1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận - Luật Vận Tải Biển - đề tài - Phân định các vùng biển của Việt Nam

30 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân định các vùng biển của Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Vận Tải Biển
Thể loại Tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 2,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Phần I: Căn cứ theo quy định của các Công ước của Luật biển quốc tế hãy Phân định các vùng biển của Việt Nam (2)
    • 1. Scan hoặc vẽ bản đồ vùng biển và các đảo của Việt Nam (0)
    • 2. Vẽ phân định các vùng: nội thuỷ, lãnh hải, thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế và công hải (6)
    • 3. Hãy lập luận và giải thích các vùng trên theo các công ước (7)
    • 1. Cơ sở pháp lí về luật hàng hải (0)
    • 2. Cơ sở lí luận về bảo hiểm và bồi thường tổn thất (0)
    • 3. Tính toán và giải quyết bồi thường (25)
  • Kết luận (28)

Nội dung

Căn cứ theo quy định của các Công ước của Luật biển quốc tế hãy Phân định các vùng biển của Việt Nam

Hãy lập luận và giải thích các vùng trên theo các công ước

Nội thủy, hay còn gọi là vùng nước nội địa, là khu vực nước nằm bên trong đường cơ sở được quy định bởi quốc gia ven biển để xác định chiều rộng lãnh hải Khu vực này tiếp giáp với bờ biển, trong khi vùng nước nằm ngoài đường cơ sở được gọi là lãnh hải.

Đường cơ sở để xác định lãnh hải được vạch từ đường ngấn nước thấp nhất, có thể là đường gãy khúc nối liền các điểm thích hợp Điều này áp dụng trong trường hợp bờ biển lồi lõm hoặc khi có các đảo ven bờ gần sát bờ biển.

- Đường cơ sở có 2 loại:

+ Đường cơ sở thông thường : Là đường ngấn nước triều thấp nhất dọc theo bờ biển, áp dụng cho những bờ biển phẳng không có đảo ven bờ.

Đường cơ sở thẳng là đường nối các đoạn thẳng giữa những điểm nhô ra xa nhất của bờ biển hoặc các đảo ven bờ, được áp dụng cho những bờ biển có hình dạng khúc khuỷu, lồi lõm và có nhiều đảo.

Vùng nước nội thủy được coi là một phần của lãnh thổ đất liền, chịu sự quản lý và chủ quyền tuyệt đối của quốc gia ven biển Tàu thuyền nước ngoài muốn vào hoặc ra khỏi vùng nước này cần xin phép và tuân thủ các quy định của quốc gia ven biển, có quyền từ chối cho phép nếu không đáp ứng yêu cầu.

Trong những năm gần đây, nhiều quốc gia ven biển đã mở rộng nội thủy bằng cách xác định đường cơ sở của mình Theo Tuyên bố ngày 12-5-1977 của Chính phủ Việt Nam, đường cơ sở của nước này được xác định bằng 11 điểm, từ hòn Nhạn đến đảo Cồn Cỏ, với nhiều điểm nằm xa bờ hơn 74 hải lý Ngược lại, Tuyên bố ngày 15-5-1996 của Trung Quốc về đường cơ sở gần quần đảo Hoàng Sa đã gây ra lo ngại cho các nước trong khu vực, vì điều này xâm phạm chủ quyền của Việt Nam Hoàng Sa là một phần lãnh thổ của Việt Nam, và việc Trung Quốc xác định đường cơ sở như vậy đã coi vùng nước bên trong quần đảo Hoàng Sa là nội thủy của họ, dẫn đến việc không quốc gia nào có quyền qua lại.

Lãnh hải là lãnh thổ biển, nằm ở phía ngoài nội thủy Ranh giới ngoài của lãnh hải được coi là đường biên giới quốc gia trên biển.

Công ước quốc tế về Luật biển 1982 quy định rằng lãnh hải của mỗi quốc gia ven biển có chiều rộng tối đa là 12 hải lý, được tính từ đường cơ sở Theo Điều 3 của Công ước, mỗi quốc gia có quyền xác định chiều rộng lãnh hải của mình nhưng không vượt quá giới hạn 12 hải lý từ đường cơ sở đã được quy định.

1977 của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng quy định:

“Lãnh hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam rộng 12 hải lý, ở phía ngoài đường cơ sở” (điểm 1).

