1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận - Luật Vận Tải Biển - đề tài - Tìm hiểu bộ luật quốc tế về An ninh Tàu và Cảng biển (ISPS Code) và giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa đường biển

32 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm Hiểu Bộ Luật Quốc Tế Về An Ninh Tàu Và Cảng Biển (Isps Code) Và Giải Quyết Tranh Chấp Hợp Đồng Vận Chuyển Hàng Hóa Đường Biển
Trường học Trường Đại Học Giao Thông Vận Tải
Chuyên ngành Luật Hàng Hải
Thể loại Tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 241,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những mục tiêu, hoạt động chính của Tổ chức Hàng hải quốc tế trong những năm 2000 theo Nghị quyết A.90021 ngày 16/11/1999 của Đại hộiđồng Tổ chức Hàng hải quốc tế là: Tiến hành các biện

Trang 1

MỤC LỤC

I Lời mở đầu 2

II Phần I: Tìm hiểu bộ luật An ninh, an toàn cảng biển ( ISPS Code) 31.Tìm hiểu quá trình hình thành, phát triển, cơ cấu tổ chức, vai trò tổ chức hàng hải Quốc tế (IMO) 3

2 Tìm hiểu nội dung và tình hình thực hiện Công ước quốc tế về an toàn sinh mạngtrên biển (SOLAS) 63.Tìm hiểu sự ra đời và các nội dung chính của Bộ luật an ninh, an toàn bến cảng (ISPS Code).Tình hình thực hiện ISPS code tại các cảng biển Việt Nam 7

4 Nhận xét của bản thân 22III Phần II:Giải quyết tranh chấp hợp dồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển theo luật Hàng hải 241.Những quy định của luật hàng hải Việt Nam về nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền miễn trách nhiệm của người vận chuyển 242.Quy định của luật hàng hải Việt Nam về tổn thất chung.Trình bày những công việc mà chủ tàu phải làm trước khi trả hàng cho người nhận khi có TTC,điều kiện

để được thừa nhận tổn thất chung 263.Tính số tiền các bên (chủ tàu, chủ cước, các chủ hàng) phải tham gia đóng góp tổn thất chung, số tiền mà các bên phải đóng thêm hoặc nhận về

4.Tính số tiền mà các bên được các hãng bảo hiểm bồi thường 315.Tính số tiền chủ tàu bồi thường cho chủ hàng D trong phạm vi trách nhiệm của chủ tàu……… 326.Quan điểm cá nhân về sự bồi thường của chủ tàu đối với chủ hàng D đã thỏa đáng hay chưa……… 32

IV Kết Luận 33

I Lời mở đầu

Trang 2

Đối với mỗi quốc gia có biển, ngành hàng hải đóng 1 vai trò vô cùng quantrọng trong chính trị cũng như trong kinh tế Việt Nam là một trong số những quốcgia đó Có đường bờ biển dài trên 3000km có nhiều vịnh, nhiều song thuận tiện choviệc giao thông đường thuỷ, đó là lý do đã thúc đẩy việc phát triển ngành hàng hải

ở nước ta từ rất sớm

Theo Cục Đăng kiểm Việt Nam, trong năm 2008, cả nước chỉ vài trăm contàu đủ điều kiện tham gia vận tải biển quốc tế thì có tới 80 lượt tàu bị lưu giữ dokhông đáp ứng được các tiêu chuẩn bảo dưỡng, khai thác, an toàn Riêng 3 thángđầu năm nay đã có tới 15 tàu bị lưu giữ

Như vậy, việc đội tàu Việt Nam có tên trong "danh sách đen" các cảng quốc

tế đã không còn là sự cố sự ngẫu nhiên, do kỳ thị, do hiểu nhầm hoặc do các chủtàu không nắm bắt thông tin, quy định về công ước hàng hải, vận tải biển quốc tế.Nguy hiểm hơn, nếu không tự mình khắc phục để xoá tên trong danh sách đó, cóthể sẽ thành định kiến xấu vĩnh viễn về đội tàu Việt Nam

Vận tải có ý nghĩa và vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, nókhông trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất của xã hội nhưng nó là cầu nối giữa cácngành sản xuất, giữa sản xuất và tiêu thụ Trong ngành vận tải thì vận tải biển cótính chất đặc biệt quan trọng bởi tính ưu việt của nó đó là: phạm vi vận chuyểnmang tính toàn cầu; tốc độ giao hàng đến nơi tiêu thụ tương đối nhanh và chi phíthấp nhất Đó là quy mô lớn để tiến hành sản xuất trong phạm vi rộng lớn, giáthành hạ, năng suất lao động cao, tiêu thụ nhiên liệu ít …

Trong lĩnh vực vận tải biển, chúng ta đã có một đội ngũ quản lý, cán bộ kỹthuật lành nghề và giàu kinh nghiệm Tuy nhiên, để đạt được trình độ quốc tế vềlĩnh vực vận tải biển cần đòi hỏi việc học tập nâng cao trình độ chuyên môn vànghiệp vụ của tất cả mọi người ở lĩnh vực này Việc đoà tạo một đội ngũ nhữngngười làm công tác vận tải biển cho trước mắt và lâu dài cho nước ta có đủ trình độchuyên môn nghiệp vụ sánh hàng với quốc tế là một việc làm cần thiết Nhữngngười làm vận tải biển ngoài việc giỏi nghiệp vụ chuyên môn còn phải vững về lĩnhvực pháp lý trong vận tải biển, bởi một lẽ là vận tải biển tự nó đã bao hàm ý nghĩaviệc giao lưu hàng hoá có tính chất quốc tế, tính trách nhiệm trong chuyên chở, tínhhợp pháp của lô hàng vận chuyển Chính vì vậy việc tìm hiểu Bộ luật hàng hải ViệtNam và các công ước quốc tế về hàng hải trpử nên vô cùng cần thiết và hữu ích đốivới chúng ta

II

ĐỀ TÀI: Tìm hiểu bộ luật quốc tế về An ninh Tàu và Cảng biển (ISPS

Trang 3

Phần I: Tìm hiểu bộ luật An ninh, an toàn Cảng biển (ISPS Code)

1/ Tìm hiểu quá trình hình thành, phát triển ,cơ cấu tổ chức, vai trò Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO).

