1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận - luật vận tải biển - Đề tài - Tìm hiểu bộ luật An ninh, an toàn Cảng biển ( ISPS Code )

45 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm Hiểu Bộ Luật An Ninh, An Toàn Cảng Biển (Isps Code)
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Vận Tải Biển
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 283,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • PHẦN I Tìm hiểu bộ luật An ninh, an toàn Cảng biển ( ISPS Code ) (2)
    • 1. Quá trình hình thành, phát triển, cơ cấu, tổ chức, vai trò Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) (2)
    • 4. Nhận xét (0)
  • PHẦN II: Giải quyết bồi thường tổn thất theo quy định của Bộ luật Hàng hải Việt Nam (34)
    • 1. Những cơ sở pháp lí về luật hàng hải (34)
    • 2. Cơ sở lí luận về bảo hiểm, bồi thường tổn thất (35)
    • 3. Tính toán và giải quyết bồi thường (42)
  • KẾT LUẬN (44)

Nội dung

4.2 Một tàu có thể yêu cầu một bản Cam kết An ninh khi: 1 tàu đang hoạt động ở cấp độ an ninh cao hơn so với bến cảng hoặc tàukhác mà nó đang giao tiếp; 2 có một thỏa thuận về Cam kết An

Tìm hiểu bộ luật An ninh, an toàn Cảng biển ( ISPS Code )

Quá trình hình thành, phát triển, cơ cấu, tổ chức, vai trò Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO)

a Quá trình hình thành, phát triển

Do tính chất quốc tế của hoạt động hàng hải, các quốc gia nhận thấy rằng việc điều phối bởi một cơ quan quốc tế là cần thiết Hội nghị Hàng hải của LHQ được triệu tập tại Geneva từ 19/2 đến 6/3/1948 nhằm thông qua Công ước thành lập Tổ chức Tư vấn Liên Chính phủ về Hàng hải (IMCO), nay gọi là Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) Công ước có hiệu lực khi được 21 quốc gia, trong đó có 7 quốc gia có đội thương thuyền trên một triệu tấn, phê chuẩn Nhật Bản đã trở thành quốc gia thứ 21 phê chuẩn vào ngày 17/3/1958, đánh dấu ngày thành lập của IMO Năm 1960, IMO ký Hiệp định với LHQ và trở thành tổ chức chuyên môn của LHQ, có trụ sở tại Luân Đôn IMO hiện có mối quan hệ với nhiều tổ chức liên chính phủ và phi chính phủ khác, và có thể tổ chức Đại hội đồng ở nơi khác nếu được đa số thành viên đồng ý.

Các quốc gia trở thành thành viên đầy đủ của Tổ chức Hàng hải quốc tế sau khi chấp nhận Công ước thành lập tổ chức này.

Thành viên liên kết của Tổ chức Hàng hải quốc tế (IMO) bao gồm các lãnh thổ hoặc nhóm lãnh thổ mà một nước hội viên chịu trách nhiệm về quan hệ quốc tế Tính đến năm 2008, IMO có 167 quốc gia thành viên và 3 thành viên liên kết, bao gồm Hồng Kông, Ma Cao và quần đảo Faroe thuộc Đan Mạch Cơ cấu tổ chức của IMO đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý và phát triển các quy định hàng hải toàn cầu.

Đại hội đồng (Assembly) là cơ quan quyền lực cao nhất của Tổ chức Hàng hải quốc tế, bao gồm tất cả các nước thành viên và họp hai năm một lần, có thể tổ chức các khoá họp đặc biệt Chức năng chính của Đại hội đồng là xác định phương hướng làm việc cho tổ chức trong hai năm giữa các kỳ hội nghị, bầu Ban lãnh đạo, kết nạp thành viên mới, xem xét và thông qua chương trình ngân sách cùng các khuyến nghị của các uỷ ban, cũng như xem xét việc sửa đổi, bổ sung Công ước.

Hội đồng là cơ quan chấp hành của Tổ chức Hàng hải quốc tế, được bầu bởi Đại hội đồng với nhiệm kỳ 2 năm, gồm 40 thành viên Trong đó, 10 thành viên đại diện cho các quốc gia quan tâm đến dịch vụ hàng hải quốc tế, 10 thành viên cho thương mại hàng hải quốc tế, và 20 thành viên còn lại là những quốc gia có lợi ích đặc biệt trong vận tải biển, đảm bảo đại diện từ tất cả các khu vực địa lý lớn Hội đồng chịu trách nhiệm giải quyết toàn bộ công việc của tổ chức, bao gồm xem xét báo cáo, khuyến nghị từ các uỷ ban, và chuẩn bị báo cáo cho Đại hội đồng Trong thời gian giữa hai kỳ họp của Đại hội đồng, Hội đồng thực hiện chức năng của Đại hội đồng, ngoại trừ việc đưa ra khuyến nghị về an toàn biển và ngăn chặn ô nhiễm Ngoài ra, Hội đồng còn có trách nhiệm chỉ định Tổng thư ký để Đại hội đồng phê duyệt, và họp ít nhất một lần mỗi năm.

