1. Trang chủ
  2. » Biểu Mẫu - Văn Bản

Một số vấn đề pháp luật tố tụng dân sự phát sinh từ thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng về quyền sử dụng đất

10 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số vấn đề pháp luật tố tụng dân sự phát sinh từ thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng về quyền sử dụng đất
Tác giả Bùi Thị Huyền
Người hướng dẫn Phó Giáo Sư, Tiến Sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật tố tụng dân sự
Thể loại Báo cáo hoặc bài viết
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGHIÊN cút - TiDiO ĐÓ íMỘT SÒ' VẤN ĐÉ PHÁP LUẬT Tố TỤNG DÂN sự PHÁT SINH TỪ THựC TIÊN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VỀ QUYỂN sử DỤNG ĐẤT BÙI THỊ HUYỂN * * Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Trường Đ

Trang 1

NGHIÊN cút - TiDiO ĐÓ í

MỘT SÒ' VẤN ĐÉ PHÁP LUẬT Tố TỤNG DÂN sự PHÁT SINH TỪ THựC TIÊN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VỀ QUYỂN sử DỤNG ĐẤT

BÙI THỊ HUYỂN *

* Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội

£-mail: huyenttd@hlu.edu.vn

Tóm tắt: Bài viết này tập trung phân tích, đánh giá một so vẩn đề pháp luật tố tụng dãn sự phát sinh từ thực tiền giải quyết tranh chấp hợp đồng về quyền sử dụng đất tại toà án, trên cơ sở đó đưa

ra quan điểm áp dụng pháp luật đối với các vấn đề: Thẩm quyền giải quyết tranh chấp hợp đồng về quyên sử dụng đăt; xác định người cỏ quyền khởi kiện, người có quyền và nghĩa vụ liên quan khi giải quyêt tranh châp hợp đông vê quyên sử dụng đất; thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng về quyền sử dụng đất.

Từ khoá: Thủ tục giải quyết tranh chấp; hợp đồng về quyền sử dụng đất; Bộ luật Tổ tụng dãn sự; thâm quyền

Nhận bài: 30/10/2021 Hoàn thành biên tập: 28/3/2022 Duyệt đăng: 28/3/2022

SEVERAL ISSUES OF CIVIL PROCEDURES LAW ARISING OUT OF THE PRACTICE ON RESOLUTION OF DISPUTES OVER LAND USE RIGHTS CONTRACT

Abstract: This article focuses on analyzing and assessing several civil procedurual issues arising out of contractual dispute resolution practices over land use rights in courts, therefrom proposing the application of the law in issues including: Competence to resolve contractual disputes over land use rights; determination of the subject who has the right to initiate a lawsuit and the subject whose rights and obligations are related to the resolution of contractual disputes over land use rights; the statute of limitation to initiate a lawsuit over land use rights contract.

Keywords: The procedures to resolve disputes; land use rights contract; Civil Procedures Code; competence

Received: Oct 3ơh, 2021; Editing completed: Mar 28th, 2022; Accepted for publication: Mar 28th, 2022

1 Xác định thẩm quyền giải quyết tranh

chấp hợp đồng về quyền sử dụng đất

Xác định đúng thẩm quyền là một trong

những nội dung quan trọng khi giải quyết

tranh chấp hợp đồng về quyền sử dụng đất,

bao gồm thẩm quyền theo loại việc, thẩm

quyền theo cấp vàthẩmquyềntheo lãnh thổ

- về thẩm quyền theo loại việc: Tranh

chấp hợp đồng về quyền sử dụng đất là một

trong các loại tranh chấp thuộc thẩm quyền

theo loại việc của toà án theo khoản 3 Điều

26 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm

2015 Cầnphân biệt tranh chấp hợp đồng về

nhà ở và tranh chấp hợp đồng về quyền sử dụng đất, bởi tuy cùng là tranh chấp về hợp

đồng songpháp luật về nội dung để đánh giá hiệu lực củahợp đồng, thời điểm có hiệu lực

của hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các

bên trong quan hệ hợp đồng là khác nhau

Trang 2

NGHIÊN cứư - TRA o ĐÕI

Việc phân biệthai loại hợp đồng này cần căn

cứ vào bản chất pháp lí của quan hệ hợp

đồng mà không phải hình thức hay tên gọi

củahợp đồng Tuynhiên, trên thựctế vẫn có

trường hợp toà án đã nhẩm lẫn trong việc

xác định quan hệ tranh chấp hợp đồng về

nhà ở và tranh chấp hợp đồng về quyền sử

dụng đất Chẳng hạn, vụ tranh chấp hợp

đồng giữa nguyên đon bà N.T.Th, Quận

Thành phố Hồ Chí Minh và ông T.V.L,

Quận 3 Thành phố HCM về “Hợp đồng bán

nhàxây mới”, đối tượng là một căn nhà xây

thôtrên nền đất số 1756, khu c thuộc Dự án

Khu đô thị An Phú - An Khánh, Quận 2,

Thành phố Hồ Chí Minh1 Nội dung vụ án

như sau: Ngày 12/11/2003, Công ti cổ phần

Phát triển và kinh doanh nhà (viết tắt là

Công ti HDTC - Bên A) kí Hợp đồng bán

nhà xây mới số 1797/2003/HĐAPC-KD với

ông N.T.D (Bên B) Điều 1 Hợp đồng quy

định: “Bên A đồng ý bán, bên B đồng ý mua

một căn nhà xây thô và giả trị xây lắp sẽ

được quy định cụ thế bằng phụ lục hợp đồng

xây lắp Căn nhà được tọa lạc trên nền đất

sổ 1756, khu c thuộc Dự án Khu đô thị An

Phủ - An Khánh, Quận 2, Thành phố

HCM Ngày 08/9/2009, ông D chuyển

nhượng lại hợp đồng cho bà B.X.Ng Tiếp

đến, ngày 27/6/2011 bà Ng chuyển nhượng

hợp đồng cho bà Th, ngày 09/9/2014 bà Th

kí hợp đồng đặt cọc và hợp đồng mua bán

nhà nêu trên cho ông T.V.L tại Văn phòng

công chứng Thủ Thiêm

1 Quyết định số 63/2020/DS-GĐT về tranh chấp hợp

đồng đặt cọc, hợp đồng chuyển nhượng quyền và

nghĩa vụ thực hiện giao dịch ve bất động sàn ngày

11/12/2020 của Toà án nhân dân tối cao.

2 Tham khảo Điều 7 Nghị quyết số 03/2012/NQ- HĐTPTANDTC ngày 03/12/2012 hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Khi thụ lí giải quyếttranh chấp trên, toà

án cấp sơ thẩm và toà án cấp phúc thẩm đều

xác địnhquan hệ pháp luậttranhchấp là hợp đồng mua bán nhà và áp dụng pháp luật về

nhà ở để giảiquyết tranh chấplà khôngđúng với bản chất pháp lí của vụ việc Sau khi kí hợp đồng bánnhà xây mới nêutrên, các bên

chưa kíPhụ lục họpđồng về việc xây nhà và chưa xác định giá trị căn nhà sẽ xây mới, ông D, bà Ng, bà Th hay ông L chưa thanh toán tiền mua căn nhà cho Công ti HDTC

Do đó, Họp đồng bán nhàxây mới giữa các bên thực chất là Họp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn với cơ sở hạ tầng và

áp dụng Điều 78c Luật Đất đai năm 1993 (sửa đổi, bổ sung năm 1998), Điều 194 Luật

Đất đai năm 2013 và Điều 41 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính

phủ quy định chi tiết thi hành một số điều

của Luật Đất đai năm 2013 để giải quyết mới chính xác

- về thẩm quyền theo cấp: Đa số các

tranh chấp hợp đồng về quyền sử dụng đất

đều thuộc thẩm quyền giải quyết của toà án nhân dân cấp huyện, trừ tranh chấp có liên quan đến đương sự ở nước ngoài2 hoặc vụ án

thuộc thẩm quyền của toà án nhân dân cấp huyện nhưng do tính chất phức tạp nên toà

án nhân dân cấp tỉnh lấy lên để giải quyết

hoặc vụ án theo quy định tại Điều 34

BLTTDS năm 2015

Trang 3

NGHIÊN cúv - TRA o ĐÔI

Theo Điều 34 BLTTDS năm 2015 và

hướng dẫntại Giải đáp nghiệp vụ số 02 ngày

19/9/2016 cùa Toà án nhân dân tối cao thì

khi giải quyết vụ án tranh chấp đất đai nói

chung và tranh chấp hợp đồng về quyền sử

dụngđất nói riêng, toà án có quyềnhuỷ giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất, nếu có căn

cứ theo quy định của pháp luật Thẩm quyền

của cấp toà ántrong trường hợpyêu cầu huỷ

giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của uỷ

ban nhân dân được xác định theo quy định

tại khoản 4 Điều 32 Luật Tốtụng hành chính

năm 2015 Như vậy, theo quy định này thì

tranh chấp hợp đồng về quyền sử dụng đất

mà đương sự có yêu cầu huỷ giấy chứng

nhận quyền sử dụngđất của uỷ ban nhândân

sẽ thuộc thẩm quyền xétxử sơ thẩm củatoà

án nhân dân cấp tỉnh, không phụ thuộc vào

yêu cầu của đương sự có được chấp nhận

hay không3 Trong trường hợp này toàn bộ

vụ án tranh chấp về hợp đồng chuyển

nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu huỷ

giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của uỷ

ban nhân dân sẽ thuộc thẩm quyềnxét xử sơ

thẩm của toà ánnhândân cấp tỉnh theoĐiều

34BLTTDS năm2015

3 Bản án dân sự phúc thẩm số 17/2021/PT-DS của

Toà án nhân dân tối cao số 17/2021/DS-PT ngày

27/01/2021 về tranh chấp hợp đồng chuyển đổi

quyền sử dụng đất và yêu cầu huỷ quyết định hành

chính liên quan đến thu hồi đất, phê duyệt phương

án bồi thường, https://congbobanan.toaan.gov.vn,

truy cập 10/9/2021.

