1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận - luật vận tải biển - Đề tài - Cồng ước Quốc tế về luật biển (UNCLOS) và giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển

33 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cồng ước Quốc tế về luật biển (UNCLOS) và giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Vận Tải Biển
Thể loại tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 203 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Phần I Công ước Quốc tế về Luật Biển (UNCLOS) (5)
  • Phần II Giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển theo luật Hàng Hải (16)
    • 2.1. Những cơ sở pháp lý về luật Hàng Hải (16)
    • 2.2. Những cơ sở pháp lý về bảo hiểm và bồi thường (17)

Nội dung

Công ước Quốc tế về Luật Biển (UNCLOS)

I - Tìm hiểu Quá trình hình thành, phát triển, cơ cấu tổ chức, vai trò của Liên hợp quốc và Tòa án Quốc tế Liên hợp quốc

1.1.Liên Hợp Quốc a.Lịch sử hình thành và phát triển:

Liên Hợp Quốc chính thức được thành lập vào ngày 24/10/1945 khi Hiến chương của tổ chức này được phê chuẩn bởi Trung Quốc, Pháp, Liên Xô, Vương quốc Anh, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác Tên gọi "Liên Hợp Quốc" do Tổng thống Mỹ Franklin D Roosevelt sáng lập và lần đầu tiên xuất hiện trong "Tuyên ngôn của Liên Hợp Quốc" vào ngày 1/1/1942, khi 26 quốc gia cam kết tiếp tục đấu tranh chống lại các nước phe phát xít.

Sự ra đời của Liên Hợp Quốc đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử, phản ánh những yếu tố như sự thất bại của Hội Quốc Liên trong việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, sự bùng nổ của Chiến tranh thế giới thứ hai và những hậu quả thảm khốc mà nó mang lại cho nhân loại, cũng như nỗ lực của các quốc gia trong việc xây dựng một tổ chức toàn cầu có khả năng đảm bảo hòa bình và an ninh hiệu quả hơn.

Sự thất bại của Hội Quốc Liên đã thúc đẩy nhu cầu thiết lập một tổ chức đa phương hiệu quả toàn cầu để duy trì hòa bình và an ninh quốc tế Hệ thống an ninh tập thể của Hội Quốc Liên không đạt hiệu quả do thiếu sự ủng hộ từ các cường quốc Những kinh hoàng của Chiến tranh thế giới thứ nhất không đủ thuyết phục các quốc gia nhận ra rằng quyền lợi hòa bình của họ cần một trật tự quốc tế ưu tiên quyền lợi quốc gia Hội Quốc Liên trở nên cứng nhắc, không thể thực hiện vai trò dàn xếp hay thiết lập liên minh để ngăn chặn sự bành trướng quyền lực của một số cường quốc.

Để chuẩn bị cho thời kỳ hậu chiến và ngăn chặn khả năng xảy ra một cuộc chiến tranh thế giới thứ ba, ba cường quốc Đồng minh - Anh, Mỹ và Liên Xô - đã tổ chức hai hội nghị thượng đỉnh quan trọng tại Tê-hê-ran (1943) và I-an-ta (1945) Nội dung chính của các cuộc trao đổi là số phận châu Âu và tương lai của Liên Hợp Quốc, trong đó Liên Xô đã ủng hộ việc thành lập tổ chức này Tại I-an-ta, ba cường quốc đã thống nhất về việc chấp nhận ghế thành viên riêng rẽ cho U-cờ-rai-na và Bạch Nga, cũng như quyền phủ quyết cho các thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Tại Hội nghị Pốt-xđam (1945), Mỹ và Liên Xô đã thỏa thuận về cơ chế giải quyết các vấn đề sau chiến tranh, bao gồm bồi thường chiến tranh của Đức và xác định lại biên giới Hội nghị Xan Phran-xít-xcô tháng 4/1945 đã dẫn đến việc thông qua Hiến chương Liên Hợp Quốc, với sự tham gia của 51 quốc gia sáng lập, đánh dấu sự kết thúc của cơ chế cân bằng quyền lực châu Âu từ Hội nghị Viên 1815 Cân bằng quyền lực mới dựa trên Liên Hợp Quốc là linh hoạt và phụ thuộc vào sự tương tác giữa các thành viên thường trực Hội đồng Bảo an (P5) và các quốc gia phát triển cùng đang phát triển.