- Các uỷ ban: (gồm có 4 uỷ ban)

Uỷ ban An toàn hàng hải (Maritime Safety Committee) bao gồm tất cả các thành viên của Tổ chức và họp một lần mỗi năm Nhiệm vụ chính của Uỷ ban là quản lý các vấn đề liên quan đến an toàn hàng hải, bao gồm quy tắc tránh đâm va, xử lý hàng nguy hiểm, tìm kiếm và cứu nạn, phòng chống cháy nổ, cũng như hỗ trợ các quốc gia trong lĩnh vực kỹ thuật đóng tàu, trang bị tàu, tiêu chuẩn đào tạo và mẫu mã tàu.

Uỷ ban Bảo vệ môi trường biển (Marine Environment Protection Committee) bao gồm các thành viên của Tổ chức cùng với đại diện từ một số quốc gia không tham gia IMO nhưng là thành viên của các hiệp ước liên quan Nhiệm vụ chính của Uỷ ban là điều phối và quản lý các hoạt động nhằm ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm biển do tàu gây ra, đồng thời tìm kiếm các biện pháp hiệu quả để bảo vệ môi trường biển.

+ Uỷ ban Pháp lý (Legal Committee): bao gồm tất cả thành viên, mỗi năm họp

Uỷ ban có nhiệm vụ chính là quản lý tất cả các vấn đề pháp lý thuộc thẩm quyền của Tổ chức, bao gồm việc soạn thảo các công ước và điều khoản bổ sung để trình lên Hội đồng Ngoài ra, Uỷ ban cũng giải quyết các vấn đề pháp lý theo yêu cầu từ các cơ quan khác của Tổ chức.

Uỷ ban hợp tác kỹ thuật là tổ chức bao gồm tất cả các thành viên, họp hàng năm để nghiên cứu và đề xuất thực hiện các đề án hợp tác kỹ thuật với các nước thành viên Uỷ ban cũng có nhiệm vụ theo dõi các công việc của Ban Thư ký liên quan đến hợp tác kỹ thuật.

Ban thư ký được lãnh đạo bởi Tổng thư ký, người được Đại hội đồng bầu chọn, cùng với một số thành viên khác do Tổ chức đề xuất, có nhiệm kỳ 4 năm Ông Efthimios Mitropoulos, người Hy Lạp, đảm nhiệm vị trí Tổng Thư ký thứ 7 từ năm 2004 đến 2008.

Tổ chức Hàng hải quốc tế do Tổng thư ký lãnh đạo, người có quyền bổ nhiệm nhân viên trong Ban Thư ký với sự chấp thuận của Đại hội đồng Ban Thư ký đảm nhiệm các vấn đề liên quan đến hồ sơ, tài liệu và lập báo cáo trình Hội đồng để xem xét các khoản chi và ngân sách hàng năm.

Thúc đẩy hợp tác giữa các chính phủ trong lĩnh vực kỹ thuật và giao thông đường biển nhằm thống nhất tiêu chuẩn an toàn hàng hải Tổ chức Hàng hải quốc tế đóng vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường biển và ngăn chặn ô nhiễm từ phương tiện hàng hải Cơ quan này cũng chú trọng đến các vấn đề pháp lý, hành chính và đơn giản hóa thủ tục hàng hải quốc tế Họ hỗ trợ đào tạo thuyền viên, chủ tàu và cung cấp thông tin chuyên ngành cho các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển Ngoài ra, tổ chức khuyến khích bãi bỏ các biện pháp phân biệt đối xử và hạn chế không cần thiết của chính phủ đối với hàng hải quốc tế, đồng thời giúp các chính phủ củng cố và hiện đại hóa ngành hàng hải quốc gia.

2.Nội dung và tình hình thực hiện Công ước Quốc tế về an toàn sinh mạng trên biển ( SOLAS )

Hội nghị đầu tiên của Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) diễn ra vào năm 1960, dẫn đến việc thông qua Công ước Quốc tế về An toàn Sinh mạng trên Biển (SOLAS) năm 1960, có hiệu lực từ năm 1965 Công ước này tập trung vào việc nâng cao tính an toàn cho tàu thông qua các quy định về thiết kế, tính ổn định, lắp đặt máy móc, phòng chống cháy, thiết bị cứu sinh, thông tin liên lạc, an toàn hàng hải và vận chuyển hàng hóa nguy hiểm SOLAS đã được cập nhật vào năm 1974 và hiện đang được điều chỉnh linh hoạt để phù hợp với những thay đổi trong môi trường vận tải biển mà không cần triệu tập hội nghị mới.

1974 có hiệu lực kể từ ngày 25/5/1980 và tính đến ngày 31/2/1996 đã được 132 quốc gia phê chuẩn Nghị định thư 1978 của công ước có hiệu lực kể từ ngày 1/5/1981.

