1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận - Luật Vận Tải Biển - đề tài - Tìm hiểu bộ luật quản lý an toàn ISM Code và giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển

42 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu bộ luật quản lý an toàn ISM Code và giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Vận Tải Biển
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 212,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hội nghị đầu tiên của IMO được tổ chức vào năm 1960, thông qua công ướcquốc tế về an toàn sinh mạng trên biển 1960, có hiệu lực từ năm 1965, nội dungbao gồm những vấn đề về đo lường thiế

Trang 1

NỘI DUNG BÀI TẬP LỚN

I ĐỀ TÀI: Tìm hiểu bộ luật quản lý an toàn ISM Code và giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển.

Phần I: Tìm hiểu bộ lụât quản lý an toàn ISM Code

1/ Tìm hiểu quá trình hình thành, phát triển ,cơ cấu tổ chức, vai trò Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO).

Theo qui định, Công ước phải được 21 quốc gia, trong đó có 7 quốc gia có độithương thuyền trọng tải trên một triệu tấn, phê chuẩn thì Công ước mới có hiệu lực.Ngày 17/3/1958, Nhật Bản là nước thứ 21 và cũng là nước thứ 8 có đội thươngthuyền có trọng tải trên một triệu tấn phê chuẩn Công ước, đây chính là ngày Côngước của Tổ chức Hàng hải quốc tế bắt đầu có hiệu lực và được lấy làm ngày thànhlập của Tổ chức Hàng hải quốc tế

Năm 1960, Tổ chức Hàng hải quốc tế ký Hiệp định với Liên hợp quốc để trởthành cơ quan chuyên môn của tổ chức này (theo Điều 57 và 63 của Hiến chươngLiên hợp quốc ) Tổ chức Hàng hải quốc tế có quan hệ với nhiều tổ chức liên chínhphủ và phi chính phủ khác, có trụ sở tại Luân Đôn (Anh) và là tổ chức chuyên mônduy nhất của Liên hợp quốc có trụ sở tại Anh Tuy nhiên, Đại hội đồng có thể họp

ở một nơi khác nếu đa số 2/3 thành viên nhất trí

Tổ chức Hàng hải quốc tế có 2 loại thành viên:

Trang 2

- Thành viên đầy đủ : gồm các quốc gia là thành viên của Liên hợp quốc sau

khi đã chấp nhận Công ước thành lập Tổ chức Hàng hải quốc tế

- Thành viên liên kết: gồm các lãnh thổ hoặc các nhóm lãnh thổ do một nước

hội viên Tổ chức Hàng hải quốc tế hoặc Liên hợp quốc chịu trách nhiệm về quan

hệ quốc tế của lãnh thổ này

- Cho đến nay (2008), Tổ chức Hàng hải quốc tế có 167 quốc gia thành viên

và 3 thành viên liên kết (Hồng Kông, Ma Cao, và quần đảo Faroe thuộc ĐanMạch)

+/Cơ cấu tổ chức:

Đại hội đồng (Assembly):là cơ quan quyền lực cao nhất của Tổ chức Hànghải quốc tế, bao gồm toàn bộ các nước thành viên của Tổ chức, họp hai năm mộtlần (có thể có những khoá họp đặc biệt) Đại hội đồng có chức năng: Xác địnhphương hướng làm việc của Tổ chức cho 2 năm giữa hai kỳ hội nghị; bầu Ban lãnhđạo của Tổ chức và kết nạp các thành viên mới; xem xét, thông qua chương trìnhngân sách, các khuyến nghị của các uỷ ban; xem xét việc sửa đổi, bổ sung Côngước v.v

Hội đồng (Council): Được Đại hội đồng bầu ra, nhiệm kỳ 2 năm Các thànhviên hết nhiệm kỳ được bầu lại Hội đồng gồm 40 thành viên do Đại hội đồng bầutheo các nguyên tắc sau: 10 thành viên là các quốc gia đặc biệt quan tâm đến việccung cấp dịch vụ hàng hải quốc tế 10 thành viên khác là các quốc gia đặc biệtquan tâm đến thương mại hàng hải quốc tế 20 thành viên còn lại không được bầutheo các tiêu chuẩn trên nhưng phải là những quốc gia có lợi ích đặc biệt trong vậntải biển, cuộc bầu cử phải bảo đảm nguyên tắc là tất cả các khu vực địa lý lớn đều

có đại diện trong Hội đồng Hội đồng là cơ quan chấp hành của Tổ chức Hàng hảiquốc tế và chịu trách nhiệm giải quyết toàn bộ các công việc của Tổ chức (xem xétcác báo cáo, các khuyến nghị của các uỷ ban, xét duyệt chương trình ngân sách,chuẩn bị các báo cáo lên Đại hội đồng) Giữa hai kỳ họp của Đại hội đồng, Hội

Trang 3

đồng thực hiện tất cả các chức năng của Đại hội đồng, ngoại trừ chức năng đưa racác khuyến nghị cho các chính phủ về an toàn biển và ngăn chặn ô nhiễm (quyềndành riêng của Đại hội đồng theo Điều 15 của Công ước) Hội đồng cũng có tráchnhiệm chỉ định Tổng thư ký để Đại hội đồng chuẩn y Hội đồng họp ít nhất mỗinăm một lần.

Các uỷ ban: (gồm có 4 uỷ ban)

Uỷ ban An toàn hàng hải (Maritime Safety Committee): gồm toàn bộ cácthành viên của Tổ chức, mỗi năm họp một lần Nhiệm vụ chủ yếu của Uỷ ban này

là chịu trách nhiệm toàn bộ các vấn đề liên quan đến an toàn hàng hải, đến các quitắc tránh đâm va, xử lý các hàng nguy hiểm, tìm và cứu nạn, phòng chống cháy nổ,giúp đỡ các nước trong lĩnh vực kỹ thuật đóng tầu, trang bị cho tầu, các tiêu chuẩnđào tạo, mẫu mã tầu Uỷ ban Bảo vệ môi trường biển (Marine EnvironmentProtection Committee): gồm toàn bộ các thành viên của Tổ chức, cùng với đại diệnmột số quốc gia không tham gia IMO nhưng là thành viên của các hiệp ước liênquan đến những lĩnh vực mà Uỷ ban hoạt động Nhiệm vụ chính là điều phối vàquản lý các hoạt động của Tổ chức về ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm biển do tầugây ra và tìm ra các biện pháp để chống lại sự ô nhiễm, bảo vệ tốt môi trường biển