+/Quá trình hình thành, phát trỉên :

Từ ngày 19/2 đến 6/3/1948, Hội nghị Hàng hải của Liên hợp quốc đã được Hội đồng Kinh tế xã hội (ECOSOC) triệu tập tại Geneva (Thuỵ Sĩ) Hội nghị

đã thông qua Công ước thành lập Tổ chức Tư vấn liên chính phủ về hàng

hải, gọi tắt là IMCO (Inter-gouvernmental Maritime Consultative

Organisation), tên gọi trước năm 1982 của Tổ chức Hàng hải quốc tế IMO ngày nay

Theo qui định, Công ước phải được 21 quốc gia, trong đó có 7 quốc gia có

đội thương thuyền trọng tải trên một triệu tấn, phê chuẩn thì Công ước mới

có hiệu lực Ngày 17/3/1958, Nhật Bản là nước thứ 21 và cũng là nước thứ

8 có đội thương thuyền có trọng tải trên một triệu tấn phê chuẩn Công ước,

đây chính là ngày Công ước của Tổ chức Hàng hải quốc tế bắt đầu có hiệu

lực và được lấy làm ngày thành lập của Tổ chức Hàng hải quốc tế

Năm 1960, Tổ chức Hàng hải quốc tế ký Hiệp định với Liên hợp quốc để

trở thành cơ quan chuyên môn của tổ chức này (theo Điều 57 và 63 của

Hiến chương Liên hợp quốc ) Tổ chức Hàng hải quốc tế có quan hệ với

nhiều tổ chức liên chính phủ và phi chính phủ khác, có trụ sở tại Luân Đôn

(Anh) và là tổ chức chuyên môn duy nhất của Liên hợp quốc có trụ sở tại

Anh Tuy nhiên, Đại hội đồng có thể họp ở một nơi khác nếu đa số 2/3

thành viên nhất trí

Tổ chức Hàng hải quốc tế có 2 loại thành viên:

- Thành viên đầy đủ : gồm các quốc gia là thành viên của Liên hợp quốc

sau khi đã chấp nhận Công ước thành lập Tổ chức Hàng hải quốc tế

Thành viên liên kết: gồm các lãnh thổ hoặc các nhóm lãnh thổ do một

nước hội viên Tổ chức Hàng hải quốc tế hoặc Liên hợp quốc chịu trách

nhiệm về quan hệ quốc tế của lãnh thổ này

- Cho đến nay (2008), Tổ chức Hàng hải quốc tế có 167 quốc gia thành

viên và 3 thành viên liên kết (Hồng Kông, Ma Cao, và quần đảo Faroe

thuộc Đan Mạch)

+/Cơ cấu tổ chức:

Đại hội đồng (Assembly):là cơ quan quyền lực cao nhất của Tổ chức Hàng

hải quốc tế, bao gồm toàn bộ các nước thành viên của Tổ chức, họp hai

năm một lần (có thể có những khoá họp đặc biệt) Đại hội đồng có chức

năng: Xác định phương hướng làm việc của Tổ chức cho 2 năm giữa hai

Trang 4

kỳ hội nghị; bầu Ban lãnh đạo của Tổ chức và kết nạp các thành viên mới;xem xét, thông qua chương trình ngân sách, các khuyến nghị của các uỷban; xem xét việc sửa đổi, bổ sung Công ước v.v.

Hội đồng (Council): Được Đại hội đồng bầu ra, nhiệm kỳ 2 năm Các thànhviên hết nhiệm kỳ được bầu lại Hội đồng gồm 40 thành viên do Đại hộiđồng bầu theo các nguyên tắc sau:

10 thành viên là các quốc gia đặc biệt quan tâm đến việc cung cấp dịch vụhàng hải quốc tế 10 thành viên khác là các quốc gia đặc biệt quan tâmđến thương mại hàng hải quốc tế 20 thành viên còn lại không được bầutheo các tiêu chuẩn trên nhưng phải là những quốc gia có lợi ích đặc biệttrong vận tải biển, cuộc bầu cử phải bảo đảm nguyên tắc là tất cả các khuvực địa lý lớn đều có đại diện trong Hội đồng Hội đồng là cơ quan chấphành của Tổ chức Hàng hải quốc tế và chịu trách nhiệm giải quyết toàn bộcác công việc của Tổ chức (xem xét các báo cáo, các khuyến nghị của các

uỷ ban, xét duyệt chương trình ngân sách, chuẩn bị các báo cáo lên Đạihội đồng) Giữa hai kỳ họp của Đại hội đồng, Hội đồng thực hiện tất cả cácchức năng của Đại hội đồng, ngoại trừ chức năng đưa ra các khuyến nghịcho các chính phủ về an toàn biển và ngăn chặn ô nhiễm (quyền dành

riêng của Đại hội đồng theo Điều 15 của Công ước) Hội đồng cũng cótrách nhiệm chỉ định Tổng thư ký để Đại hội đồng chuẩn y Hội đồng họp ítnhất mỗi năm một lần

Các uỷ ban: (gồm có 4 uỷ ban)

Uỷ ban An toàn hàng hải (Maritime Safety Committee): gồm toàn bộ cácthành viên của Tổ chức, mỗi năm họp một lần Nhiệm vụ chủ yếu của Uỷban này là chịu trách nhiệm toàn bộ các vấn đề liên quan đến an toàn hànghải, đến các qui tắc tránh đâm va, xử lý các hàng nguy hiểm, tìm và cứunạn, phòng chống cháy nổ, giúp đỡ các nước trong lĩnh vực kỹ thuật đóngtầu, trang bị cho tầu, các tiêu chuẩn đào tạo, mẫu mã tầu