Các quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đầy đủ trong vùng lãnh hải, tương tự như trên lãnh thổ của mình, bao gồm các lĩnh vực như lập pháp, hành pháp, tư pháp, phòng thủ quốc gia, cảnh sát, thuế quan, đánh cá, khai thác tài nguyên, đấu tranh chống ô nhiễm và nghiên cứu khoa học Tuy nhiên, các tàu thuyền nước ngoài được phép đi qua vùng lãnh hải theo quyền đi qua không gây hại, tức là họ có thể di chuyển mà không cần xin phép, miễn là không thực hiện các hoạt động gây hại.

- Đe dọa hoặc dùng vũ lực chống lại chủ quyền, độc lập, toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia ven biển.

- Luyện tập, diễn tập với bất kỳ loại vũ khí nào.

- Thu thập tin tức tình báo gây thiệt hại cho nước ven biển.

- Tuyên truyền nhằm làm hại đến nước ven biển.

- Phóng đi, tiếp nhận hay xếp lên tàu các phương tiện bay, phương tiện quân sự

- Xếp dỡ hàng hóa, tiền bạc, đưa người lên xuống tàu trái quy định của nước ven biển.

- Cố ý gây ô nhiễm nghiêm trọng.

- Làm rối loạn hoạt động giao thông liên lạc.

- Mọi hoạt động khác không trực tiếp liên quan đến việc đi qua.

(theo Điều 19 Công ước về Luật biển 1982).

3.3 Thềm lục địa (Continental shelf)

Thềm lục địa là phần nền của lục địa, bắt đầu từ bờ biển và kéo dài thoai thoải ra khơi cho đến khi gặp độ sâu hẫng Ở những khu vực có bờ biển bằng phẳng, thềm lục địa có thể mở rộng rất xa, trong khi ở những nơi bờ biển khúc khuỷu, thềm này thường co hẹp lại gần bờ hơn Ví dụ, tại ven biển miền Trung Việt Nam, thềm lục địa chỉ kéo dài khoảng 50 km ra ngoài trước khi thụt sâu xuống hơn 1.000 m Các nhà địa chất học gọi vùng đáy biển thoai thoải này là thềm lục địa, và nó kéo dài đến đâu thì thuộc về thềm lục địa của quốc gia đó, không phụ thuộc vào độ sâu.

Thềm lục địa là phần mở rộng tự nhiên của lục địa ra biển, thể hiện sự kéo dài lãnh thổ quốc gia ven biển Do đó, thềm lục địa thuộc quyền sở hữu của các quốc gia ven biển.

Theo Công ước về Luật biển năm 1982, thềm lục địa của quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển ngoài lãnh hải, kéo dài tự nhiên từ lãnh thổ đất liền đến bờ ngoài của rìa lục địa hoặc 200 hải lý từ đường cơ sở tính lãnh hải Chẳng hạn, thềm lục địa miền Trung Việt Nam có thể mở rộng tới 200 hải lý.

Thềm lục địa có thể được mở rộng tối đa 350 hải lý từ đường cơ sở hoặc đến đường đẳng sâu 2.500m, với điều kiện không vượt quá 100 hải lý từ điểm sâu nhất Khi mở rộng thềm lục địa quá 200 hải lý, quốc gia ven biển cần thông báo cho Ủy ban ranh giới thềm lục địa (CLCS) và gửi bản đồ xác định ranh giới ngoài của thềm lục địa cho Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc.

76) Các ranh giới do quốc gia ven biển ấn định trên cơ sở kiến nghị của CLCS mang tính chất dứt khoát và bắt buộc.

Tuyên bố ngày 12-5-1977 của Việt Nam xác định rằng thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, kéo dài tự nhiên từ lục địa Việt Nam ra ngoài lãnh hải cho đến bờ ngoài của rìa lục địa Nếu bờ ngoài rìa lục địa gần hơn 200 hải lý so với đường cơ sở tính chiều rộng lãnh hải, thì thềm lục địa sẽ mở rộng thêm 200 hải lý từ đường cơ sở đó.

Thềm lục địa là phần đáy biển và lòng đất nằm dưới nội thủy, lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế của một quốc gia Trong một số trường hợp, thềm lục địa có thể mở rộng ra ngoài 200 hải lý, kéo dài đến đáy biển khơi.

Quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với thềm lục địa, cho phép thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên như khoáng sản, dầu khí và các nguồn tài nguyên sinh vật Quyền này là đặc quyền của quốc gia ven biển, nên không ai có thể thực hiện các hoạt động khai thác mà không có sự đồng ý của quốc gia đó Chỉ quốc gia ven biển mới có quyền cho phép và quy định việc khoan thăm dò trên thềm lục địa Tuy nhiên, khi thực hiện quyền này, quốc gia ven biển phải tôn trọng chế độ pháp lý của vùng nước phía trên và không được gây thiệt hại đến hàng hải hoặc quyền tự do của các quốc gia khác.

Khi khai thác thềm lục địa ngoài 200 hải lý từ đường cơ sở, các quốc gia ven biển cần phải nộp đóng góp tiền hoặc hiện vật theo quy định của công ước.

Tính toán và giải quyết bồi thường

a Xác định giá trị tổn thất cho chủ tàu.

- Con tàu có trị giá : Vtàu = 8.10 6 (USD)

- Chi phí cho tổn thất chung của chủ tàu:

Bchủ tàu = Lệ phí ghé + chi phí xếp dỡ lại hàng

= 4000 + 7000= 11000 (USD) b Xác định giá trị tổn thất cho chủ hàng và cước phí.

- Giá trị bảo hiểm của hàng hóa: Áp dụng công thức : V Trong đó C: giá trị hàng tại cảng xếp tính theo giá FOB

R: tỷ lệ phí bảo hiểm

A: tỷ lệ lãi dự tính

V: giá trị bảo hiểm của hàng hóa

Giá trị 1 tấn hàng = = 63,33 (USD)

+) Vì có 2000 T hàng bị mất nên suy ra phần hy sinh tổn thất chung của chủ hàng là:

+) Mưa to làm gỗ trên boong tàu bị ngấm nước (tổn thất riêng) 5000 T hàng và làm giảm giá trị 50%.

Suy ra: giá trị tổn thất riêng = giá trị 5000 T hàng giảm giá trị + chi phí giám định

= 5000.63,33.0,5 + 80000 = 166325 (USD) c Giải quyết bồi thường.

- Số tiền tham gia đóng góp tổn thất chung: ai = vi

Trong đó : ai : số tiền tham gia đóng góp của từng quyền lợi

B : Tổng giá trị tổn thất chung

V : Tổng giá trị phải đóng góp tổn thất chung vi : giá trị phải đóng góp tổn thất chung của từng quyền lợi

Suy ra : a chủ tàu =(137660 / 9076666.67) 8.10 6 = 121330,86 (USD)

+) Do chủ tàu mua bảo hiểm với số tiền bảo hiểm bằng 60% giá trị bảo hiểm của đối tượng bảo hiểm Suy ra:

Số tiền mà công ty bảo hiểm phải bồi thường cho chủ tàu là :

Mức miễn bồi thường là 3000 (USD)

TH1: Miễn bồi thường không khấu trừ.

Số tiền mà công ty bảo hiểm phải bồi thường cho chủ tàu là: 72798,52 (USD) TH2: Miễn bồi thường có khấu trừ.

Số tiền mà công ty bảo hiểm phải bồi thường cho chủ tàu là:

+) Do chủ hàng mua bảo hiểm cho hàng với số tiền bằng 60% giá trị của đối tượng bảo hiểm Suy ra:

Công ty bảo hiểm sẽ bồi thường cho tổn thất chung số tiền là:

Chủ hàng mua bảo hiểm theo điều kiện WA nên:

Số tiền mà công ty bảo hiểm phải bồi thường cho chủ hàng =Bồi thường tổn thất chung + Bồi thường tổn thất riêng = 9797,47 + 166325 = 176122,47(USD)

Mức miễn bồi thường là 2000 (USD)

+) TH1: Miễn bồi thường không khấu trừ.

Công ty sẽ bồi thường cho chủ hàng 176122,47 (USD) = 3698571870 (VNĐ) Suy ra việc chủ hàng khiếu nại công ty bảo hiểm bồi thường cho mình 2 tỷ (VNĐ ) là đúng

+) TH2: Miễn bồi thường có khấu trừ.

Công ty sẽ bồi thường cho chủ hàng 176122,47– 2000 = 174122,47 (USD)

Suy ra việc chủ hàng khiếu nại công ty bảo hiểm bồi thường cho mình 2 tỷ(VNĐ ) là đúng

Ngày đăng: 13/04/2025, 01:31

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w