Liên Hợp Quốc bao gồm 6 cơ quan chính, đó là Đại hội đồng, Hội đồng Bảo an, Hội đồng Kinh tế–Xã hội, Hội đồng Quản thác, Toà án Quốc tế và Ban Thư ký.

Đại hội đồng Liên Hợp Quốc là cơ quan đại diện rộng rãi nhất với 191 thành viên tính đến giữa năm 2004, bắt đầu từ 51 thành viên đầu tiên Khác với Hội đồng Bảo an, tất cả các thành viên Đại hội đồng đều có quyền bình đẳng và mỗi quốc gia được cấp 1 phiếu bầu Các nước thành viên được phân chia thành 5 nhóm khu vực: châu Á, châu Phi, Mỹ La-tinh và Ca-ri-bê, Đông Âu, và phương Tây cùng các nước khác Tính đến ngày 31/5/2003, một số quốc gia như Estonia, Kiribati, Đông Timor và Palau không thuộc nhóm khu vực nào.

Cơ cấu: Có 6 ủy ban chính:

+Ủy ban 1: Giải trừ quân bị và an ninh Quốc tế

+Ủy ban 2: Kinh tế - tài chính

+Ủy ban 3: Văn hóa – xã hội – nhân đạo

+Ủy ban 4: Chính trị đặc biệt và phi thực dân hóa

+Ủy ban 5: Hành chính ngân sách Liên hợp quốc

+Ủy ban 6: Luật pháp Quốc tế

Ngoài ra còn có các ủy ban sau được thành lập theo các nguyên tắc thủ tục của Đại hội đồng

+Các ủy ban thủ tục

+Các ủy ban thường trực

+Các cơ quan đặc biệt và phụ trợ

Theo Điều 24 của Hiến chương Liên Hợp Quốc, Hội đồng Bảo an được giao trách nhiệm giữ gìn hòa bình và an ninh quốc tế Hội đồng có quyền áp dụng các biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp và xung đột, và khi cần thiết, có thể sử dụng biện pháp cưỡng chế hoặc vũ lực nhằm loại trừ các mối đe dọa đối với hòa bình và ngăn chặn các hành động xâm lược.

Cơ cấu: Hội đồng bảo an Liên hợp quốc có các ủy ban và cơ quan phụ trợ sau: +Các ủy ban thường trực

+Ban tham mưu quân sự

+Ủy ban chống khủng bố

+Các ủy ban cấm vận

+Các hoạt động và lực lượng giữ gìn hòa bình

+Các lực lượng chính trị và kiến tạo hòa bình

+Các ủy ban khác: Ủy ban đền bù Liên hợp quốc, Ủy ban giám sát , kiểm tra và thanh tra

+Các tòa án quốc tế

*Hội đồng kinh tế xã hội:

Theo Hiến chương LHQ, một trong những mục tiêu chính của Tổ chức này là:

Liên Hợp Quốc cam kết hợp tác quốc tế để giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội, văn hóa và nhân đạo, đồng thời thúc đẩy tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do cơ bản cho tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hay tôn giáo.

- Nâng cao mức sống, đầy đủ việc làm, điều kiện tiến bộ và phát triển kinh tế xã hội

Giải quyết các vấn đề quốc tế liên quan đến kinh tế, xã hội và y tế là rất quan trọng, đồng thời cần thúc đẩy sự hợp tác quốc tế trong lĩnh vực văn hóa và giáo dục để tạo ra một môi trường phát triển bền vững.

Tôn trọng và thực hiện quyền con người, cũng như các quyền tự do cơ bản, là điều cần thiết cho tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hay tôn giáo.

Cơ cấu: Có 5 cơ quan trực thuộc:

+Ủy ban hành chính điều phối

Mỗi Ủy ban có thể thành lập các tiểu ban hoặc nhóm làm việc

Theo Chương XII Hiến chương Liên Hợp Quốc, Hệ thống Quản thác được thiết lập để giám sát các vùng lãnh thổ quản thác thông qua các thỏa thuận riêng với quốc gia quản lý Hệ thống này áp dụng cho các vùng lãnh thổ do Hội quốc liên quản lý, các vùng lãnh thổ tách ra từ các quốc gia kẻ thù sau Chiến tranh thế giới thứ hai, và những vùng lãnh thổ tự nguyện tham gia Mục tiêu chính của Hệ thống là thúc đẩy sự tiến bộ chính trị, kinh tế và xã hội tại các vùng lãnh thổ quản thác, hướng tới việc phát triển chính phủ tự quản và độc lập.