Uỷ ban Bảo vệ môi trường biển (Marine Environment Protection

Committee): gồm toàn bộ các thành viên của Tổ chức, cùng với đại diệnmột số quốc gia không tham gia IMO nhưng là thành viên của các hiệpước li ên quan đến những lĩnh vực mà Uỷ ban hoạt động Nhiệm vụ chính

là điều phối và quản lý các hoạt động của Tổ chức về ngăn ngừa và kiểmsoát ô nhiễm biển do tầu gây ra và tìm ra các biện pháp để chống lại sự ônhiễm, bảo vệ tốt môi trường biển

Uỷ ban Pháp lý (Legal Committee): bao gồm tất cả thành viên, mỗi nămhọp 1 lần Nhiệm vụ chủ yếu của Uỷ ban này là chịu trách nhiệm toàn bộcác vấn đề pháp lý trong thẩm quyền của Tổ chức, dự thảo các công ước,

Trang 5

đồng thời giải quyết bất kỳ vấn đề pháp lý nào do các cơ quan khác của Tổchức yêu cầu.

Uỷ ban hợp tác kỹ thuật (Technical Cooperation Committee): bao gồm tất

cả các thành viên Mỗi năm họp một lần Nhiệm vụ chính của Uỷ ban này

là nghiên cứu và đề xuất việc thực hiện các đề án hợp tác kỹ thuật với cácnước thành viên Theo dõi các công việc của Ban Thư ký có liên quan đếnhợp tác kỹ thuật

Ban thư ký: Đứng đầu Ban thư ký là Tổng thư ký do Đai hội đồng bầu vàmột số thành viên khác do Tổ chức đề nghị, nhiệm kỳ 4 năm Ông

Efthimios Mitropoulos (người Hy Lạp) là Tổng Thư ký thứ 7, nhiệm kỳ 2004

2008, của Tổ chức Hàng hải quốc tế Tổng thư ký là viên chức cao nhấtcủa Tổ chức có quyền bổ nhiệm các nhân viên trong Ban Thư ký với

sự chấp thuận của Đại hội đồng Ban Thư ký chịu trách nhiệm toàn

bộ các vấn đề về hồ sơ, tài liệu, lập và trình lên Hội đồng xem xét các

khoản chi và ngân sách hàng năm v.v

+/Vai trò :

Mục đích và chức năng chủ yếu của Tổ chức Hàng hải quốc tế là thúc đẩy

sự hợp tác giữa các chính phủ trong lĩnh vực kỹ thuật và các lĩnh vực kháccủa giao thông đường biển tiến tới thống nhất ở mức cao nhất các tiêu

chuẩn về an toàn hàng hải và giao thông trên biển Tổ chức Hàng hải quốc

tế có trách nhiệm đặc biệt trong việc bảo vệ biển, và môi trường biển thôngqua việc ngăn chặn ô nhiễm biển từ các phương tiện hàng hải; quan tâmđến các vấn đề pháp lý và hành chính liên quan đến giao thông biển quốc

tế và vấn đề đơn giản hoá các thủ tục về hàng hải quốc tế; giúp đỡ kỹ

thuật và đào tạo thuyền viên, chủ tầu, thợ máy tầu, cung cấp các thông tinchuyên ngành cho các nước thành viên, đặc biệt là các nước đang phát

triển; khuyến khích việc bãi bỏ những biện pháp phân biệt đối xử và nhữnghạn chế không cần thiết của các chính phủ đối với hàng hải quốc tế, đưahàng hải vào phục vụ thương mại quốc tế, giúp đỡ và khuyến khích các

chính phủ củng cố và hiện đại hoá ngành hàng hải quốc gia

Những mục tiêu, hoạt động chính của Tổ chức Hàng hải quốc tế trong

những năm 2000 (theo Nghị quyết A.900(21) ngày 16/11/1999 của Đại hộiđồng Tổ chức Hàng hải quốc tế là: Tiến hành các biện pháp thực hiện

chính sách tích cực nhằm xác định và hạn chế tác hại của các xu hướng

có tác động xấu đến an toàn hàng hải; Hướng trọng tâm vào con người;

Đảm bảo sự thực hiện thống nhất các tiêu chuẩn và qui định hiện có của

Tổ chức Hàng hải quốc tế; Đảm bảo sự chấp nhận rộng rãi các tiêu chuẩn;Phát triển nhận thức về môi trường và an toàn; Tránh xây dựng quá nhiềuqui định; Củng cố các chương trình hợp tác kỹ thuật của Tổ chức Hàng hảiquốc tế; Thúc đẩy các nỗ lực ngăn chặn và trấn áp các hành động vi phạmpháp luật đe doạ an toàn của tàu thuyền, nhân viên trên tàu và môi trường

Trang 6

Việt Nam gia nhập Tổ chưc Hàng hải quốc tế (IMO) ngày 28/5/1984 Hiện

nay đã chính thức tham gia 15 Công ước và nghị định thư của IMO (tổng

số có khoảng 40 Công ước và Nghị định thư)

IMO đã giúp Việt Nam đào tạo một số cán bộ kỹ thuật hàng hải, một số kỹ

sư máy tầu, sửa chữa tầu qua việc tham gia các hội nghị, hội thảo quốc tế

và trong nước cũng như các lớp đào tạo ngắn và dài hạn do IMO tổ chức

Việt Nam cũng đã tham gia đầy đủ các hội nghị thường niên của Đại hội

đồng IMO được tổ chức 2 năm/lần Những đóng góp của Việt Nam trong

các hoạt động của IMO đã được đánh giá cao Việt Nam cũng đã và đang

tranh thủ các Ủy ban của IMO trong việc đào tạo cán bộ cho ngành hàng

hải, nhất là lĩnh vực pháp luật, an toàn, an ninh hàng hải cũng như bảo vệ

môi trường biển Hiện nay, Việt Nam đang nghiên cứu việc tham gia vào

chương trình đánh giá tàu biển IMO và việc phá dỡ tàu hết thời hạn sử

dụng Việt Nam cũng góp phần vào thể hiện quyết tâm trong hoạt động của

ngành hàng hải quốc tế trong việc đảm bảo an toàn, an ninh hàng hải và

bảo vệ môi trường biển thông qua việc tăng cường hợp tác giữa các nước

thành viên IMO

2/ Tìm hiểu nội dung chính và tình hình thực hiện Công ước quốc tế về an toàn sinh mạng trên biển (SOLAS) trên thế giới.