Ngày càng nhiều người nhận thức rằng tổn thất sinh mạng trên biển và ô nhiễm môi trường biển liên quan đến phương pháp quản lý của các hãng tàu Do đó, vào thập kỷ 90, Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) đã thực hiện bốn bước điều chỉnh các tiêu chuẩn quản lý trong ngành vận tải biển (VTB) Tại hội nghị về công ước SOLAS vào tháng 5/1994, quy tắc quản lý an toàn quốc tế đã được chính thức đưa vào chương IX của các quy tắc SOLAS Quy tắc này yêu cầu các hãng tàu phát triển, thực hiện và duy trì hệ thống quản lý an toàn (SMS).

1 Chính sách về sự an toàn của hãng và bảo vệ môi trường.

2 Lập các thủ tục đảm bảo rằng tàu hoạt động an toàn và bảo vệ môi trường.

3 Xác định cấp quyền lực và đường dây liên lạc cá nhân giữa tàu với bờ, giữa các tàu với nhau.

4 Trình tự ghi chép tai nạn và tuân theo quy tắc (ví dụ như: những lỗi đã xảy ra).

5 Thủ tục chuẩn bị và ứng phó với những tình huống khẩn cấp.

6.Thủ tục kiểm tra sổ sách nội bộ.

Quy tắc quản lý an toàn quốc tế (IMS) đã trở thành quy định bắt buộc cho các tàu chở khách và chở hàng trên 500 GT từ ngày 1/7/1998, ảnh hưởng đến khoảng 30.000 tàu và 7.000 hãng tàu Trước đây, các quy tắc an toàn chủ yếu tập trung vào sức khỏe, nhưng IMS đã mở ra một hướng mới cho quy tắc hàng hải bằng cách nhấn mạnh vào các khía cạnh quản lý kinh doanh VTB Điều này hứa hẹn sẽ phát sinh nhiều thách thức mới trong quá trình thực hiện và kiểm soát hệ thống phức tạp này.

Nhận xét

Giải quyết bồi thường tổn thất theo quy định của Bộ luật Hàng hải Việt Nam

1 Những cơ sở pháp lí về luật hàng hải a Phạm vi điều chỉnh về luật hàng hải Điều 1 : Phạm vi điều chỉnh

Bộ luật Hàng hải Việt Nam quy định chi tiết về các hoạt động hàng hải, bao gồm tàu biển, thuyền bộ, cảng biển, luồng hàng hải, vận tải biển, và an toàn hàng hải Luật cũng đề cập đến an ninh hàng hải, phòng ngừa ô nhiễm môi trường, cùng các hoạt động sử dụng tàu biển cho mục đích kinh tế, văn hóa, xã hội, thể thao, công vụ và nghiên cứu khoa học Đối với các phương tiện như tàu quân sự, tàu công vụ, tàu cá, thủy phi cơ, cũng như các cảng quân sự, cảng cá và bến thủy nội địa, chỉ áp dụng các quy định cụ thể khi có quy định rõ ràng trong Bộ luật này.

Trong trường hợp có sự khác biệt giữa quy định của Bộ luật hàng hải Việt Nam và các luật khác liên quan đến hoạt động hàng hải, quy định của Bộ luật hàng hải sẽ được ưu tiên áp dụng Điều này đảm bảo tính thống nhất và rõ ràng trong việc giải quyết tranh chấp liên quan đến lĩnh vực hàng hải.

Tranh chấp hàng hải là các tranh chấp phát sinh liên quan đến hoạt động hàng hải Điều 259 :Nguyên tắc giải quyết tranh chấp hàng hải

1.Các bên liên quan có thể giải quyết tranh chấp hàng hải bằng thương lượng, thỏa thuận hoặc khởi kiện tại Trọng tài hoặc Tòa án có thẩm quyền.

2 Tranh chấp hàng hải được Trọng tài hoặc Tòa án giải quyết theo thẩm quyền, thủ tục do pháp luật quy định. Điều 260: Giải quyết tranh chấp hàng hải có ít nhất một bên là tổ chức, cá nhân nước ngoài

1 Trường hợp hợp đồng có ít nhất một bên là tổ chức, cá nhân nước ngoài thì các bên tham gia hợp đồng có thể thỏa thuận đưa tranh chấp ra giải quyết tại Trọng tài hoặc Tòa án ở nước ngoài.

2 Trường hợp các bên liên quan đến tranh chấp hàng hải đều là tổ chức, cá nhân nước ngoài và có thỏa thuận bằng văn bản giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài Việt Nam thì Trọng tài Việt Nam có quyền giải quyết đối với tranh chấp hàng hải đó, ngay cả khi nơi xảy ra tranh chấp ngoài lãnh thổ Việt Nam.

3 Tranh chấp hàng hải quy định tại khoản 2 Điều này cũng có thể được giải quyết tại Tòa án Việt Nam nếu căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ giữa các bên liên quan đến tranh chấp hàng hải theo pháp luật Việt Nam hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở Việt Nam.

Giải quyết bồi thường tổn thất theo quy định của Bộ luật Hàng hải Việt Nam

Ngày đăng: 14/04/2025, 22:27

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w