Uỷ ban Pháp lý (Legal Committee): bao gồm tất cả thành viên, mỗi năm họp

1 lần Nhiệm vụ chủ yếu của Uỷ ban này là chịu trách nhiệm toàn bộ các vấn đềpháp lý trong thẩm quyền của Tổ chức, dự thảo các công ước, các điều khoản bổsung Công ước và trình lên Hội đồng Uỷ ban cũng đồng thời giải quyết bất kỳ vấn

đề pháp lý nào do các cơ quan khác của Tổ chức yêu cầu

Uỷ ban hợp tác kỹ thuật (Technical Cooperation Committee): bao gồm tất cảcác thành viên Mỗi năm họp một lần Nhiệm vụ chính của Uỷ ban này là nghiêncứu và đề xuất việc thực hiện các đề án hợp tác kỹ thuật với các nước thành viên.Theo dõi các công việc của Ban Thư ký có liên quan đến hợp tác kỹ thuật

Ban thư ký: Đứng đầu Ban thư ký là Tổng thư ký do Đai hội đồng bầu và một

số thành viên khác do Tổ chức đề nghị, nhiệm kỳ 4 năm Ông Efthimios

Trang 4

Mitropoulos (người Hy Lạp) là Tổng Thư ký thứ 7, nhiệm kỳ 2004 - 2008, của Tổchức Hàng hải quốc tế Tổng thư ký là viên chức cao nhất của Tổ chức có quyền

bổ nhiệm các nhân viên trong Ban Thư ký với sự chấp thuận của Đại hội đồng.Ban Thư ký chịu trách nhiệm toàn bộ các vấn đề về hồ sơ, tài liệu, lập và trình lênHội đồng xem xét các khoản chi và ngân sách hàng năm v.v

+/Vai trò :

Mục đích và chức năng chủ yếu của Tổ chức Hàng hải quốc tế là thúc đẩy sựhợp tác giữa các chính phủ trong lĩnh vực kỹ thuật và các lĩnh vực khác của giaothông đường biển tiến tới thống nhất ở mức cao nhất các tiêu chuẩn về an toànhàng hải và giao thông trên biển Tổ chức Hàng hải quốc tế có trách nhiệm đặc biệttrong việc bảo vệ biển, và môi trường biển thông qua việc ngăn chặn ô nhiễm biển

từ các phương tiện hàng hải; quan tâm đến các vấn đề pháp lý và hành chính liênquan đến giao thông biển quốc tế và vấn đề đơn giản hoá các thủ tục về hàng hảiquốc tế; giúp đỡ kỹ thuật và đào tạo thuyền viên, chủ tầu, thợ máy tầu, cung cấpcác thông tin chuyên ngành cho các nước thành viên, đặc biệt là các nước đangphát triển; khuyến khích việc bãi bỏ những biện pháp phân biệt đối xử và nhữnghạn chế không cần thiết của các chính phủ đối với hàng hải quốc tế, đưa hàng hảivào phục vụ thương mại quốc tế, giúp đỡ và khuyến khích các chính phủ củng cố

và hiện đại hoá ngành hàng hải quốc gia

Những mục tiêu, hoạt động chính của Tổ chức Hàng hải quốc tế trong nhữngnăm 2000 (theo Nghị quyết A.900(21) ngày 16/11/1999 của Đại hội đồng Tổ chứcHàng hải quốc tế là: Tiến hành các biện pháp thực hiện chính sách tích cực nhằmxác định và hạn chế tác hại của các xu hướng có tác động xấu đến an toàn hànghải; Hướng trọng tâm vào con người; Đảm bảo sự thực hiện thống nhất các tiêuchuẩn và qui định hiện có của Tổ chức Hàng hải quốc tế; Đảm bảo sự chấp nhậnrộng rãi các tiêu chuẩn; Phát triển nhận thức về môi trường và an toàn; Tránh xâydựng quá nhiều qui định; Củng cố các chương trình hợp tác kỹ thuật của Tổ chứcHàng hải quốc tế; Thúc đẩy các nỗ lực ngăn chặn và trấn áp các hành động vi

Trang 5

phạm pháp luật đe doạ an toàn của tàu thuyền, nhân viên trên tàu và môi trường.Việt Nam gia nhập Tổ chưc Hàng hải quốc tế (IMO) ngày 28/5/1984 Hiện nay đãchính thức tham gia 15 Công ước và nghị định thư của IMO (tổng số có khoảng 40Công ước và Nghị định thư) IMO đã giúp Việt Nam đào tạo một số cán bộ kỹthuật hàng hải, một số kỹ sư máy tầu, sửa chữa tầu qua việc tham gia các hội nghị,hội thảo quốc tế và trong nước cũng như các lớp đào tạo ngắn và dài hạn do IMO

tổ chức Việt Nam cũng đã tham gia đầy đủ các hội nghị thường niên của Đại hộiđồng IMO được tổ chức 2 năm/lần Những đóng góp của Việt Nam trong các hoạtđộng của IMO đã được đánh giá cao Việt Nam cũng đã và đang tranh thủ các Ủyban của IMO trong việc đào tạo cán bộ cho ngành hàng hải, nhất là lĩnh vực phápluật, an toàn, an ninh hàng hải cũng như bảo vệ môi trường biển Hiện nay, ViệtNam đang nghiên cứu việc tham gia vào chương trình đánh giá tàu biển IMO vàviệc phá dỡ tàu hết thời hạn sử dụng Việt Nam cũng góp phần vào thể hiện quyếttâm trong hoạt động của ngành hàng hải quốc tế trong việc đảm bảo an toàn, anninh hàng hải và bảo vệ môi trường biển thông qua việc tăng cường hợp tác giữacác nước thành viên IMO

2/ Tìm hiểu nội dung chính và tình hình thực hiện Công ước quốc tế về

an toàn sinh mạng trên biển (SOLAS) trên thế giới.