Hội nghị đầu tiên của IMO được tổ chức vào năm 1960, thông qua công ước quốc

tế về an toàn sinh mạng trên biển 1960, có hiệu lực từ năm 1965, nội dung baogồm những vấn đề về đo lường thiết kế nhằm nâng cao tính an toàn cho tàu Cácđiều khoản của công ước bao gồm: Việc thiết kế và tính ổn định vững chắc của tàukhách và tàu chở hàng, lắp đặt máy móc và điện, phòng chống cháy, thiết bị cứusinh, thông tin liên lạc, an toàn hành hải, vận chuyển hàng hoá nguy hiểm SOLASđược cập nhật vào năm 1974 và hiện tại đang được phối hợp với việc sửa đổi theo

đó công ước có thể được cập nhật chú trọng tới những thay đổi trong môi trườngVTB mà không cần phải triệu tập hội nghị Công ước SOLAS 1974 có hiệu lực kể

từ ngày 25/5/1980 và tính đến ngày 31/2/1996 đã được 132 quốc gia phê chuẩn.Nghị định thư 1978 của công ước có hiệu lực kể từ ngày 1/5/1981.Công ước

SOLAS yêu cầu mỗi tàu hành hải quốc thế (trọng tải trên 50 GT)

phải có trên tàu:

Các tàu hàng:

-Giấy phép Cấu trúc an toàn tàu chở hàng

-Giấy phép thiết bị an toàn tàu chở hàng

-Giấy phép Vô tuyến điện an toàn tàu chở hàng

Giấy phép an tòan tàu chở hàng kết hợp 1,2 và 3

Giấy phép này ban hành có thể thay thế 1,2 và 3 cái trên Tất cả giấy phép

kể trên phải phù hợp vói Biên bản Thiết bị cung cấp danh mục cần có trên

boong của tàu phù hợp

Trang 7

đại của khoang có khả năng ngập, độ ổn định bảo toàn và hư hại, được bảo

đảm theo giấy phép cấu trúc an toàn

Đối với tàu khách:

-Giấy phép an toàn tàu khách

Giấy phép an toàn tàu khách có cùng nội dung được sử dụng sớm hơn giấy

a Sự ra đời của bộ luật an ninh,an toàn bến cảng (ISPS code).

Bộ luật Quốc tế về An ninh Tàu và Bến cảng (Bộ luật ISPS) là thành quả chỉ sau hơnmột năm làm việc tích cực của ủy ban An toàn Hàng hải IMO và Nhóm Công tác Anninh Hàng hải kể từ khi phiên họp lần thứ 22 của Đại hội đồng, tháng 11 năm 2001,thông qua nghị quyết A.924(22) về việc xem xét lại các biện pháp và qui trình ngănngừa các hành động khủng bố đe dọa an ninh của hành khách, thuyền viên và an toàntàu Bộ luật ISPS được thông qua bằng một trong số các nghị quyết do Hội nghị cácChính phủ ký kết Công ước Quốc tế về An toàn Sinh mạng Con người trên Biển,

1974 (Luân-đôn, 9-13 tháng 12 năm 2002) thông qua ngày 12 tháng 12 năm 2002.Một nghị quyết khác đưa ra các bổ sung sửa đổi cần thiết cho chương V và chương

XI của SOLAS, theo đó việc tuân thủ Bộ luật này sẽ trở thành bắt buộc kể từ ngày 1tháng 7 năm 2004 nếu nó được chấp nhận vào ngày 1 tháng 1 năm 2004 Chương XIhiện có được sửa đổi và đánh số lại là chương XI-1 và chương XI-2 mới được thôngqua về các biện pháp nâng cao an ninh hàng hải Bộ luật ISPS và các bổ sung sửa đổicủa SOLAS nêu trong ấn phẩm này cũng như các nghị quyết khác được Hội nghịthông qua (liên quan đến công việc cần phải hoàn thành trước khi có thể triển khaithực hiện Bộ luật vào năm 2004 và việc xem xét lại Bộ luật, sự hợp tác kỹ thuật, vàcông việc phối hợp với Tổ chức Lao động Quốc tế và Tổ chức Hải quan Thế giới)

Mục đích của Bộ luật này là thiết lập một khuôn khổ quốc tế liên quan đến việc hợp tác giữa các Chính phủ ký kết, các cơ quan Chính phủ, chính quyền địa phương và ngành công nghiệp vận tải biển và cảng để phát hiện/đánh giá các mối đe dọa an ninh và có các biện pháp ngăn ngừa đối với các sự cố an ninh ảnh hưởng đến tàu và bến cảng được sử dụng trong thương mại quốc tế; thiết lập vai trò và trách nhiệm tương ứng của tất cả các bên liên quan, ở cấp độ quốc gia và quốc tế, để đảm bảo an ninh hàng hải; đảm bảo sự so sánh và trao đổi kịp thời, có hiệu quả những thông tin liên quan đến an ninh; cung cấp phương pháp luận cho việc đánh giá an ninh để có các kế hoạch và qui trình ứng phó với những thay đổi về cấp độ an ninh;

và để đảm bảo chắc chắn rằng các biện pháp an ninh hàng hải thích hợp và tương xứng được thực hiện Những mục đích này phải đạt được bằng cách chỉ định các sĩ quan/nhân viên thích hợp trên mỗi tàu, trong mỗi bến cảng và trong mỗi công ty vận tải biển để chuẩn bị và triển khai các kế hoạch an ninh được phê duyệt cho mỗi tàu