Liên Hợp Quốc tập trung vào việc giải quyết xung đột thông qua các biện pháp hòa bình, phù hợp với nguyên tắc công lý và luật pháp quốc tế, như quy định tại Điều 1 của Hiến chương Điều 33 của Hiến chương cũng nêu rõ rằng trọng tài và giải quyết tranh chấp qua tòa án là những phương pháp hòa bình quan trọng trong quá trình này.

Theo Điều 13 của Hiến chương, Đại hội đồng có chức năng thúc đẩy pháp điển hóa và phát triển luật quốc tế theo hướng tiến bộ Chức năng này được thực hiện thông qua việc soạn thảo và chuẩn bị nhiều công ước quốc tế Trong 50 năm qua, Liên Hợp Quốc đã bảo trợ hơn 456 thoả thuận đa phương, bao trùm nhiều lĩnh vực hoạt động giữa các quốc gia và nỗ lực của nhân loại Ngoài ra, Liên Hợp Quốc cũng tiên phong trong việc giải quyết những vấn đề toàn cầu mới như môi trường, khoảng không vũ trụ, lao động di cư, buôn lậu ma túy và chủ nghĩa khủng bố.

*Ban thư ký Liên hợp quốc:

Theo Chương XV của Hiến chương Liên Hợp Quốc, Ban thư ký bao gồm một Tổng thư ký và các nhân viên cần thiết cho tổ chức Tổng thư ký được Đại hội đồng bổ nhiệm dựa trên kiến nghị của Hội đồng Bảo an và là viên chức cao cấp nhất của Liên Hợp Quốc (Điều 97) Vai trò của Liên Hợp Quốc được thể hiện qua sự lãnh đạo và quản lý của Tổng thư ký.

Theo Hiến chương Liên Hợp Quốc, các quốc gia sáng lập cam kết thành lập một tổ chức quốc tế toàn cầu với mục tiêu chính là duy trì hòa bình và trật tự thế giới bền vững Điều 1 của Hiến chương nêu rõ rằng Liên Hợp Quốc được thành lập với bốn mục tiêu cơ bản.

(1) Duy trì hoà bình và an ninh quốc tế;

Giải quyết tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển theo luật Hàng Hải

Những cơ sở pháp lý về luật Hàng Hải

a) Phạm vi điều chỉnh của luật hàng hải (Điều 1 – Bộ luật Hàng Hải VN)

1 Bộ luật này quy định về hoạt động hàng hải, bao gồm các quy định về tàu biển, thuyền bộ, cảng biển, luồng hàng hải, vận tải biển, an toàn hàng hải, an ninh hàng hải, phòng ngừa ô nhiễm môi trường và các hoạt động khác liên quan đến việc sử dụng tàu biển vào mục đích kinh tế, văn hoá, xã hội, thể thao, công vụ và nghiên cứu khoa học. Đối với tàu quân sự, tàu công vụ, tàu cá, phương tiện thuỷ nội địa, thuỷ phi cơ, cảng quân sự, cảng cá và cảng, bến thuỷ nội địa chỉ áp dụng trong trường hợp có quy định cụ thể của Bộ luật này.

2 Trường hợp có sự khác nhau giữa quy định của Bộ luật hàng hải Việt Nam với quy định của luật khác về cùng một nội dung liên quan đến hoạt động hàng hải thì áp dụng quy định của Bộ luật này. b) Nguyên tắc giải quyết tranh chấp (Điều 3 – Bộ luật Hàng Hải VN)

1 Trong trường hợp quan hệ pháp luật liên quan đến quyền sở hữu tài sản trên tàu biển, hợp đồng cho thuê tàu biển, hợp đồng thuê thuyền viên, hợp đồng vận chuyển hành khách và hành lý, phân chia tiền công cứu hộ giữa chủ tàu cứu hộ và thuyền bộ của tàu cứu hộ, trục vớt tài sản chìm đắm ở biển cả, các vụ việc xảy ra trên tàu biển khi tàu đang ở biển cả thì áp dụng pháp luật của quốc gia mà tàu biển mang cờ quốc tịch.