Hội nghị đầu tiên của IMO được tổ chức vào năm 1960, thông qua công ướcquốc tế về an toàn sinh mạng trên biển 1960, có hiệu lực từ năm 1965, nội dungbao gồm những vấn đề về đo lường thiết kế nhằm nâng cao tính an toàn cho tàu.Các điều khoản của công ước bao gồm: Việc thiết kế và tính ổn định vững chắccủa tàu khách và tàu chở hàng, lắp đặt máy móc và điện, phòng chống cháy, thiết

bị cứu sinh, thông tin liên lạc, an toàn hành hải, vận chuyển hàng hoá nguy hiểm.SOLAS được cập nhật vào năm 1974 và hiện tại đang được phối hợp với việc sửađổi theo đó công ước có thể được cập nhật chú trọng tới những thay đổi trong môitrường VTB mà không cần phải triệu tập hội nghị Công ước SOLAS 1974 có hiệulực kể từ ngày 25/5/1980 và tính đến ngày 31/2/1996 đã được 132 quốc gia phê

Trang 6

chuẩn Nghị định thư 1978 của công ước có hiệu lực kể từ ngày 1/5/1981.Côngước SOLAS yêu cầu mỗi tàu hành hải quốc thế (trọng tải trên 50 GT) phải có trêntàu:

Các tàu hàng:

-Giấy phép Cấu trúc an toàn tàu chở hàng

-Giấy phép thiết bị an toàn tàu chở hàng

-Giấy phép Vô tuyến điện an toàn tàu chở hàng

Giấy phép an tòan tàu chở hàng kết hợp 1,2 và 3

Giấy phép này ban hành có thể thay thế 1,2 và 3 cái trên Tất cả giấy phépkểtrên phải phù hợp vói Biên bản Thiết bị cung cấp danh mục cần có trên boong củatàu phù hợp.Theo SOLAS cấu trúc tàu cũng được quy định về độ bền, kích thướccực đại của khoang có khả năng ngập, độ ổn định bảo toàn và hư hại, được bảođảm theo giấy phép cấu trúc an toàn

Đối với tàu khách:

-Giấy phép an toàn tàu khách Giấy phép an toàn tàu khách có cùng nội dungđược sử dụng sớm hơn giấy phép an toàn tàu hàng

Đối với tàu khác, các luật, quy định và giấy phép thường nghiêm khắc hơn sovới tàu hàng

3/Tìm hiểu sự đời và các nội dung chính của bộ lụât quản lý an toàn ISM Code.Tình hình thực hiện ISM Code tại các công ty vận tải biển VN

3.1 Giới thiệu

Vấn đề ISM –Quản lý an toàn quốc tế do IMO đưa ra Giấy phép này cho cảtrên tàu lẫn trên bờ, là sự tuyên bố mà Chủ tàu/người quản lý tàu và đội ngũ thuyếnviên tàu tự cam kết duy trì tình trạng tàu theo yêu cầu, và thực hiện trách nhiệmliên quan tới an toàn và ô nhiễm Hầu hết các quy định trên tàu liên quan khía cạnh

kỹ thuật của tàu và huấn luyện theo yêu cầu của thuyền viên ISM-Code, áp dụng

Trang 7

cho mọi tàu từ 2002 là danh mục các quy tắc dành cho việc tổ chức của tàu, vàcũng liên quan một cách cơ bản tới hệ thống quản lý.

Hệ thống quản lý bao gồm:

-Tổ chức trên tàu

-Tổ chức trên bờ

-Tổ chức công ty tàu

-Liên hệ giữa tàu và bờ

Sự quan trọng của việc quản lý tốt đối với an toàn thường được minh họa bởithực tế là 80% tất cả các tai nạn trên tàu là do sai sót của con người

3.2 Mục tiêu

Mục tiêu của ISM –Code là:

-Thỏa mãn mọi quy định quốc tế và quốc gia như SOLAS, MARPOL, ISM,PHÂN CẤP và LUẬT LAO ĐỘNG

-Khởi tạo nhận thức lâu dài về hành vi an toàn của con người trên tàu và bờ

- Bảo đảm sự sẵn sàng hành động một cách tích cực trong trường hợp khẩn cấp

- Bảo đảm an toàn trên biển

- Tránh tai nạn và hư hại môi trường ISM-code là tiêu chuẩn an toàn bao gồm

13 thành phần, mỗi thành phần mô tả hoạt động kinh doanh phù hợp an toàn vàmôi trường Các thành phần có thể được xem như các điều khoản của ISM-code.Chúng giải quyết vấn đề

-Kế hoạch bảo dưỡng

-Nhân sự cơ quan và thuyền viên

3.3 ISM hoạt động như thế nào

a Công ty tàu

Mỗi công ty tàu phải có Tài liệu về Tuân thủ phù hợp (DOC) Tài liệu nàytuyên bố rằng công ty tàu phù hợp với việc khai thác tàu theo yêu cầu của bộ luậtISM Một yêu cầu là các công ty tàu phải phát triển, thực thi và duy trì Hệ thống

Trang 8

quản lý an toàn (SMS – Safety Management System) Quốc gia tàu đăng ký banhành DOC, nhưng chỉ sau khi Hiệp hội phân cấp đã phê duyệt hệ thống an toàn.DOC duy trì hiệu lực trong khoảng thời gian là 5 năm, giả định là việc kiểm trahàng năm tiến hành bởi Hiệp hội phân cấp tàu có kết quả tốt.

b Tàu

Tàu có thể lấy Giấy chứng nhận quản lý an toàn (SMC) nếu DOC được banhành cho công ty tàu SMC cũng duy trì hiệu lực trong vòng 5 năm Trong giaiđoạn này sẽ có một lần kiểm tra vào giữa năm thứ hai và thứ ba

3.4 Đánh giá

SMS được kiểm tra bởi công cụ là gọi là Đánh giá Đánh giá là kiểm tra bắtbuộc nhằm kiểm tra liệu tổ chức trên bờ và trên tàu có khả năng thực hiện tốt cácquy định và có đạt mục tiêu nhất định không Đánh giá có thể được chia ra Đánhgiá trong và Đánh giá ngoài Tổ chức ISO cấp giấy chứng nhận cho toàn bộ cơquan ngược lại với ISM nó được tách ra giấy chứng nhận riêng cho tổ chức trên bờ

và trên tàu

a Đánh giá nội bộ

Đánh giá nội bộ được thực hiện bởi công ty tàu và có thể bao gồm các vấn

đề như:

- Sự chồng chéo giữa cách thức làm việc trên tàu và các quy định SMS áp dụng

- Kiểm tra liệu các giải pháp tiến hành dành cho an toàn và môi trường có phùhợp với SMS