Trang 8

và cảng Phần A của Bộ luật là các yêu cầu bắt buộc liên quan đến các điều khoản của chương XI-2 SOLAS, 1974, đã được sửa đổi, phần B của Bộ luật là hướng dẫn liên quan đến các điều khoản của chương XI-2 SOLAS 1974, đã được sửa đổi

b Nội dung chính của bộ luật an ninh,an toàn bến cảng (isps code).

1.AN NINH BẾN CẢNG

1.1 Bến cảng được yêu cầu hoạt động ở các cấp độ an ninh do Chính phủ Ký kết

mà bến cảng thuộc chủ quyền thiết lập Các biện pháp và qui trình an ninh phảiđược áp dụng tại bến cảng theo cách sao cho giảm thiểu những trở ngại, hoặc chậmtrễ đối với hành khách, tàu, nhân viên trên tàu, khách, hàng hóa và các dịch vụ

1.2 Ở cấp độ an ninh 1, những hành động sau đây phải được thực hiện thông qua

các biện pháp phù hợp trong tất cả các bến cảng, lưu ý đến hướng dẫn nêu ở phần Bcủa Bộ luật này, để nhận biết và thực hiện các biện pháp phòng ngừa sự cố an ninh:

.1 đảm bảo thực hiện mọi nhiệm vụ an ninh bến cảng;

.2 kiểm soát tiếp cận bến cảng;

.3 theo dõi bến cảng, kể cả các khu vực neo và cầu cảng;

.4 theo dõi các khu vực hạn chế để đảm bảo chỉ những người có thẩm quyềnmới được tiếp cận;

.5 giám sát hoạt động làm hàng;

.6 giám sát hoạt động nhận đồ dự trữ cho tàu; và

.7 đảm bảo việc trao đổi thông tin an ninh sẵn sàng

1.3 Ở cấp độ an ninh 2, các biện pháp bảo vệ bổ sung, được nêu trong Kế hoạch

An ninh Bến cảng, phải được triển khai thực hiện đối với mỗi hành động được nêuchi tiết ở phần 14.2, lưu ý đến hướng dẫn nêu ở phần B của Bộ luật này

1.4 Ở cấp độ an ninh 3, các biện pháp tăng cường bảo vệ đặc biệt, được nêu trong

Kế hoạch An ninh Bến cảng, phải được triển khai thực hiện đối với mỗi hành độngđược nêu chi tiết ở phần 14.2, có lưu ý đến hướng dẫn nêu ở phần B của Bộ luậtnày

Trang 9

1.4.1Đồng thời, ở cấp độ an ninh 3, yêu cầu bến cảng phải đáp ứng và triển khai

thực hiện những hướng dẫn bất kỳ do Chính phủ Ký kết mà bến cảng thuộc chủquyền đưa ra

1.5 Khi Nhân viên An ninh Bến cảng nhận được thông báo là một tàu nào đó gặp

phải những khó khăn trong việc tuân thủ các yêu cầu của chương XI-2 hoặc phầnnày hoặc trong việc triển khai thực hiện các biện pháp và qui trình phù hợp như nêuchi tiết trong Kế hoạch An ninh Tàu; và trong trường hợp bến cảng ở cấp độ anninh 3 theo những hướng dẫn an ninh bất kỳ của Chính phủ Ký kết mà bến cảngthuộc chủ quyền, Nhân viên An ninh Bến cảng và Sĩ quan An ninh Tàu phải traođổi thông tin với nhau và phối hợp các hành động phù hợp

1.6 Khi nhận được thông báo là một tàu nào đó có cấp độ an ninh cao hơn bến

cảng, Nhân viên An ninh Bến cảng phải báo cáo vấn đề đó tới cơ quan có thẩmquyền, đồng thời phải liên lạc với Sĩ quan An ninh Tàu và phối hợp các hành độngphù hợp, nếu cần thiết

2.ĐÁNH GIÁ AN NINH BẾN CẢNG

2.1 Đánh giá An ninh Bến cảng là một phần rất quan trọng và không thể tách rời

trong quá trình xây dựng và cập nhật Kế hoạch An ninh Bến cảng

2.2 Đánh giá An ninh Bến cảng phải được Chính phủ Ký kết, mà bến cảng thuộc

chủ quyền, thực hiện Chính phủ Ký kết có thể ủy quyền cho một tổ chức an ninhđược công nhận để thực hiện đánh giá an ninh một bến cảng nào đó thuộc chủquyền của họ

2.2.1Khi đánh giá an ninh bến cảng được thực hiện bởi tổ chức an ninh được công

nhận, đánh giá an ninh phải được Chính phủ Ký kết, mà bến cảng thuộc chủ quyền,xem xét và phê duyệt về tính phù hợp với phần này

2.3 Những người thực hiện đánh giá phải có các kỹ năng để đánh giá an ninh bến

cảng phù hợp với phần này, lưu ý đến hướng dẫn nêu ở phần B của Bộ luật này

2.4 Đánh giá An ninh Bến cảng phải được định kỳ soát xét lại và cập nhật, lưu ý

đến sự thay đổi các nguy cơ an ninh và/hoặc những thay đổi nhỏ của bến cảng vàphải luôn được soát xét và cập nhật khi có những thay đổi lớn của bến cảng

2.5 Đánh giá An ninh Bến cảng phải bao gồm tối thiểu những yếu tố sau:

.1 xác định và đánh giá những tài sản và cơ sở hạ tầng quan trọng cần đượcbảo vệ;

Trang 10

.2 xác định các mối đe dọa có thể đối với tài sản, cơ sở hạ tầng quan trọng

và khả năng xảy ra của chúng, để thiết lập và ưu tiên các biện pháp anninh;

.3 xác định, lựa chọn và ưu tiên các biện pháp đối phó, những thay đổi quitrình và mức độ hiệu quả của chúng trong việc làm giảm khả năng bị tổnhại; và

.4 xác định những khiếm khuyết, kể cả các yếu tố con người trong cơ sở

hạ tầng, các chính sách và qui trình

2.6 Chính phủ Ký kết có thể cho phép một đánh giá an ninh bến cảng đề cập nhiều

hơn một bến cảng nếu cơ quan khai thác bến cảng, vị trí, hoạt động, thiết bị và thiết

kế của các bến cảng này tương tự nhau Bất kỳ Chính phủ Ký kết nào cho phépthực hiện như vậy phải thông báo cho Tổ chức những đặc trưng về việc thực hiện

đó

2.7 Sau khi hoàn thành đánh giá an ninh bến cảng, phải chuẩn bị một báo cáo, báo

cáo này bao gồm tóm tắt về việc đánh giá được thực hiện như thế nào, mô tả vềmỗi khả năng bị tổn hại được phát hiện trong quá trình đánh giá và mô tả các biệnpháp đối phó có thể sử dụng cho mỗi khả năng bị tổn hại Bản báo cáo phải đượcbảo vệ tránh bị tiếp cận trái phép hoặc để lộ

3.KẾ HOẠCH AN NINH B ẾN CẢNG

3.1 Kế hoạch An ninh Bến cảng phải được lập và duy trì, trên cơ sở đánh giá an

ninh bến cảng, cho mỗi bến cảng, thích hợp cho giao tiếp tàu/cảng Kế hoạch phảiđưa ra các qui định đối với ba cấp độ an ninh như định nghĩa trong Phần này của

Bộ luật

3.1.1Theo các qui định của phần 16.2, Tổ chức an ninh được công nhận có thể

chuẩn bị Kế hoạch An ninh Bến cảng của một bến cảng nào đó

3.2 Kế hoạch An ninh Bến cảng phải được Chính phủ Ký kết, mà bến cảng thuộc

chủ quyền của họ, phê duyệt

3.3 Kế hoạch như vậy phải được lập có lưu ý đến hướng dẫn nêu ở phần B của Bộ

luật và phải được viết bằng ngôn ngữ làm việc của bến cảng Kế hoạch tối thiểuphải nêu rõ:

Trang 11

.1 các biện pháp được thiết lập để ngăn ngừa đưa vào bến cảng hoặc lên tàu

vũ khí hoặc bất kỳ các hóa chất và thiết bị nguy hiểm nào dự định sửdụng vào mục đích tấn công người, tàu hoặc bến cảng và việc vận chuyểnchúng là bất hợp pháp;

.2 các biện pháp được thiết lập để ngăn ngừa việc tiếp cận trái phép bếncảng, tàu đậu tại bến cảng và các khu vực hạn chế của bến cảng;

.3 các qui trình đối phó đe dọa an ninh hoặc vi phạm an ninh kể cả các quiđịnh về việc duy trì những hoạt động khẩn cấp của bến cảng hoặc giaotiếp tàu/cảng;

.4 các qui trình tuân thủ hướng dẫn an ninh bất kỳ do Chính phủ Ký kết, màbến cảng thuộc chủ quyền, đưa ra ở cấp độ an ninh 3;

.5 các qui trình sơ tán trong trường hợp có sự đe dọa an ninh hoặc vi phạm

an ninh;

.6 nhiệm vụ của nhân viên bến cảng được phân công trách nhiệm về an ninh

và nhiệm vụ của những người khác trong bến cảng về các lĩnh vực anninh;

.7 các qui trình về phối hợp với các hoạt động an ninh của tàu;

.8 các qui trình về soát xét định kỳ và cập nhật kế hoạch;

.9 các qui trình về báo cáo sự cố an ninh;

.10 nhận biết Nhân viên An ninh Bến cảng, kể cả chi tiết liên lạc 24/24 giờ; 11 các biện pháp đảm bảo an ninh thông tin trong kế hoạch;

.12 các biện pháp được thiết lập để đảm bảo an ninh hiệu quả đối với hàng

hóa và thiết bị làm hàng trong bến cảng;

.13 các qui trình đánh giá Kế hoạch An ninh Bến cảng;

.14 các qui trình ứng phó trong trường hợp hệ thống báo động an ninh tàu tại

bến cảng hoạt động; và

Trang 12

.15 các qui trình tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi bờ của thuyền viên hoặc

thay đổi nhân sự cũng như việc tiếp cận của khách lên tàu, kể cả đại diệncủa các tổ chức phúc lợi thuyền viên và công đoàn

3.4 Những người thực hiện đánh giá nội bộ về các hoạt động an ninh nêu trong kế

hoạch hoặc đánh giá việc triển khai kế hoạch phải độc lập với hoạt động được đánhgiá trừ khi điều này không thực tế do qui mô và đặc tính của bến cảng

3.5 Kế hoạch An ninh Bến cảng có thể kết hợp với, hoặc là một phần của, kế

hoạch an ninh toàn bộ cảng hoặc, kế hoạch hoặc các kế hoạch sự cố khác của toàn

bộ cảng

3.6 Chính phủ Ký kết mà bến cảng thuộc chủ quyền phải xác định những thay đổi

nào trong Kế hoạch An ninh Bến cảng không phải thực hiện trừ khi những bổ sungsửa đổi phù hợp của kế hoạch được họ phê duyệt