2 Trong trường hợp quan hệ pháp luật liên quan đến tổn thất chung thì áp dụng pháp luật nơi tàu biển ghé vào ngay sau khi xảy ra tổn thất chung đó.

3 Trong trường hợp quan hệ pháp luật liên quan đến tai nạn đâm va, tiền công cứu hộ, trục vớt tài sản chìm đắm xảy ra tại nội thuỷ hoặc lãnh hải của quốc gia nào thì áp dụng pháp luật của quốc gia đó.

Trong trường hợp xảy ra tai nạn đâm va hoặc cứu hộ trên biển, pháp luật áp dụng sẽ là của quốc gia mà Trọng tài hoặc Toà án đầu tiên đã tiếp nhận và giải quyết tranh chấp.

Trong trường hợp xảy ra tai nạn đâm va giữa các tàu biển cùng quốc tịch ở biển cả hoặc trong nội thuỷ, lãnh hải của quốc gia khác, pháp luật áp dụng sẽ là của quốc gia mà tàu biển mang cờ quốc tịch.

4 Trong trường hợp quan hệ pháp luật liên quan đến hợp đồng vận chuyển hàng hoá thì áp dụng pháp luật của quốc gia nơi hàng hoá được trả theo hợp đồng. c) Nguyên tắc áp dụng:

* Đối tượng áp dụng (Điều 2 – Bộ Luật HHVN)

1 Bộ luật này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài liên quan đến hoạt động hàng hải tại Việt Nam.

2 Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Bộ luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.

* Nguyên tắc hoạt động hàng hải (Điều 5 – Bộ Luật HHVN)

1 Hoạt động hàng hải phải tuân theo quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

2 Hoạt động hàng hải phải bảo đảm an toàn hàng hải, quốc phòng, an ninh; bảo vệ lợi ích, chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

3 Hoạt động hàng hải phải phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển giao thông vận tải.

4 Hoạt động hàng hải phải bảo đảm hiệu quả kinh tế gắn với bảo vệ, tái tạo,phát triển môi trường và cảnh quan thiên nhiên bền vững.

Những cơ sở pháp lý về bảo hiểm và bồi thường

a) Hợp đồng bảo hiểm hàng hải và đơn bảo hiểm:

● Hợp đồng bảo hiểm : (Điều 224 – Bộ luật HHVN)

Hợp đồng bảo hiểm hàng hải là một thỏa thuận bảo hiểm cho các rủi ro liên quan đến hàng hải, trong đó người bảo hiểm cam kết bồi thường cho người được bảo hiểm về những tổn thất hàng hải theo các điều kiện đã được thống nhất trong hợp đồng.

Hợp đồng bảo hiểm hàng hải có thể được điều chỉnh theo các điều kiện cụ thể hoặc theo tập quán thương mại, nhằm bảo vệ quyền lợi của người được bảo hiểm trước những tổn thất xảy ra trong quá trình vận chuyển trên đường thủy nội địa, đường bộ hoặc đường sắt, trong cùng một hành trình đường thủy.

3.Hợp đồng bảo hiểm hàng hiểm hàng hải phải được giao kết bằng văn bản 4.Điều khoản tái bảo hiểm (Điều 227 – Bộ luật HHVN):

+)Người bảo hiểm có thể tái bảo hiểm đối tượng bảo hiểm mà mình đã nhận bảo hiểm cho người khác

+)Hợp đồng tái bảo hiểm độc lập với hợp đông bảo hiểm gốc, người bảo hiểm gốc vẫn phải chịu trách nhiệm đối với người được bảo hiểm

● Đơn bảo hiểm : (ĐIều 228 – Bộ luật HHVN)

Theo yêu cầu của người được bảo hiểm, người bảo hiểm phải cấp đơn bảo hiểm hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm, đây là bằng chứng về hợp đồng bảo hiểm hàng hải Đơn bảo hiểm và giấy chứng nhận này xác định đối tượng bảo hiểm, số tiền bảo hiểm và giá trị bảo hiểm.

Đối tượng bảo hiểm hàng hải theo Điều 225 của Bộ luật Hàng hải Việt Nam bao gồm mọi quyền lợi vật chất liên quan đến hoạt động hàng hải có thể quy ra tiền Các đối tượng này bao gồm tàu biển, tàu đang đóng, hàng hóa, tiền cước vận chuyển, tiền công vận chuyển hành khách, tiền thuê tàu, tiền thuê mua tàu, lãi ước tính của hàng hóa, hoa hồng, chi phí tổn thất chung, trách nhiệm dân sự và các khoản tiền bảo đảm bằng tàu, hàng hóa hoặc tiền cước vận chuyển.

