tra, đôn đốc trong việc thực hiện chính sách dân số, thêm vào đó là sự thiếu chặt chẽ trong một số nội dung của Pháp lệnh Dân số 2003, lập tức tình trạng sinh con thứ 3 trở lên diễn ra nhanh, mạnh, khó kiểm soát ở nhiều nơi và ở nhiều đối tượng, đặc biệt là tình trạng này diễn ra ở không ít đối tượng là cán bộ, đảng viên

Tại huyện Thanh Miện- Hải Dương, năm 2004 có 19/19 xã và thị trấn có người sinh con thứ 3 trở lên, điển hình là xã Phạm Kha, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên đã cao hơn mức bình quân chung cả nước: 31/ 122 chiếm hơn 25,4% (bình quân cả nước khoảng 20- 21%) Trong tổng số 261 trường hợp sinh con thứ 3 trở lên của toàn huyện thì có 226 trường hợp con thứ 3, có 28 trường hợp là con thứ 4 còn lại là con thứ 5 Qua khảo sát

261 đối tượng sinh con thứ 3 trở lên ở huyện Thanh Miện có 166 trường hợp đã có 2 con gái nhưng cũng có tới 19 trường hợp đã có 2 con trai và 76 trường hợp đã có cả trai và gái Thực tế này nói lên rằng mong muốn có con trai (chúng ta sẽ phân tích ở phần sau) vẫn là phổ biến nhưng cũng có không ít những gia đình có xu hướng muốn sinh nhiều con cho dù họ đã có cả con trai và con gái

Trang 39

Việc các cặp vợ chồng mong muốn có con (trong đó phần lớn là muốn có nhiều con) còn thể hiện ở kết quả thực hiện các biện pháp tránh thai Sau khi Pháp lệnh dân số

2003 ra đời, các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, trong đó không ít cặp vợ chồng trẻ

đã từ chối sử dụng các biện pháp tránh thai để nhằm mục đích sinh thêm con

Bảng 2.4: Nguyên nhân từ chối áp dụng các biện pháp tránh thai xã

đã được giảm bớt Nhân tố quyết định tới thành công này phải kể tới vai trò của chính sách dân số và công tác tuyên truyền, vận động dân số- kế hoạch hóa gia đình, nhưng cũng không thể bỏ qua một thực tế là do những điều kiện kinh tế khó khăn, nhiều gia đình buộc phải “ chấp nhận” việc sinh ít con mặc dù ảnh hưởng của tâm lý muốn có nhiều con ở họ vẫn rất sâu sắc Việc sinh con thứ 3 trở lên tăng nhanh trong thời gian qua

có thể thấy rõ chủ yếu vẫn là do tâm lý muốn sinh nhiều con, nhưng điều gì làm cho tâm

lý này trỗi dậy mạnh mẽ? Theo ý kiến của tác giả thì “ chất men” xúc tác đó chính là sự

ra đời của pháp lệnh dân số 2003, đồng thời cũng do một thực tế là do điều kiện kinh tế