-Kiểm tra SMS liệu có hiệu quả và có đánh giá được nếu cần thiết

Tất cả nhân sự phù hợp tương ứng phải được thông báo về kết quả Đánh giánày và các giải pháp tiến hành Quản lý phải hiệu chỉnh tất cả các thiếu sót Đánhgiá nội bộ thường thực hiện hàng năm

b Đánh giá ngoài

Trang 9

Đánh giá ngoài được thực hiện bởi văn phòng Hiệp hội phân cấp (Đăng kiểm)dưới sự giám sát của quốc gia tàu đăng ký Nếu tổ chức đáp ứng các tiêu chuẩn đặt

ra, tổ chức trên bờ sẽ nhận được DOC và trên tàu nhận được SMC

4/Nhận xét :

Thời đại ngày nay là thời đại của toàn cầu hóa Mọi nền kinh tế thế giới pháttriển trong mối quan hệ qua lại lẫn nhau Việt Nam không nằm ngoài xu hướngnhư vậy Đất nước chuyển mình mạnh mẽ đổi mới và hội nhập ngày càng sâu rộngvào nền kinh tế thế giới Và để hoạt động kinh tế thống nhất, có trật tự thì các bộluật đã ra đời, trong đó có luật hàng hải Đó chính là cây gậy pháp lý cho cácdoanh nghiệp hoạt động

Pháp luật là công cụ quản lý hữu hiệu của mỗi quốc gia Nhờ có luật pháp màcác hoạt động trở nên có hệ thống và việc giải quyết các mâu thuẫn cũng trở nên dễdàng hơn Pháp luật có ở mọi lĩnh vực, mọi khía cạnh của cuộc sống

Sự hình thành của hệ thống luật hàng hải quốc tế gắn liền với lịch sử pháttriển của ngành hàng hải thế giới Từ việc ra đời ban đầu với nguồn chính là nhữngtập quán và thông lệ, đến nay hoạt động của ngành hàng hải quốc tế được điềuchỉnh bởi một hệ thống luật quốc tế gồm nhiều công ước và các lĩnh vực khác nhau

do Liên hợp quốc, Tổ chức hàng hải Quốc tế và các tổ chức, hiệp hội quốc tế liênquan khác thông qua

Ngành hàng hải nước ta là một mắt khâu trong hoạt động của ngành hàng hảithế giới nên ngoài việc chấp hành phát luật trong nước, chúng ta còn phải tuân thủcác công ước hàng hải quốc tế đất nước đã ký kết , gia nhập cũng như nghiên cứuvận dụng các công ước khác Điều này đặc biệt có ý nghĩa với ngành hàng hải ViệtNam trước tiến trình phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước

Luật biển ra đời nhằm điều chỉnh mối quan hệ phát sinh liên quan đến cáchoạt động trên biển Luật biển bao gồm cả các công ước quốc tế liên quan đến cáchoạt động của tàu thuyền trên biển và quyền lợi của các nước trên thế giới nhất làcác nước có bờ biển sát nhau Luật biển còn bao gồm luật hàng hải của các quốcgia để điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong lĩnh vực hàng hải của mỗi quốcgia

Trang 10

Từ khi ra đời luật biển đã đóng góp một vai trò quan trọng trong hoạt độnghàng hải Luật biển ra đời nhằm phân chia lãnh thổ lãnh hải của các quốc gia,vùngđặc quyền kinh tế, thềm lục địa của các quốc gia, đưa ra các điều kiện buộc các chủtàu phải tuân theo để giảm thiểu các tai nạn trên biển, nó còn đưa ra các luật lệbuộc các chủ thể liên quan đến các quyền lợi bị tổn thất xảy ra trên biển khi có cáctai nạn hàng hải xảy ra phảithực hiện các trách nhiệm của mình

Luật biển là bộ luật thường xuyên đổi mới để phù hợp với từng thời kỳ Bởi

vì các hoạt động trên biển thì thường bất ngờ ,có thể xảy ra những tình huống bấtngờ mà con ngừơi không lường trước được nhứng tình huống đó sẽ được các côngước mới bổ sung điều chỉnh

Các công ước quốc tế cùng với các hiệp định trên biển giữa các nước và luậthàng hải của mỗi quốc gia đã tạo nên các quy định hoàn chỉnh về hoạt độnghàng hải bao gồm các quy định về tàu biển, thuyền bộ, cảng biển luồng hànghải,vận tải biển, an toàn hàng hải an ninh hàng hải, phòng ngừa ô nhiễm môitrường và các hoạt động khác liên quan đến việc sử dụng tàu biển vào mục đíchkinh tế, văn hoá xã hội thể thao, công vụ và nghiên cứu khoa học

Như vậy hàng hải của việt nam nói riêng và luật biển của các nướctrên thế giới nói chung đóng vai trò vô cùng quan trọng không thẻ thiếu được tronghoạt động hàng hải thế giới và của Việt Nam

II BÀI TẬPCâu 1 : Nêu những quy định của luật HHVN về nghĩa vụ , trách nhiệm

và quyền miễn trách của người vận chuyển.

A/ Nghĩa vụ, quyền hạn và trách nhiệm của người chuyên chở theo hợp đồngchuyên chở hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển :

I Các nghĩa vụ chủ yếu :

1 Nghĩa vụ cung cấp tàu

1.1 Nghĩa vụ cung cấp tàu theo hợp đồng thuê tàu chợ :

Theo các công ước quốc tế và luật nước người chuyên chở, người chuyên chởphải có nghĩa vụ :

Trang 11

- Cung cấp tàu đúng thời gian và địa điểm.

- Cung cấp một con tàu có đủ khả năng đi biển, các trang thiết bị như cần cẩu(nếu có), hầm hàng phải sạch sẽ sẵn sàng tiếp nhận và bảo quản tốt hàng hoá trongsuốt quá trình chuyên chở, trang bị và cung ứng đầy đủ cho tàu

- Nghĩa vụ này được gọi chung là nghĩa vụ cung cấp tàu có đủ khả năng đibiển (Seaworthy ship) Khả năng đi biển của tàu không chỉ thể hiện ở chỗ " tàu kínnước, hầm tàu chắc chắn, khoẻ và về mọi mặt thích hợp cho chuyến hành trình "

mà còn phải thích hợp cho việc tiếp nhận, bảo quản chuyên chở hàng hoá tàu phảiđược trang bị đầy đủ về máy móc, phương tiện xếp dỡ có đủ sĩ quan thuyền viên,nhiên liệu, thực phẩm, nước ngọt