● Giá trị bảo hiểm : (Điều 232 – Bộ luật HHVN)

Giá trị bảo hiểm là giá trị thực tế của đối tượng bảo hiểm.

Giá trị bảo hiểm của tàu biển được xác định là tổng giá trị của tàu tại thời điểm bắt đầu bảo hiểm, bao gồm giá trị của máy móc, trang thiết bị, phụ tùng dự trữ, và toàn bộ phí bảo hiểm Ngoài ra, giá trị này còn có thể bao gồm tiền lương ứng trước cho thuyền bộ cùng với các chi phí chuẩn bị cho chuyến đi đã được thỏa thuận trong hợp đồng.

Giá trị bảo hiểm của hàng hóa được xác định dựa trên giá trị ghi trên hóa đơn tại nơi bốc hàng hoặc giá thị trường tại thời điểm và địa điểm bốc hàng, bao gồm thêm phí bảo hiểm, tiền cước vận chuyển và có thể cả lãi suất dự tính.

Giá trị bảo hiểm tiền cước vận chuyển bao gồm tổng số tiền cước vận chuyển và phí bảo hiểm Nếu người thuê vận chuyển mua bảo hiểm cho tiền cước vận chuyển, thì số tiền cước này sẽ được tính vào giá trị bảo hiểm hàng hóa.

Giá trị bảo hiểm của đối tượng bảo hiểm, ngoại trừ trách nhiệm dân sự, được xác định bằng giá trị của đối tượng bảo hiểm tại địa điểm và thời điểm bảo hiểm, cộng với phí bảo hiểm.

● Số tiền bảo hiểm : (Điều 233 – Bộ luật HHVN)

1.Khi giao kết hợp đồng bảo hiểm, người được bảo hiểm phải kê khai số tiền cần bảo hiểm cho đối tượng được bảo hiểm

Trong trường hợp số tiền bảo hiểm ghi trong hợp đồng thấp hơn giá trị bảo hiểm, người bảo hiểm sẽ bồi thường tổn thất theo tỷ lệ giữa số tiền bảo hiểm và giá trị bảo hiểm, bao gồm cả các chi phí khác thuộc phạm vi bảo hiểm.

Trong trường hợp số tiền bảo hiểm ghi trong hợp đồng lớn hơn giá trị bảo hiểm, phần tiền vượt quá giá trị bảo hiểm sẽ không được thừa nhận.

4.Trường hợp bảo hiểm trùng: (Điều 234 – Bộ luật HHVN) quy định:

Trong trường hợp người được bảo hiểm hoặc đại diện của họ ký kết nhiều đơn bảo hiểm cho cùng một đối tượng và rủi ro hàng hải, nếu tổng số tiền bảo hiểm vượt quá giá trị thực tế, thì người được bảo hiểm sẽ bị coi là đã bảo hiểm vượt quá giá trị thông qua việc bảo hiểm trùng lặp.

Trong trường hợp bảo hiểm trùng, các công ty bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm bồi thường trong giới hạn giá trị bảo hiểm Mỗi công ty sẽ bồi thường tương ứng với số tiền bảo hiểm mà họ đã cấp cho khách hàng.

1 Tổn thất là tất cả những hư hỏng mất mát thiệt hại của đối tượng bảo hiểm do rủi ro gây ra

- Căn cứ vào mức độ tổn thất:

Tổn thất bộ phận là tình trạng hư hỏng hoặc mất mát chỉ xảy ra đối với một phần của đối tượng bảo hiểm, được quy định trong đơn bảo hiểm hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm.

Tổn thất toàn bộ xảy ra khi tất cả các đối tượng bảo hiểm trong một đơn bảo hiểm hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm đều bị thiệt hại Theo Điều 254, có hai loại tổn thất chính.

Tổn thất toàn bộ thực tế là tình trạng tổn thất xảy ra khi tàu biển hoặc hàng hóa bị hư hỏng không thể phục hồi, hoặc khi tàu biển bị mất tích cùng với hàng hóa.

Ngày đăng: 14/04/2025, 22:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w