Ngày đăng: 27/06/2014, 19:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Phương Bích (1963), “Phương thức sản xuất châu á là gì?” Nghiên cứu lịch sử , (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương thức sản xuất châu á là gì?” "Nghiên cứu lịch sử
Tác giả: Nguyễn Phương Bích
Năm: 1963
2. Trương Chính (1994), Cha ông ta đã tiếp thu những gì tích cực ở các ý thức hệ phong kiến của Trung Quốc, Nho giáo Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cha ông ta đã tiếp thu những gì tích cực ở các ý thức hệ phong kiến của Trung Quốc
Tác giả: Trương Chính
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1994
3. Phan Đại Doãn- Nguyễn Toàn Minh (1997), Một số vấn đề làng xã trong lịch sử Việt Nam, (Chuyên đề lịch sử Việt Nam), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề làng xã trong lịch sử Việt Nam
Tác giả: Phan Đại Doãn- Nguyễn Toàn Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
4. Quang Đạm (1991), Khổng giáo và gia đình, Nho giáo xưa và nay, Nxb Khoa học xãhội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khổng giáo và gia đình
Tác giả: Quang Đạm
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1991
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (1982), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, Tập 1,Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1982
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (giữa nhiệm kỳ), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (giữa nhiệm kỳ)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, Lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1993
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 (khóa IX), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 (khóa IX)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
14. Nguyễn Thị Minh Đức (1995), Tâm lý “ trọng nam khinh nữ” trong xã hội hiện nay, Khoa học về phụ nữ, (10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: trọng nam khinh nữ” trong xã hội hiện nay," Khoa học về phụ nữ
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Đức
Năm: 1995
15. Trần Văn Giàu (1980), Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1980
16. Trần Văn Giàu (1994), Đạo đức Nho giáo và đạo đức truyền thống Việt Nam, Nho giáo Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức Nho giáo và đạo đức truyền thống Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1994
17. Phạm Minh Hạc (Chủ biên) (1978), Tâm lý học Liên- Xô, (Tiếng Việt), Nxb Tiến bộ, Maxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học Liên- Xô
Tác giả: Phạm Minh Hạc (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1978
18. Trương Mỹ Hoa (1995), Vai trò của phụ nữ Việt Nam trong phát triển kinh tế- xã hội, tham gia quản lý nhà nước và định hướng phát triển đến năm 2000, Tạp chí Cộng sản, (14) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của phụ nữ Việt Nam trong phát triển kinh tế- xã hội, tham gia quản lý nhà nước và định hướng phát triển đến năm 2000, Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Trương Mỹ Hoa
Năm: 1995
19. Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (Dự án VIE/97/P17) (2000), Dân số vàphát triển một số vấn đề cơ bản, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân số và "phát triển một số vấn đề cơ bản
Tác giả: Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (Dự án VIE/97/P17)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
20. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (Giáo trình TCLLCT) (2004), Văn hóa- xã hội, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa- xã hội
Tác giả: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (Giáo trình TCLLCT)
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Quan hệ giữa số con trung bình và trình độ học vấn của phụ nữ [66, tr 64] - LUẬN VĂN: Tác động của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số ở nước ta hiện nay docx
Bảng 1.1 Quan hệ giữa số con trung bình và trình độ học vấn của phụ nữ [66, tr 64] (Trang 27)
Bảng 2.1:  Tổng hợp kết quả thực hiện Chương trình dân số- KHHGĐ của tỉnh hải  Dương - Giai đoạn 1996- 2005 [53] - LUẬN VĂN: Tác động của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số ở nước ta hiện nay docx
Bảng 2.1 Tổng hợp kết quả thực hiện Chương trình dân số- KHHGĐ của tỉnh hải Dương - Giai đoạn 1996- 2005 [53] (Trang 32)
Bảng  2.3:  Cơ  cấu  sinh  con  thứ  3  trở  lên  giai  đoạn  2002-  2005  xã  Lê  Hồng-  Thanh  Miện- Hải Dương [60] - LUẬN VĂN: Tác động của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số ở nước ta hiện nay docx
ng 2.3: Cơ cấu sinh con thứ 3 trở lên giai đoạn 2002- 2005 xã Lê Hồng- Thanh Miện- Hải Dương [60] (Trang 34)
Bảng  2.4:  Nguyên  nhân  từ  chối  áp  dụng  các  biện  pháp  tránh  thai  xã   Lê Hồng [60] - LUẬN VĂN: Tác động của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số ở nước ta hiện nay docx
ng 2.4: Nguyên nhân từ chối áp dụng các biện pháp tránh thai xã Lê Hồng [60] (Trang 39)
Bảng 2.5: Biến động dân số xã Đoàn Tùng- Thanh Miện năm 2004 [57] - LUẬN VĂN: Tác động của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số ở nước ta hiện nay docx
Bảng 2.5 Biến động dân số xã Đoàn Tùng- Thanh Miện năm 2004 [57] (Trang 41)
Bảng 2.7: Tỷ lệ trẻ em đến trường theo độ tuổi [Nguồn: UNDP: Việt Nam qua lăng - LUẬN VĂN: Tác động của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số ở nước ta hiện nay docx
Bảng 2.7 Tỷ lệ trẻ em đến trường theo độ tuổi [Nguồn: UNDP: Việt Nam qua lăng (Trang 45)
Bảng  2.8:  Kết  quả  thực  hiện  các  biện  pháp  tránh  thai  huyện  Bình  Giang  những  tháng đầu năm 2005 [53] - LUẬN VĂN: Tác động của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số ở nước ta hiện nay docx
ng 2.8: Kết quả thực hiện các biện pháp tránh thai huyện Bình Giang những tháng đầu năm 2005 [53] (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w