Để tiếp nhận bảo quản hàng hoá : Tàu phải được trang bị các thiết bị cần thiết

để đảm bảo hàng hoá chuyên chở không bị hư hại, ẩm mốc Ví dụ : Tàu chởhàng đông lạnh thì phải có hầm lạnh hoạt động tốt, chở ngũ cốc thì phải có hệthống thông gió hoạt động tốt

Nhiên liệu : Tàu phải được cung ứng đủ nhiên liệu để tàu có thể đi đến đượcnơi cung ứng nhiên liệu tiếp theo trên đường đi

Về mặt thuyền viên : Tuỳ theo luật hàng hải từng nước quy định mà có sốlượng thuyền viên tối thiểu nhưng các thuyền viên này phải có đủ các bằng cấpchứng chỉ theo quy định của luật pháp và có sức khoẻ tốt

Tàu có khuyết tật về máy móc, thiếu sĩ quan thuỷ thủ, nhiên liệu, lương thực,các hầm hàng không thích hợp cho việc chuyên chở hàng hoá là tàu không đủkhả năng đi biển (Unseaworthy ship).Tàu không đủ khả năng đi biển mà ngườichuyên chở cứ cho hành trình, thì họ phải chịu trách nhiệm về tổn thất hàng hoá do

sự thiếu khả năng đi biển gây nên

Theo các công ước quốc tế và luật quốc gia thì nghĩa vụ cung cấp tầu đủ khảnăng đi biển của người chuyên chở là một thứ không thể chuyển nhượng được Ví

dụ : Nếu lúc bốc hàng tàu bị hỏng, thuyền trưởng thuê một xưởng sửa chữa chữatàu, xưởng này làm không tốt, sau này gây tổn thất cho hàng hoá thì người chuyên

Trang 12

chở phải chịu trách nhiệm chứ không được đổ lỗi cho người sửa chữa Tuy nhiên,người chuyên chở chỉ phải chịu trách nhiệm làm cho tàu có đủ khả năng đi biển với

sự cần mẫn hợp lý thích đáng của họ vào thời gian trước và lúc bắt đầu hành trình

mà thôi Một con tàu khi bốc hàng có các nghi khí hàng hải bị hỏng, tàu không kínnước thì bị coi là không đủ khả năng đi biển, nhưng thuyền trưởng đã khẩntrương khắc phục các sự cố trên và hoàn thành các công việc trên trước khi tàukhởi hành, thì lúc này tàu lại có khả năng đi biển tiếp Sau này trong lúc đi biển màphát hiện ra thấy tàu không đủ khả năng đi biển thì không xét lỗi thuyền trưởng,

mà phải xét theo điều kiện ẩn tỳ hay nội tỳ hay tai hoạ của biển hay lỗi xếp hàng

1.2 Nghĩa vụ cung cấp tàu theo hợp đồng thuê tàu chuyến :

+ Người chuyên chở có nghĩa vụ cung cấp đúng con tàu đã có tên trong hợpđồng Vì một lý do nào đó, con tàu đã có tên trong hợp đồng không thể đến được,người chuyên chở có thể thay thế bằng một con tàu khác, tương đương cùng tínhnăng như con tàu đã ký, nhưng phải được sự đồng ý của người thuê tàu, hoặc điềunày phải được quy định rõ trong hợp đồng về quyền thay tàu của người chuyênchở

Điều 64 Bộ luật hàng hải Việt Nam qui định “ Nghĩa vụ cung cấp tàu : Ngườivận chuyển có nghĩa vụ dùng tàu đã được chỉ định, trong hợp đồng để vận chuyểnhàng hoá trừ trường hợp sau :

Đối với hợp đồng thuê tàu, thì người vận chuyển chỉ được thay thế tàu đãđược chỉ định trong hợp đồng bằng tàu khác, sau khi người thuê vận chuyển đồngý”

+ Con tàu đó phải đủ khả năng đi biển, trang bị và cung cấp đầy đủ cho tàu( bao gồm về kỹ thuật : Tàu phải chắc, khoẻ kín nước, máy móc, vỏ tàu không cókhiếm khuyết gì, các hầm hàng phải sạch sẽ, sẵn sàng nhận và bảo quản tốt hànghoá trong suốt quá trình chuyên chở, thuyền bộ phù hợp, đầy đủ nhiên liệu, nướcngọt, thực phẩm … )

Trang 13

+ Cung cấp tàu đúng thời gian, tức là đúng ngày giờ quy định trong hợp đồng.Nếu tàu đến sớm thì người thuê chở không có nghĩa vụ phải bốc hàng lên tàu ngay,nhưng nếu người chuyên chở đưa tàu đến muộn thì phải chịu bồi thường thiệt hạicho người thuê chở nếu họ đòi

+ Nếu là hợp đồng thuê tàu đến cảng, thì người chuyên chở chỉ cần đưa tàuđến vùng thương mại cảng là đủ Nếu là hợp đồng thuê tàu đến cầu, thì phải đưacon tàu đến tận cầu tàu được chỉ định trong hợp đồng

+ Nếu có nhiều cảng xếp, dỡ mà hợp đồng không quy định cụ thể thứ tự thìngười chuyên chở đưa tàu đến theo thứ tự địa lý Chẳng hạn khi ký hợp đồng, vịtrí tàu đang ở Thượng hải và hai cảng bốc hàng là Hải phòng và Sài gòn, nếu hợpđồng không quy định thứ tự thì chủ tàu có quyền đưa tàu đến Hải phòng trước sau

đó là cảng Sài gòn để bốc hàng

+ Người chuyên chở có nghĩa vụ, thông báo thời gian dự kiến tàu đến (ETA)cho người thuê tàu, để người thuê tàu chuẩn bị đưa hàng ra cảng, chuẩn bị phươngtiện tiếp nhận, vận chuyển và thu xếp cầu bến cho tàu Thông thường, thông báotheo thứ tự 5.3.2.1 nghĩa là trước 5 ngày phải thông báo sau đó 3.2.1 ngày đều phải

có thông báo đều đặn vị trí tàu, tốc độ và dự kiến đến (Đây là nghĩa vụ ngầm hiểu,theo tập quán hàng hải nên có thể không cần ghi vào hợp đồng)

Về mặt pháp lý, việc tàu đến muộn là vi phạm hợp đồng, mọi chi phí đưa tàuđến cảng xếp, người chuyên chở phải tự gánh chịu và trong trường hợp người thuêtàu huỷ hợp đồng thì người chuyên chở phải chịu phạt theo quy định của hợpđồng Tuy nhiên, không phải cứ tàu đến muộn là người thuê tàu huỷ hợp đồng.Việc huỷ hợp đồng phụ thuộc vào tình hình thực tế, từng trường hợp cụ thể