4 Tòa án nhân dân tối cao, Giải đáp nghiệp vụ số 02/GĐ-TANDTC của Tòa án nhân dân tối cao ngày 19/9/2016 (điểm 4 Mục II).

Tuy nhiên, theo hướng dẫn của Toà án

nhân dântối cao thì: “Khi giải quyết vụ việc

dân sự có liên quan đến quyết định cả biệt

của cơ quan, tổ chức thì toà án phải xem xét,

đánh giá về tính hợp pháp của quyết định cá

biệt đó Trường hợp quyết định cá biệt rõ

ràng trải pháp luật xâm phạm quyền, lợi ích

hợp pháp của đirơng sự và phải huỷ quyết định đó mới bảo đảm giải quyết đủng đắn vụ

việc dân sự mà việc huỷ quyết định đó không làm thay đổi thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự thì toà án đang giải quyết vụ việc dân

sự tiếp tục giải quyết và xem xét huỷ quyết định đó Trường hợp việc xem xét huỷ quyết định đó dẫn đến thay đổi thẩm quyền giải

quyết vụ việc dân sự xác định theo quy định

tương ứng của Luật Tố tụng hành chỉnh về thẩm quyền của toà án nhân dân cấp tỉnh thì toà án nhân dân cấp huyện đang thụ lí giải quyết vụ việc dãn sự phải chuyển vụ việc cho toà án nhân dân cấp tỉnh giải quyết và xem

xét huỷ quyết định đó Trường họp khi giải

quyết vụ việc dân sự có liên quan đến quyết định cả biệt nhưng không cần thiết phải huỷ

quyết định cả biệt đó và việc không huỷ

quyết định đó vẫn đảm bảo giải quyết đủng

đắn vụ việc dân sự thì toà án đang giải quyết

vụ việc dân sự tiếp tục giải quyết” 4 Nhưvậy,

theo hướng dẫn này thì khi có yêu cầu huỷ

giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của uỷ ban nhân dân, toà án nhân dân cấp huyện vẫn tiếp tục xem xét, thụ lí và chỉ khi nào

xác định rõ có căn cứ huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của uỷ ban nhân dân thì toà án nhân dân cấp huyện mớichuyển hồ sơ

vụ án chotoàán nhân dân cấp tỉnh giảiquyết Hướng dẫn này là để giải quyết tình trạng

Trang 4

NGHIÊN (ít - TRA o DÒỈ

quá tải của toà án nhân dân cấp tỉnh (đối với

các địa phương có số lượng án lớn) nhưng

lại không đúng với tinh thần của Điều 34

BLTTDSnăm 2015

- về thẩm quyền của toà án theo lãnhthổ:

Việc xác định thẩm quyền theo lãnh thổ đối

với tranh chấp dân sự nói chung căn cứ vào

khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 40 BLTTDS

năm 2015 và cần lưuýhai trường hợp:

Một là trường hợp đối tượng tranh chấp

là bất động sản thì sẽ do toà án nơi có bất

động sản có thẩm quyền giải quyết, nếu bất

động sản có ở nhiều địa phương khác nhau

thì nguyên đơn có thể yêu cầu toà án nơi có

một trong các bất động sản giải quyết5;

5 Điểm c khoản 1 Điều 39, điểm i khoản 1 Điều 40

BLTTDS năm 2015.

6 Bản án số 31/2020/KDTM-ST ngày 27/10/2020 của Toà án nhân dân quận c, Thành phố H, về tranh chấp Hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp giữa nguyên đơn là Ngân hàng s, trụ sở chính

số 25 Đ, phường p, quận Hoàn Kiếm, thành phổ Hà Nội và bị đơn là Công ty N, trụ sở số 10, ngõ 387

V, phường N, quận cầu Giấy, thành phố Hà Nội, tài sản thế chấp số 01 là toàn bộ quyền sử dụng đất

và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 4, tờ bản

đồ số 01, có diện tích 395m2, tại địa chỉ thôn N6,

xã KI, huyện Đ, thành phố Hà Nội và tài sản số 02

là toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 4, tờ bản đồ số 25, có diện tích 796m2 tại địa chỉ thôn Ql, xã B, huyện Đ, thành phố Hà Nội Vụ án trên do Toà án nhân dân nơi bị đơn có trụ sở - Toà án nhân dân quận CG, thành phố Hà Nội giải quyết, https://congbobanan.toaan gov.vn, truy cập 10/9/2021.