3.7 Kế hoạch có thể được lưu giữ ở dạng điện tử, trong trường hợp như vậy nó

phải được bảo vệ bằng các qui trình ngăn ngừa bị xóa, phá hủy hoặc sửa đổi tráiphép

3.8 Kế hoạch phải được bảo vệ ngăn ngừa tiếp cận trái phép hoặc để lộ.

3.9 Các Chính phủ Ký kết có thể cho phép một Kế hoạch An ninh Bến cảng áp

dụng cho nhiều hơn một bến cảng nếu cơ quan khai thác, vị trí, hoạt động, thiết bị

và thiết kế của các bến cảng này tương tự Bất kỳ Chính Phủ ký kết nào cho phépnhư vậy phải thông báo chi tiết cho Tổ chức

4.NHÂN VIÊN AN NINH BẾN CẢNG

4.1 Nhân viên An ninh Bến cảng phải được bổ nhiệm cho mỗi bến cảng Một

người có thể được bổ nhiệm là Nhân viên An ninh Bến cảng cho một hoặc nhiềubến cảng

4.2 Ngoài những nhiệm vụ nêu ở các qui định khác trong Phần này của Bộ luật,

nhiệm vụ và trách nhiệm của Nhân viên An ninh Bến cảng phải bao gồm, nhưngkhông chỉ giới hạn trong:

.1 thực hiện kiểm tra an ninh toàn diện lần đầu bến cảng có lưu ý đến đánhgiá an ninh bến cảng liên quan;

.2 đảm bảo xây dựng và duy trì Kế hoạch An ninh Bến cảng;

Trang 13

.3 triển khai và luyện tập Kế hoạch An ninh Bến cảng;

.4 thực hiện kiểm tra an ninh định kỳ của bến cảng để đảm bảo tính liên tụccủa các biện pháp an ninh phù hợp;

.5 khuyến nghị và kết hợp, nếu phù hợp, sửa đổi Kế hoạch An ninh Bếncảng để khắc phục các khiếm khuyết và để cập nhật kế hoạch, có lưu ýđến những thay đổi tương ứng của bến cảng;

.6 nâng cao nhận thức và cảnh giác an ninh của nhân viên bến cảng;

.7 đảm bảo việc đào tạo thích hợp cho những người có trách nhiệm về anninh của bến cảng;

.8 báo cáo cho cơ quan có thẩm quyền phù hợp và lưu giữ các biên bản vềnhững sự việc đe dọa an ninh của bến cảng;

.9 phối hợp triển khai Kế hoạch An ninh Bến cảng với (các) Nhân viên Anninh Công ty và tàu;

.10 phối hợp với các dịch vụ an ninh, nếu phù hợp;

.11 đảm bảo rằng các tiêu chuẩn đối với người chịu trách nhiệm về an ninh

của bến cảng được thỏa mãn;

.12 đảm bảo các thiết bị an ninh , nếu có, được hoạt động, thử, hiệu chuẩn và

bảo dưỡng đúng cách; và

.13 trợ giúp các Sĩ quan An ninh Tàu khi được yêu cầu trong việc khẳng định

nhận dạng những người tìm cách lên tàu

4.3 Nhân viên An ninh Bến cảng phải nhận được sự hỗ trợ cần thiết để hoàn thành

những nhiệm vụ và trách nhiệm của họ được nêu trong Chương XI-2 và Phần nàycủa Bộ luật

5.ĐÀO TẠO, HUẤN LUY ỆN VÀ THỰC TẬP AN NINH BẾN CẢNG

5.1 Nhân viên An ninh Bến cảng và những nhân viên an ninh phù hợp của bến

cảng phải có kiến thức và được đào tạo, lưu ý đến hướng dẫn nêu trong phần B của

Bộ luật này

Trang 14

5.2 Nhân viên an ninh bến cảng có những nhiệm vụ an ninh riêng phải hiểu được

những nhiệm vụ và trách nhiệm của họ đối với an ninh bến cảng, được nêu trong

Kế hoạch An ninh Bến cảng và phải có đủ kiến thức và khả năng để thực hiệnnhững nhiệm vụ được giao, lưu ý đến hướng dẫn nêu trong phần B của Bộ luật này

5.3 Để đảm bảo việc triển khai hiệu quả Kế hoạch An ninh Bến cảng, các đợt thực

tập phải được thực hiện ở những khoảng thời gian phù hợp, lưu ý đến hình thứchoạt động của bến cảng, sự thay đổi nhân sự của bến cảng, kiểu tàu mà bến cảngphục vụ và các hoàn cảnh liên quan khác, lưu ý đến hướng dẫn nêu trong phần Bcủa Bộ luật này

5.4 Nhân viên An ninh Bến cảng phải đảm bảo phối hợp và triển khai hiệu quả

Kế hoạch An ninh Bến cảng bằng việc tham gia vào các đợt huấn luyện ở những khoảng thời gian phù hợp, lưu ý đến hướng dẫn nêu trong phần B của Bộ luật này

6.Đ ào tạo, huấn luyện và thực tập an ninh tàu

6 1 Nhân viên An ninh Công ty và những nhân viên an ninh phù hợp trên bờ phải

có kiến thức và được đào tạo, lưu ý đến hướng dẫn nêu trong phần B của Bộ luậtnày

6 2 Sĩ quan An ninh Tàu phải có kiến thức và được đào tạo, lưu ý đến hướng dẫn

nêu trong phần B của Bộ luật này

6 3 Nhân viên trên tàu có những nhiệm vụ an ninh riêng phải hiểu được những

nhiệm vụ và trách nhiệm của họ đối với an ninh tàu, được nêu trong Kế hoạch Anninh Tàu và phải có đủ kiến thức và khả năng để thực hiện những nhiệm vụ quiđịnh cho họ, lưu ý đến hướng dẫn nêu trong phần B của Bộ luật này

6 4 Để đảm bảo việc triển khai hiệu quả Kế hoạch An ninh Tàu, các đợt thực tập

phải được thực hiện ở những khoảng thời gian phù hợp, lưu ý đến kiểu tàu, sự thayđổi nhân sự của tàu, bến cảng mà tàu ghé vào và các tình huống liên quan khác, lưu

ý đến hướng dẫn nêu trong phần B của Bộ luật này

6 5 Nhân viên An ninh Công ty phải đảm bảo phối hợp và triển khai hiệu quả Kế

hoạch An ninh Tàu bằng việc tham gia vào các đợt huấn luyện ở những khoảngthời gian phù hợp, lưu ý đến hướng dẫn nêu trong phần B của Bộ luật này

7 . Sĩ quan An ninh Tàu

7 1 Sĩ quan An ninh Tàu phải được bổ nhiệm cho mỗi tàu.