Nếu người thuê tàu muốn huỷ hợp đồng, thì phải thông báo cho người chuyênchở biết

Tàu được coi là đã đến cảng (Arrived ship) khi thoả mãn các điều kiện sau:

- Tàu đã phải đến vùng thương mại của cảng, tức là khu vực trực thuộc cảng vềmặt hành chính, pháp lý, tài chính, địa lý (là nơi tàu neo đậu để chờ vào cảng), nếu

Trang 14

trong hợp đồng quy định một điều khoản chung chung mà không quy định tàu phảicập một cầu cảng cụ thể nào Trường hợp này hợp đồng gọi là "Hợp đồng thuê tàuđến cảng" ( Port charter party) Nếu hợp đồng quy định cụ thể một cầu cảng, hoặcbất cứ một cầu cảng an toàn nào, thì con tàu được coi là đến cảng đích chỉ định khicập được cầu cảng chỉ định Người chuyên chở phải chịu rủi ro do ùn tắc tàu, thờitiết xấu hoặc bất cứ một lý do nào khác xảy ra trước khi tàu cập cầu Hợp đồngnày được coi là " hợp đồng thuê tàu đến cầu "( berth charter party ).

Các điều kiện trên đây là căn cứ để tính thời gian làm hàng (Laytime).+ Người chuyên chở có nghĩa vụ mở hầm hàng lần đầu và đóng hầm lần cuối nếuhợp đồng không quy định gì

2 Các nghĩa vụ liên quan đến hàng

2.1 Các nghĩa vụ liên quan đến hàng của người chuyên chở trong hợp đồng thuê tàu chợ :

+ Người chuyên chở phải có nghĩa vụ bốc hàng lên tàu Nếu người chuyênchở không tự làm, thì phải thuê các công ty bốc xếp để bốc hàng lên tàu, mọi chiphí người chuyên chở phải thanh toán Người chuyên chở phải thuê các phươngtiện bốc xếp phù hợp, bốc hàng sao cho bảo vệ được hàng hoá khi đưa xuống tàu.Nếu có tổn thất gì trong khi bốc hàng, thì người chuyên chở phải bồi thường chongười gửi hàng trước, sau đó mới truy đòi người xếp hàng sau

Trang 15

+ Người chuyên chở có nghĩa vụ san, xếp hàng hoá trong hầm tầu, khoangtàu, đây là trách nhiệm nặng nề của thuyền trưởng Sự an toàn của hàng hoá, hànhtrình, tàu phụ thuộc rất nhiều vào sự mẫn cán của anh ta

+ Bảo quản, chăm sóc hàng hoá trong suốt quá trình chuyên chở, thườngxuyên theo dõi hàng, thông hơi , thông gió hàng hoá khi cần thiết

+ Dỡ hàng ra khỏi tàu, khi tàu đến cảng dỡ hàng để giao cho người nhận hànghợp pháp tại cảng đích

2.2 Các nghĩa vụ liên quan đến hàng hoá của người chuyên chở trong hợp đồng thuê tàu chuyến :

+ Bốc hàng ở cảng đi và dỡ hàng ở cảng đến, nếu điều đó được quy địnhtrong hợp đồng

+ Chỉ huy, hướng dẫn và giám sát việc bốc hàng, san, xếp hàng trong hầmhàng, mặc dù không được trả tiền Đây là nghĩa vụ thương mại của người chuyênchở Người chuyên chở phải tiến hành xếp dỡ hàng hoá cẩn thận, đúng kỹ thuật(hàng hoá kỵ nhau không được xếp gần nhau), hàng nào dụng cụ ấy( không dùngmóc đối với hàng bao kiện đã được khuyến cáo trên bao bì) Những việc trên đây

là vô cùng cần thiết để đảm bảo an toàn cho hành trình chạy biển, cũng như thuậnlợi cho việc chăm sóc, bảo quản hàng hóa khi vận chuyển Đây được cũng đượccoi là nghĩa vụ theo luật của người chuyên chở Người chuyên chở có nghĩa vụthường xuyên theo dõi thông hơi thông, gió cho hàng hoá khi cần thiết

+ Chăm sóc, bảo quản hàng hoá, sử lý hàng hoá trong suốt hành trình sao cho

Trang 16

+ Sau khi hàng hoá được giao lên tàu, người chuyên chở (Thuyền trưởng hoặcđại lý tàu biển ), theo yêu cầu của người thuê chở (Người gửi hàng), phải cấp một

bộ vận đơn đường biển Trong đó, ngoài các chi tiết khác thì phải có các chi tiếtsau :

- Ký mã hiệu chính, cần thiết để nhận biết hàng hoá như tài liệu bằng văn bản

do người gửi hàng cung cấp trước lúc bắt đầu xếp hàng, với điều kiện là những ký

mã hiệu này phải được in hoặc thể hiện rõ ràng lên hàng hóa đóng bao hoặc khôngđóng bao hoặc lên trên những hòm kiện chứa hàng hoá, mà trong điều kiện bìnhthường những ký mã hiệu đó vẫn đọc được cho đến khi kết thúc hành trình

- Số kiện, số chiếc hoặc số lượng hay trọng lượng tuỳ trường hợp, như ngườigửi hàng đã cung cấp bằng văn bản

- Trạng thái và điều kiện bên ngoài của hàng hoá

Tuy nhiên luật cũng quy định là người chuyên chở, Thuyền trưởng hay đại lýcủa người chuyên chở không buộc phải kê khai hay ghi trên vận đơn những mãhiệu, số lượng hay trọng lượng mà họ có cơ sở chắc chắn để nghi ngờ là không thậtđúng, hoặc không có cách nào hợp lý để kiểm tra Trong thực tế, trên bất kỳ vậnđơn nào cũng có ghi số lượng, trọng lượng Nhưng nếu có nghi ngờ, Thuyềntrưởng sẽ ghi dự kháng vào vận đơn để dễ từ chối trách nhiệm sau này Nhưngngười chuyên chở chỉ được phép dự kháng, khi có cơ sở chắc chắn để nghi ngờ làhàng giao không thật đúng với lời khai của người gửi hàng và khi người chuyênchở không có biện pháp hợp lý nào để kiểm tra lời khai của người gửi hàng