7 Quyết định số 63/2020/DS-GĐT về tranh chấp hợp

Hai là trường hợp đối tượng tranh chấp

không phải là bất động sản thì việc xácđịnh

thẩm quyền dânsự của toà án theothửtự sau:

1) Toà án nơi cư trú, làm việc của nguyên

đơn, nếu nguyênđơn là cánhân hoặc nơi có

trụ sở của nguyên đơn,nếu nguyên đơn là cơ

quan, tổ chức giải quyết (nếu các đương sự

có thỏa thuận với nhau bằng văn bản);

2) Toà án theo sự lựa chọn của nguyên đơn

theo khoản 1 Điều 40 BLTTDS năm 2015;

3) Toà án nơi bị đơn người bị yêu cầu là cá

nhân cư trú, làm việc hoặc toà án nơi bị đơn,

người bị yêucầu có trụ sở nếu họ là cơ quan,

tổ chức (điểm a khoản 1 Điều39 BLTTDS)

Trong trường hợp nơi cư trú của bị đơn

và nơi có bất động sản (đất) trùng nhau thì

việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh

chấp hợp đồng về quyền sừ dụng đất không

có vướng mắc Tuy nhiên, trên thực tếtrong

trường hợp nơi cư trú của bị đơn và nơi có bất động sản ở hai quận, huyện hoặc tỉnh

khác nhau, có các quan điểm khác nhau về việc xác định thẩm quyền theo lãnh thố đối với tranh chấp hợp đồng về quyền sử dụng đất Quan điểm thứ nhất cho rằng6, tranh

chấp hợp đồng về quyền sử dụng đất hoặc tranh chấp về hợp đồng tín dụng và hợp

đồng thế chấp liên quan đến hợp đồng tín

dụng không phải là tranh chấp về bất động sản nên việc xác định thẩm quyền của toàán được xác định theo thứtự: 1) Toàán nơi cư trú, làm việc hoặc có trụ sở của nguyên đơn (nếu có thỏa thuận); 2) Toà án nơi hợp đồng

được thực hiện giải quyết; 3) Toà án nơi cư trú, làm việc hoặc có trụ sở của bị đơn Quan điểm thứ hai cho rằng, việc xác định thẩm

quyền theo lãnh thổ đối VỚI tranh chấp hợp đồng về quyền sử dụng đất cần căn cứ vào đối tượng cụ thể của tranh chấp và hậu quả

pháp lí của hợp đồngvề quyền sử dụng đất7

Trang 5

NGHIÊN CỨU - TRA o ĐÔI

Quan điềm thứ hai là phù hợp với điểm c

khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015 Việc

xác định thẩm quyền theo lãnh thổ đối với

tranh chấp hợp đồng về quyền sử dụng đất

cần linh hoạt và phụ thuộc vào đối tượng

tranh chấp của hợp đồng, giải quyết hài hòa

yêu cầu bảođảm cho toà áncó điềukiện giải

quyếttranh chấp tốtnhất và yêu cầu tạo điều

kiện thuận lợi cho bị đon tham gia tổ tụng

Khi đối tượng tranh chấp của hợp đồng về

quyền sử dụng đất là ranh giới, vị trí, diện

tích, tình trạng pháp lí của thửa đất hay dần

đến việc phải đo đạc, xem xét tại chỗ, định

giá thửa đất, bàn giaođất thì toà án nơi có

đất có thẩm quyền giải quyết tranh chấp sẽ

thuận lợi cho toà án khi xác minh, thu thập

chứng cứ cũng như bảo đảm hiệu quả của

việc thi hành án dân sự Trong trường hợp

đối tượngtranh chấp của hợp đồngvềquyền

đồng đặt cọc, hợp đồng chuyển nhượng quyền và

nghĩa vụ thực hiện giao dịch về bất động sản ngày

11/12/2020 Trong vụ án này bị đơn là ông T.V.L

cỏ nơi cư trú ờ Quận 3, đối tượng cùa hợp đồng

chuyển nhượng là quyền sử dụng đất ở Quận 2 và

tòa án có thẩm quyền giải quyết là Toà án nhân dân

Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh Quyết định giám

đốc thẩm dân sự số 03/2020/DS-GĐT ngày

16/01/2020 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân

dân tối cao về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng

quyền sử dụng đất và yêu cầu huỷ giấy chứng nhận

quyền sử đụng đất Nội dung vụ án như sau:

Nguyên đơn là ông Hồ Văn H, có nơi cư trú tại

huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh ưanh

chấp với bị đơn là ông N.T.Nh và và L.T.K.L, có

nơi cư trú tại Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh về

hợp đồng chuyển nhượng quyền sừ dụng đất tại xã

Long Thới, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí

Minh Vụ án này do Toà án nhân dân huyện Nhà

Bè (nơi có đối tượng tranh chấp là bất động sản)

giải quyết (Bản án dân sự sơ thẩm số 224/2016/DS-

ST ngày 03/11/2020).

sừ dụng đất là các nghĩa vụ khác trong hợp

đồng thì toà án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp sẽ là toà án nơi cư trú, làm việc hoặc có trụ sở của nguyên đơn (nếu có thỏa thuận) hoặc toà án nơi hợp đồng được thực

hiện giải quyết (theo sự lựa chọn của nguyên đơn)hoặc tòaánnơi cư trú, làm việchoặc có trụ sở của bị đơn

2 Xác định người có quyền khởi kiện

và người có quyền và nghĩa vụ liên quan khi quyết tranh chấp hợp đồng về quyền

sử dụng đất

- về ngườicó quyền khởi kiện trong giải quyết tranh chấp hợp đồng về quyền sử dụng

đất: về nguyên tắc, chủ thể có quyền khởi kiện vụ án dân sự là người có quyền và lợi