Trang 15

7 2 Ngoài những nhiệm vụ nêu ở các qui định khác trong Phần này của Bộ luật,

nhiệm vụ và trách nhiệm của sĩ quan an ninh tàu phải bao gồm, nhưng không chỉgiới hạn:

.1 thực hiện các kiểm tra an ninh thường kỳ tàu để đảm bảo các biện pháp

an ninh phù hợp được duy trì;

.2 duy trì và giám sát việc triển khai Kế hoạch An ninh Tàu, kể cả việc bổsung sửa đổi kế hoạch;

.3 phối hợp các khía cạnh an ninh trong hoạt động làm hàng, các đồ dự trữcủa tàu với những người trên tàu và với những nhân viên an ninh phùhợp của bến cảng;

.4 đề xuất những bổ sung sửa đổi cho Kế hoạch An ninh Tàu;

.5 báo cáo cho Nhân viên An ninh Công ty về bất kỳ khiếm khuyết và sự

không phù hợp nào được phát hiện trong các lần đánh giá nội bộ, soát xét định

2, Phần này của Bộ luật và Kế hoạch An ninh Tàu đã được phê duyệt.Đợt thẩm tra này phải đảm bảo hệ thống an ninh và các thiết bị an ninhliên quan của tàu thỏa mãn hoàn toàn các yêu cầu áp dụng của chươngXI-2 và Phần này của Bộ luật, ở trạng thái thỏa mãn và phù hợp cho hoạtđộng dự định của tàu;

.2 thẩm tra định kỳ theo những khoảng thời gian do Chính quyền hànhchính qui định, nhưng không quá 5 năm, trừ khi áp dụng phần 19.3 Việcthẩm tra này phải đảm bảo hệ thống an ninh và các thiết bị an ninh liên

Trang 16

quan của tàu thỏa mãn hoàn toàn các yêu cầu áp dụng của chương XI-2

và Phần này của Bộ luật và Kế hoạch An ninh Tàu đã được duyệt, ở trạngthái thỏa mãn và phù hợp cho hoạt động dự định của tàu

.3 tối thiểu 1 lần thẩm tra trung gian Nếu chỉ thực hiện 1 lần thẩm tra trunggian thì nó phải được thực hiện vào giữa ngày ấn định thẩm tra lần 2 vàlần 3 của giấy chứng nhận như nêu ở qui định I/2(n) Thẩm tra trung gianphải bao gồm việc kiểm tra hệ thống an ninh và tất cả các thiết bị an ninhliên quan của tàu để đảm bảo chúng vẫn thỏa mãn cho hoạt động dự địnhcủa tàu Thẩm tra trung gian như vậy phải được xác nhận vào giấy chứngnhận;

.4 các thẩm tra bổ sung bất kỳ do Chính quyền hành chính qui định

8 1.2 Các đợt thẩm tra tàu phải được các nhân viên của Chính quyền hành chính

thực hiện Tuy nhiên, Chính quyền hành chính có thể ủy quyền việc thẩm tra cho

một tổ chức an ninh được công nhận nêu ở qui định XI-2/1

8 1.3 Trong mọi trường hợp, Chính quyền hành chính phải bảo đảm hoàn toàn về

sự hoàn chỉnh, hiệu quả của việc thẩm tra và phải đảm bảo những bố trí cần thiếtthỏa mãn trách nhiệm này

8 1.4 Hệ thống an ninh và các thiết bị an ninh liên quan của tàu sau khi thẩm traphải được duy trì phù hợp với các điều khoản của các qui định XI-2/4.2 và XI-2/6,Phần này của Bộ luật và Kế hoạch An ninh Tàu đã được duyệt Sau khi hoàn thànhbất kỳ thẩm tra nào theo phần 19.1.1, không được có bất kỳ thay đổi nào trong hệthống an ninh và bất kỳ thiết bị an ninh liên quan hoặc Kế hoạch An ninh Tàu đãđược duyệt mà không có sự đồng ý của Chính quyền hành chính

8 2 Cấp hoặc xác nhận giấy chứng nhận

8. 2.1 Giấy chứng nhận quốc tế về An ninh Tàu biển phải được cấp sau khi hoàn

thành thẩm tra lần đầu hoặc định kỳ phù hợp với các điều khoản của phần 19.1

8 2.2 Giấy chứng nhận như vậy phải được Chính quyền hành chính hoặc tổ chức

an ninh được công nhận thay mặt Chính quyền hành chính cấp hoặc xác nhận

8 2.3 Chính phủ Ký kết khác có thể, theo yêu cầu của Chính quyền hành chính, yêucầu tàu phải được thẩm tra và, nếu thỏa mãn các yêu cầu của phần 8.1.1, phải cấphoặc ủy quyền cấp cho tàu Giấy chứng nhận quốc tế về An ninh Tàu biển, đồngthời, nếu phù hợp, xác nhận hoặc ủy quyền xác nhận vào giấy chứng nhận trên tàu,

Ngày đăng: 13/04/2025, 01:32

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w