Về phía người gửi hàng, họ phải có trách nhiệm cung cấp đầy đủ ký mã hiệuchính của hàng hoá để thuyền trưởng ghi vào vận đơn, phải ghi đầy đủ ký mã hiệulên kiện hàng Ký mã hiệu này phải rõ ràng, không được phai nhoà trong suốt quátrình chuyên chở đến khi giao xong hàng hoá

Trình tự lập vận đơn thường được tiến hành theo những bước sau :

+ Giao hàng lên tàu hoặc giao hàng cho người chuyên chở

+ Người gửi hàng nộp cước phí chuyên chở (Trong trường hợp cước trả trước)

Trang 17

+ Thuyền phó lập biên lai thuyền phó

+ Trên cơ sở biên lai thuyền phó, Thuyền trưởng sẽ điền vào các chi tiết trênvận đơn đường biển và ký tên đóng dấu sau đó giao cho người gửi hàng bộ vậnđơn

Thông thường bộ vận đơn có 3 bản gốc và một số bản copy không có giá trịchuyển nhượng, khi một trong các bản chính đã dùng để nhận hàng thì các bản cònlại tự động vô hiệu, nếu hàng hoá không có khuyết tật gì thì đó phải là bộ vận đơnsạch ( Clean on boad B/L )

3.2 Đối với người chuyên chở hàng hoá bằng tàu chuyến :

- Cũng tương tự như người chuyên chở hàng hoá bằng tàu chợ, người chuyênchở bằng tàu chuyến cũng cấp cho người gửi hàng một bộ vận đơn, nhưng đó là bộvận đơn dùng cho tàu chuyến (C/P B/L) Vận đơn này không có tính năng là bằngchứng của hợp đồng mà chỉ bổ sung cho hợp đồng

4 Nghĩa vụ liên quan đến hành trình

4.1 Đối với người chuyên chở hàng hoá bằng tàu chợ :

- Người chuyên chở phải cho tàu đi theo tuyến đường thường lệ, từ cảng bốchàng đến cảng dỡ hàng, như đã niêm yết, trong khoảng thời gian đã cam kết, nếukhông có gì đột xuất, bất khả kháng để bảo vệ quyền lợi khai thác tàu và bảo vệquyền lợi cho chủ hàng

4.2 Đối với người chuyên chở bằng tàu chuyến :

- Người chuyên chở phải vận chuyển hàng hoá theo tuyến đường ngắn nhất,thông thường từ cảng bốc hàng, đến cảng dỡ hàng trong thời gian hợp lý, nhưngngười chuyên chở vẫn có quyền cho tàu đi chệch hướng, trong các trường hợp bấtkhả kháng và vì các mục đích nhân đạo mà trong các công ước quốc tế và các hợpđồng cho phép

5 Nghĩa vụ chi trả các chi phí liên quan đến đến con tàu như chi phí hoa tiêu ,cầu bến , chi phí ra vào cảng , đại lý phí , chi phí nhiên liệu , nước ngọt, chi trả tiền

Trang 18

thưởng xếp dỡ nhanh nếu hợp đồng thuê tàu chuyến quy định thưởng phạt, phí môigiới nếu có ….

II Các quyền hạn chủ yếu của người chuyên chở :

+ Người chuyên chở có quyền thu được tiền cước Vì vậy, trong các hợp đồngthuê tàu, trong các vận đơn người ta bao giờ cũng viết: “Tiền cước là thu nhậpchính của người chuyên chở và không được khấu trừ bất kỳ lý do nào dù hàng hoá

có thiệt hại hay không”, tiền cước còn được tính vào tổn thất chung

+ Quyền của người chuyên chở đối với hàng hoá bốc quá khối lượng lên tàu,hàng hoá bốc lậu lên tàu : Điều 100 Bộ luật hàng hải Việt Nam quy định: “Nếuhàng hoá bốc lên tàu quá khối lượng, thì người vận chuyển có quyền, thu thêmcước theo giá thoả thuận đối với hàng hoá đó Trong trường hợp, hàng hoá đượcbốc lậu lên tàu, người vận chuyển có quyền thu gấp đôi tiền cước và được bồithường các tổn thất phát sinh do việc xếp số hàng lậu đó lên tàu Người chuyên chở

có quyền dỡ số hàng lậu đó lên bất cứ cảng nào khi xét thấy cần thiết”

+ Người chuyên chở có quyền từ chối, chuyên chở những hàng hoá không đủtiêu chuẩn an toàn vận chuyển, nhất là đối với các hàng hoá nguy hiểm, hàng siêutrường, siêu trọng mà tàu không đủ các trang thiết bị đối với hàng hoá đó, nếuchuyên chở rất có thể sự an toàn của hàng, tàu, hành trình bị đe doạ

+ Quyền thay thế tàu của người chuyên chở:

Bộ luật hàng hải Việt Nam điều 64 qui định: “ Đối với hợp đồng lưu khoang,thì người vận chuyển có quyền thay thế tàu đã được chỉ định trong hợp đồng bằngmột tàu khác cùng loại, có đủ điều kiện cần thiết để vận chuyển hàng hoá, nếu hợpđồng không cấm việc thay thế tàu và phải thông báo cho ngươì thuê vận chuyểnbiết”

+ Người chuyên chở có quyền huỷ hợp đồng chuyên chở, nếu người thuê chởquá thời hạn cho phép mà vẫn không cung cấp hàng

+ Người chuyên chở có quyền tuyên bố số hàng sẽ xếp lên tàu vào lúc traothông báo sẵn sàng, nếu hợp đồng không quy định gì

Trang 19

+ Người chuyên chở có quyền đòi cước khống, nếu người thuê chở khôngcung cấp đủ hàng

+ Người chuyên chở có quyền đòi tiền phạt, tiền bồi thường phát sinh, nếungười thuê chở cung cấp hàng chậm, bốc/dỡ hàng chậm, trái với quy định của hợpđồng

+ Người chuyên chở có quyền cầm giữ hàng, để đòi tiền cước nếu bên thuêchở trả thiếu hoặc không trả

Trong hợp đồng thuê tàu chuyến, vận đơn tàu định tuyến thường có điềukhoản cầm giữ nợ cho phép người chuyên chở quyền cầm giữ hàng cho tới khi tiềncước, tiền cước khống, tiền phạt được thanh toán

Theo luật Anh người chuyên chở chỉ có quyền cầm giữ hàng để đòi tiền cước,tiền phạt, phần đóng góp tổn thất chung, chi phí cứu hộ