ích họp pháp bị xâm phạm hoặc tranhchấp8 nên các bên trong quan hệ hợp đồng về quyền sử dụng đất là người có quyền khởi

kiện vụ án dân sự Theo nguyên lí chung,

quyền lợi gắn với quan hệ pháp luật dân sự chính là đối tượng của quyền khởi kiện Đối với các tố quyền đối nhân, do tính cách đối

nhân của nghĩa vụ thì ngoài trái chủ ra không người nào có thể có yêu cầu đó đối với người có nghĩa vụ Cơ sở của tố quyền

đối nhân chính là quan hệ về nghĩa vụ, mà

trong đó bên có nghĩa vụ đã không thực hiện nghĩa vụcủa mìnhdẫn tớibên có quyền phải

“cầu viện’’ tới sự can thiệp của công để buộc bên có nghĩa vụ phải thi hành nghĩa vụ của họ9 Tuy nhiên, đối với trường họp một

8 Nguyễn Thị Hương, Khởi kiện vụ án dân sự - Những vấn đề lí luận và thực tiễn, Luận án tiến sĩ

luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2019, tr 35.

9 Trường Đại học Luật Hà Nội, Luật học Việt Nam -

Những vẩn đề đương đại, Nxb Tư pháp, Hà Nội,

2019, tr 483.

Trang 6

NGHIÊN CỨU - TRA o ĐÔI

người không trực tiếp tham gia quan hệ hợp

đồng nhưng họlại là ngườibị ảnh hưởng bởi

quan hệ hợp đồng về quyền sử dụng đất thì

có quyền khởi kiện vụán dân sự hay không

là vấn đề phát sinh trên thực tế và có các

quan điểm khác nhau Chẳng hạn, Bản án

dân sự phúc thẩm số 18/DS-PT ngày

20/7/2016 của Toà án nhân dân tỉnh X tuyên

ông E phải trả cho bà F số tiền400.000.000

đồng Ngày 10/9/2016, ôngE chuyển nhượng

quyền sử dụng đất của mình cho bà G, hợp

đồng chuyển nhượng quyền sử dụngđất giữa

ông E và bà G đã được công chứng Tuy

nhiên,sau khi nhận được tiềntừbà G, ông E

không trả tiền chobà F nên bà F đã làm đơn

yêu cầu thi hành án Sau khi cơ quan thi

hànhán dân sự có thẩm quyền xác minh ông

E không có tài sản nào khác để thi hành án,

bà F đã gửi đơn khởi kiện yêu cầu huỷ hợp

đồng chuyển nhượng quyền sửdụngđất giữa

ông E và bà G về tình huống này, căn cứ

Điều 186, 187 BLTTDS năm 2015 có thể

dẫn đến cách hiểu ,rằng do bà F không phải

là chủ thể của quan hệ hợp đồng mua bán

nhà nên bà F không có quyền khởi kiện yêu

cầu huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử

dụng đấtgiữa ông E vàbàG

Nếu hiểuchỉ những chủthể tham giavào

quan hệ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử

dụng đất là người có quyền và lợi ích hợp

pháp liên quan đến quan hệ hợp đồng nên

mới có quyền khởi kiện là hạn chế quyền

khởi kiện của các chủ thể Dưới góc độ bảo

vệ quyền dân sự, bất kì người nào bị ảnh

hưởng bởi quan hệ dân sự do chủ thể khác

xác lập đều phải có quyền khởi kiện10 * 11 Do

10 Trần Anh Tuấn, “Người tham gia tố tụng dân sự

trong mối liên hệ giữa pháp luật tố tụng dân sự và pháp luật dãn sự”, trong: Sự tương thích và mâu thuẫn giữa pháp luật tố tụng dân sự và pháp luật dân sự, Đề tài khoa học cấp cơ sở, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2018.

11 Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phù quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành

án dân sự năm 2014.

đó, Cần giải thích quy định tại Điều 186 BLTTDS năm 2015 theo hướng tất cả các chù thể cho rằng bị ảnh hưởngbởi quan hệ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng

đất giữa ông E và bà c đều có quyền khởi

kiện Bên cạnh đó, theo Điều 24 Nghị định

số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của

Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án

dân sự năm 2014 thì kểtừ thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, nếu bà E (người phải thi hành án) chuyển đổi, tặng

cho, bán, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố

tài sản cho ngườikhác (bà G) mà không sử

dụng khoản tiền thu được để thi hành án và không còn tài sản khác hoặc tài sản khác không đủ để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án

thì quyền sử dụng đấttrong trường hợp này vẫn bị kê biên, xử lí để thi hành án, trừ

trường hợp pháp luật cóquy định khác theo

quy định tại khoản 1 Điều75 Luật Thi hành

án dân sự Bà F cóquyền khởi kiện yêu cầu

toà án có thẩm quyền tuyên bố hợp đồng

giữa ông E và bà G là vô hiệu1' Hướng dẫn

này là phù hợp với khoản 2 Điều 125 BLDS

năm 2015, theo đó trường hợp xác lập giao dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa

vụ với người thứ ba thì giao dịch dân sự đó

vô hiệu Vì vậy, theo quy định này, nếu

Trang 7

NGHIÊN CỨU - THA o ĐÔI

người phải thi hành án dân sự chuyển dịch

tài sản của mình cho người thứ ba thông

qua giao dịch dân sự và người thứ ba đã

được xác lập quyền sở hữu đối với tài sản

đó thì giao dịch dân sự của người phải thi

hành án dân sự với người thứ ba vẫn có thể

bị tuyên vô hiệu

- về xác định người có quyền lợi, nghĩa

vụ liên quantrong giải quyết tranh chấp hợp

đồng về quyền sử dụng đất: Đối với tranh

chấp hợp đồng về quyền sử dụng đất mà

đang do người khác trực tiếp quản lí, sử

dụng hoặc đang cho thuê, thế chấp tại ngân

hàng thì khi giải quyết vụ án, người đang

quản lí, sử dụng, đangthuê, ngân hàng đang

nhận thế chấp nhà, đất được xác định là

người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Trường hợp đối tượng tranh chấp là quyền

sử dụng đất mà đất tranh chấp có một phần

diện tích nằm trong giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất của bên thứ ba, ngoài giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho

nguyên đơn hoặc bị đơn thì phải xác định

bên thứ ba là người có quyền lợi, nghĩa vụ

liên quan Trường hợp đất tranh chấp mà

giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp

cho nguyên đơn hoặc bị đơn nhưng theo hồ

sơđịachính trước đó do người khác kê khai,

đăng kí trên sổ mục kê hoặc sổ địa chính

thì ngườikê khai, người đăng kí trên sổ mục

kê, sổ địa chính được xác định là người có

quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trường họp

tranh chấp hợp đồng về quyền sử dụng đất

mà có yêu cầu toà án huỷ giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất đã cấp thì uỷ ban nhân

dân đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng

đất được xác định là người có quyền lợi,

nghĩa vụ liên quan12

12 Khoản 3 Điều 34 BLTTDS năm 2015.

13 Hướng dẫn số 32/HD-VKSTC ngày 26/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn một số nội dung trong kiểm sát việc giải quyết các vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất, quyền sờ hữu nhà.

14 Công văn số Ól/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ (điểm 4 mục III).

Trường họp tranh chấp hợp đồng về

quyền sử dụng đất mà quyền sử dụng đất

được cấp chochohộ gia đình thì việc đưa ai

vào thamgia tốtụng với tư cách là người có

quyền và nghĩa vụ liên quan còn có các quan điểm khác nhau Quan điểm thứ nhất cho rằng, phải căn cứ vào hộ khẩu tại thời

điểm được cấp giấy chứng nhận quyền sừ

dụng đất để xác định các thành viên trong

hộ có tên trong hộ khẩu là người có quyền

lợi, nghĩa vụ liên quan13 Quan điểm khác lại cho rằng, việc xác định ai là thành viên

hộ gia đình phải căn cứ vào hồ sơ cấp giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất14 Trường

hợp cần thiết, toà án có thể yêu cầu uỷ ban nhân dân có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất xác định thành viên

hộ gia đình tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm căn cứ giải

quyết vụ án và đưa họ tham gia tố tụng với

tư cách làngười có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Khi giải quyết vụ án dân sự, ngoài những người là thành viên hộ gia đình có quyền sử dụng đất, toà án phải đưa người

đang trực tiếp quản lí, sử dụng đất của hộ gia đình, người có công sức đóng góp làm

tăng giá trị quyền sử dụng đất hoặc tài sản

Trang 8

NGHIÊN CỨU- TRAO ĐÔI

trên đất tham gia tố tụng với tư cách là

người có quyền lợi, nghĩa vụliên quan15

15 Công văn số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày

07/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao giải đáp

một số vấn đề nghiệp vụ (điểm 4 mục III).

Quan điểm thứ hai hợp lí hơn bởi sổ hộ

khẩu chỉ là hình thức quản lí nhân khau

trong các hộ gia đình, có chức năng xác

định nơi thường trúhợp pháp của công dân

Trong khi đó, hồ sơ cấp giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất, người đang trực tiếp

quản lí, sử dụng đất của hộ gia đình, người

có công sức đóng góp làm tăng giá trị

quyền sử dụng đất hoặc tài sản trênđất mới

là cơ sở để xác định ai là người có quyền và

nghĩa vụ liên quan đến quyền sử dụng đất

đang tranh chấp

3 Thời hiệu khỏi kiện tranh chấp họp

đồng về quyền sử dụng đất

Tranh chấp hợp đồng về quyền sử dụng

đất là một trường hợp cụ thể của tranh chấp

về họp đồng nên thời hiệu khởi kiệnđược áp

dụng theo thời hiệu khởi kiện tranh chấp về

hợp đồng Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 688

Bộ luậtDân sự (BLDS) năm 2015 thì không

phụ thuộc vàothờiđiểm xác lập quan hệ hợp

đồng, kể cả các hợp đồng xác lập trướcngày

01/01/2017 thời hiệu khởi kiện tranh chấp

hợp đồng về quyền sử dụng đất được xác

định như sau:

- Đối với trường hợp tranh chấp về

quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng thì thời

hiệu khởi kiện được áp dụng căn cứ Điều

429 BLDS năm 2015 và Điều 184 BLTTDS

năm 2015, theo đó thời hiệu khởi kiện để

yêu cầu toà án giải quyết tranh chấp hợp

đồng về quyền sửdụng đất là 03 năm kể từ

ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm Tuy nhiên, khi giải quyết tranh

chấp trong trường hợp này, toà án chỉ áp

dụng thời hiệu khởi kiện khi đương sự có

yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện Chẳng

hạn, vụ tranh chấp hợpđồng chuyển nhượng

quyền sừ dụng đất ngày 24/9/2020 của Toà

án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc Theo nội dung vụ án này thì ngày 07/9/2016 bên chuyển nhượng (anh N.v c, chị B.T.K) và bên nhận chuyểnnhượng (anh

Đ.V.B và chị N.T.T) giao kết hợp đồng

chuyển nhượng quyền sử dụng đất, theo đó

bên chuyển nhượng chuyển nhượng cho bên

nhận chuyển nhượng đất vỡ hoang, địa chỉ

thửa đất ở thôn PC, xã Hướng Đạo, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc, đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dung đất, giao dịch trên không có công chứng hoặc chứng thực Cuối tháng 5/2019, anh B, chị T xây tường bao quanh để giữ đất thì gia đình anh c ngăn cản không cho xây và

cho rằng không chuyển nhượng đất cho anh chị nên hai bên đã xảy ra tranh chấp Anh B,

chị T khởi kiện đề nghị toà án công nhận

giao dịchchuyểnnhượng quyền sửdụng đất ngày 07/9/2016 giữa anh Đ.V.B, chị N.T.T

và anh N.v.c, chị B.T.K có hiệu lực, yêu

cầuanh c, chịKthực hiện hợpđồng là giao đất đã chuyển nhượng Khi giải quyết vụ án

này, Toà án nhândân huyện Tam Dương đã

nhậnđịnh: “ Trong vụ án này các đương sự

đều không đưa ra yêu cầu áp dụng thời hiệu theo quy định tại Điều 184 BLTTDS

Trang 9

NGHIÊN CỨU - TRA o ĐÓI

năm 2015 nên đây là vụ án không áp dụng

thời hiệu”ỉ(>'.

- Đối với tranhchấp về yêu cầu tuyênbố

hợp đồng về quyền sử dụng đất vô hiệu thì

thời hiệu khởi kiện được áp dụng theo Điều

132BLDS năm 2015

- TheoĐiều 155 BLDS năm 2015 thìđối

với các tranh chấp về quyền sở hữu, đòi lại

tài sản, toà án không áp dụng thời hiệu,

không phụ thuộc vào việc một bên hoặc các

bên có hay không có yêu cầu áp dụng thời

hiệu Do đó, trường hợp các đương sựkiện

đòi quyền sừ dụng đất theohợp đồng về cho

thuê, cho mượn, cho ở nhờ, chuyến đổi,

chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì

không áp dụng thời hiệu khởi kiện Thực tế

hiện nay, nhiều trường hợp, về bản chất là

các đương sự có tranh chấp về quyền và

nghĩa vụ theo hợp đồng về quyền sử dụng

đất nhưngdo thời hiệu khởi kiệntranh chấp

đã hết nênđương sự đã căn cứvào quy định

về thời hiệu kiện đòi tài sản, thay đổi yêu

cầu thành kiện đòi tài sản để khởi kiện vụ

án dânsự

16

17

18

16 Bàn án số 12/2020/DSST ngày 24/9/2020 về tranh

chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

của Toà án nhân dân huyện Tam Dương, tinh Vĩnh

Phúc https://congbobanan.toaan.gov.vn, truy cập

10/9/2020.

17 Công văn số 02/TANDTC-PC ngày 02/8/2021 cùa

Toà án nhân dân tối cao về giải đáp một số vướng

mắc trong xét xử (điểm 3 mục III).

18 Bàn án số 02/2020/DS-ST ngày 27/02/2020 của

Toà án nhân dân huyện TL, tỉnh Hưng Yên về

“Kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất cho ở nhờ”.

Chẳng hạn, vụ án “kiện đòi tài sản là

quyền sử dụng đất cho ở nhờ” của Toà án

nhân dân huyện TL, tỉnh Hưng Yên Theo

đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, nguyên

đơn bà L.T.M.Đ trình bày thì tài sản tranh

chấp là do các cụ ngoại của bà để lại, đã chia

cho bố mẹ bà Sau đó, bố mẹ bà đãchia cho

bà và bà quản lí, sử dụng toàn bộ diện tích thửa đất Ông Tr cũng là cháu của các cụ, năm 1981 ông Tr đi bộ độivề, bà cho ông Tr

ở nhờ nhà đất nêu trên (không lập biên bản)