Theo bộ luật hàng hải Việt Nam ( Điều 113 khoản 2 ) người chuyên chở cóquyền cầm giữ hàng để đòi các chi phí liên quan đến : Án phí, chi phí thi hành án,chi phí bảo quản hàng hoá, chi phí bán, thuế, các loại chi phí công cộng khác,khoản tiền chi phí cứu hộ, chi phí tổn thất chung, tiền bồi thường các tổn thất dohàng hoá gây nên

Hợp đồng GENCON 1994 (Điều 8) quy định :" Người chuyên chở có quyềncầm giữ hàng hoá và các khoản thu của người thuê tàu để khấu trừ tiền cước, tiềncước khống, tiền phạt, các thiệt hại khác cũng như tất cả các khoản tiền phải trảcho hợp đồng, kể cả chi phí phát sinh từ việc khiếu kiện đòi bồi thường các khoảntiền nói trên"

III Các trách nhiệm chủ yếu của người chuyên chở trong hợp đồng chuyên chở hàng hóa bằng đường biển :

- Trách nhiệm chủ yếu của người chuyên chở đối với hàng hoá gồm ba nộidung sau :

1/Trách nhiệm của người chuyên chở đối với tổn thất hàng hoá:

Trang 20

- Công ước Bruxell 1924 còn gọi là quy tắc “ Hague 1924” và quy tắc Visby 1968 đều quy định trách nhiệm của người chuyên chở theo tính chất sau:

Hague Người chuyên chở chỉ phải chịu trách nhiệm đối với hư hỏng, mất mát củahàng hoá do cung cấp tàu không đủ khả năng đi biển (Unseawrthy ship) và do xếphàng quá tồi( Bad stowage)

- Người chuyên chở phải chịu trách nhiệm đối với hư hỏng, mất mát của hànghóa trong mọi trường hợp nếu không chứng minh được các trường hợp gây nên hưhỏng, mất mát của hàng hoá nằm trong các miễn trách hoặc ngoài tầm kiểm soátcủa người chuyên chở

Quy tắc Hamburg 1978 quy định khác so với hai quy tắc trên ở các điểmchính sau đây :

- Người chuyên chở phải chịu trách nhiệm về mất mát hư hỏng của hàng hoá,

về sự chậm giao hàng một khi hàng hoá còn nằm trong thời hạn trách nhiệm củangười chuyên chở

Quy tắc Hamburg 1978 không dựa trên việc liệt kê các miễn trách nhiệm, màdựa trên nguyên tắc: “ Suy đoán lỗi” Điều này có nghĩa là khi có hư hỏng, mấtmát, hay chậm giao hàng hoá, thì suy đoán rằng người chuyên chở có lỗi Ngườichuyên chở muốn giải thoát trách nhiệm, thì phải có nghĩa vụ chứng minh là mìnhkhông có lỗi, hoặc đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn ngừa sự cốgây ra mất mát, hoặc chậm giao hàng Tuy nhiên, Quy tắc Hamgurg 1978 cũngcòn quy định hai trường hợp miễn trách cho người chuyên chở là hư hỏng, mất máthoặc chậm giao hàng do cứu sinh mạng, hay tài sản trên biển và thiệt hại do việcchuyên chở súc vật sống, từ tính chất đặc biệt của loại hàng hoá này Bộ luật hànghải Việt nam quy định cơ sở trách nhiệm của người chuyên chở dựa trên sự thamkhảo các quy phạm của Quy tắc Hague – Visby và Quy tắc Hamburg 1978

- Người chuyên chở chịu trách nhiệm đối với hư hỏng, mất mát của hànghoá ,trong trường hợp tàu không đủ khả năng đi biển và do bảo quản, chất, xếphàng hoá tồi

Trang 21

- Ngoài các điều miễn trách ở trên người chuyên chở muốn được thoát tráchnhiệm thì phải có nghĩa vụ chứng minh mình không có lỗi hoặc đã áp dụng cácbiện biện pháp cần thiết hợp lý để ngăn ngừa các sự cố gây ra các tổn thất

2 Trách nhiệm của người chuyên chở về mặt thời gian còn gọi là : Thời hạn trách nhiệm ( Period of Responsibiliti )

-Theo Quy tắc Hague 1924 và Hague –Visby 1968 quy định thời hạn tráchnhiệm của người chuyên chở là từ “ Móc cẩu đến móc cẩu”, có nghĩa là ngườichuyên chở chỉ chịu trách đối với sự mất mát , hư hỏng , thiệt hại của hàng hoá, từkhi móc cẩu móc vào kiện hàng trên bờ (nếu cần cẩu của tàu ), hoặc khi móc cẩurời kiện hàng trên tàu ( nếu cần cẩu của cảng), ở cảng đi, đến khi móc cẩu rời kiệnhàng trên bờ ( nếu cần cẩu tàu ) hoặc móc cẩu móc vào kiện hàng trên tàu (nếu cầncẩu của cảng) ở cảng đến Nếu hàng hoá được đưa đến cảng nhưng chưa bốc lêntàu, mặc dù người chuyên chở đã cấp vận đơn “Nhận để bốc” thì hàng vẫn chưathuộc trách nhiệm của người chuyên chở Ngoài ra, người chuyên chở cũng khôngchịu trách nhiệm khi hàng hoá được dỡ hết khỏi, tàu mà vẫn chưa giao cho ngườinhận, phải nằm tại kho cảng , kho ngoại quan .-Theo quy tắc Hamburg 1978 quy định thời hạn trách nhiệm của người chuyên chởrộng hơn, chủ yếu là thời gian trước khi xếp hàng lên tàu và thời gian sau khi dỡhàng ra khỏi tàu Cụ thể người chuyên chở chịu trách nhiệm về hàng hoá kể từ khianh ta nhận hàng từ người gửi hàng, hoặc từ người thứ ba nào khác có thẩm quyềntại cảng xếp hàng, tiếp tục trong suốt quá trình vận chuyển, cho đến khi anh ta giaohàng cho người nhận hàng, hoặc đại diện người nhận hàng tại cảng dỡ hàng

-Theo luật hàng hải Việt nam ( Điều 108 khoản 1) thời hạn trách nhiệm củangười chuyên chở từ khi bốc hàng lên tàu, đến khi giao hàng cho người nhận hàng

cụ thể là:

+ Qua lan can tàu nếu chi phí bốc dỡ thuộc người gửi và nhận hàng

Ngày đăng: 13/04/2025, 01:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w