Tháng 3/2003, ông Tr tự ý bán toàn bộ thửa

đất cho gia đình bà N.T.X và ông P.V.H là

hàng xóm với giá 30.000.000 đồng, có giấy

tờ viết tay Bà đã có đơn đề nghị các cấp

chính quyền giải quyết buộc ông Trphải trả

lạiđất cho bà nhưng ông Tr không chấp nhận nên bà khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết

buộc ông Tr phải trả lại bà nhà đất bà đãcho

ở nhờ Vụ án này đã qua các cấp xét xử: Bản

án dân sự sơ thẩm số 04/2013/DSST ngày 24/12/2013 do Toà án nhân dân huyện TLxét

xử; Bản án phúc thẩm số 38/2014/DSPT ngày 21/7/2014 của Toà án nhân dân tỉnh

Hưng Yên; Quyết định giám đốc thẩm số 89/2017/DS-GĐT ngày 15/9/2017, Uỷ ban

thẩm phán Toà án nhân dân cấp cao đã tuyên

huỷtoàn bộ bảnándân sự phúc thẩmvà bản

án dân sự sơthẩm, giao hồ sơ vụ án cho Toà

án nhân dân huyện TL xét xử lại sơ thẩm theo đúng quy định pháp luật Ngày 27/02/2020, Toà án nhân dân huyện TL đã

xétxửsơ thẩm lần 2 vụ án trên

Có thể thấy, bản chất pháp lí của vụ án trên là tranh chấp về hợp đồng cho mượn

đất giữa bà Đ và ông Tr, huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sừ dụng đất giữaông

Tr và bà X, ông H Tuy nhiên, nếu các đương sự khởi kiện tranh chấp về hai hợp

Trang 10

NGHIÊN cúv - TRA o ĐỚI

đồng nêu trên thì thời hiệu khởi kiện theo

Điều 429 BLTTDS năm 2015 đã hết (nếu

đương sự yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi

kiện trước khi toà án ra bản án, quyết định

sơ thẩm) Do đó, nếu đương sự thay đổi yêu

cầukhởi kiện là kiện đòi tài sản làquyền sử

dụng đất cho ở nhờ thì toà án sẽ không áp

dụng thờihiệu khởi kiện./

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Thị Hương, Khởi kiện vụ án dân

sự - Những vẩn đề lí luận và thực tiễn,

Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học

Luật Hà Nội, 2019

2 Trần Anh Tuấn, ‘ ‘ Người tham gia tổ tụng

dân sự trong mối liên hệ giữa pháp luật

tổ tụng dân sự và pháp luật dân sự ” ,

trong: Sự tương thích và mâu thuẫn giữa pháp luật tổ tụng dân sự và pháp luật dân

sự, Đề tài khoa học cấp cơ sở, Trường

Đạihọc Luật Hà Nội, 2018

3 Trường Đại học Luật Hà Nội, Luật học Việt Nam - Những vấn đề đương đại, Nxb

Tư pháp, Hà Nội, 2019

MỘT SỐ VÁN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN cứu ĐẺ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÈ BẢO LƯU QUYỀN SỞ HỮU (tiếp theo trang 40)

- Bên nhận bảo lưu (bên bán) có quyền

kiểm soát việc lưu thông tài sản của bên

muađối vớitài sản đãnhận trong thời gian

bên mua chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ

thanh toán;

- Bên bảolưu (bên mua)không được xác

lập quyền sở hữu đối với tài sản mua khi

chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanhtoán;

- Bên bảo lưu (bên mua) khôngđược bán

tài sản mua, dùng tài sản mua để bảo đảm

thực hiệnnghĩa vụ khi chưa thực hiện đầy đủ

nghĩavụthanhtoán./

TÀILIỆU THAM KHẢO

1 Đoàn Thị Phương Diệp, “Bản chất pháp lí

của hợp đồng mua bán tài sản với các

thỏa thuận đặc biệt”, Tạp chí Nghiên cứu

lập pháp, số 02+03 (258+259), tháng

2/2014

2 Đỗ Văn Đại, “Vật quyền bảo đảm: Kinh

nghiệm của nước ngoài cho Việt Nam”,

Tạp chí Khoa học pháp lí Việt Nam, số

01(86)72015

3 Hồ Quang Huy, “Nhận diện khía cạnh pháp lí về bảo lưu quyền sở hữu và cầm

giữ tài sản”, Tạp chí Toà án nhân dân điện tử,

phap-luat/nhan-dien-khia-canh-phap-ly-

cua-bien-phap-bao-luu-quyen-so-huu-cam-giu-tai-san-trong-blds-nam-2015

https://tapchitoaan.vn/bai-viet/

4 Nguyễn Văn Hợi, “Tính chất bảo đảm

trong biện pháp bảo lưu quyền sở hữu”,

Kỉ yếu Hội thảo khoa học: Chế định các

biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong Bộ luật Dân sự năm 2015, Trường

Đại học Luật Hà Nội,ngày 26/12/2017

5 Phạm Văn Tuyết, Lê Kim Giang (Chủ biên), Hoàn thiện chế định bảo đảm thực

hiện nghĩa vụ dân sự, Nxb Dân trí, Hà Nội, 2015

Ngày đăng: 29/10/2022, 17:51

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w