Triết học tôn giáo thể hiện các trào lưu và các trường phái khác nhau, cạnh tranh với nhau Các khuynh hướng triết học tồn tại trong Phật giáo, kito giáo, Hồi giáo và các tôn giáo khác Triết học tôn giáo giải quyết các vấn đề bản thể luận, nhận thức luận, vũ trụ luận, xã hội…Điều cơ bản trong triết học tôn giáo là học thuyết về quan hệ của con người với Chúa và của Chúa với con người Cấu thành
cơ sở lý luận của nó là thần học, mặc dù vậy, không thể đồng nhất triết học tôn giáo với thần học bởi triết học tôn giáo cũng có thể không phải là thần học.
Triết học tôn giáo phát triển mạng mẽ ở Phương Tây, và ngôn từ “triết học tôn giáo” cũng xuất hiện ở Phương Tây cùng với một nền thần học lâu đời, nhất là
sự phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ trung cổ.
Triết học tôn giáo trong truyền thống văn hóa Phương Tây là sự hội tụ, hợp nhất của 2 trào lưu tinh thần, đó là tư duy trí tuệ và niềm tin tinh thần, xét về bản chất nó bao gồm 2 tầng diện:
+ Nghiên cứu tính tư biện: là bắt nguồn từ những tư tưởng Châu Âu như: siêu hình, thần học và sự giáo luận kito, nó được theer hiện trong các hệ thống gọi là triết học thần học mà đại biểu là Ki tô giáo
+ Nghiên cứu tính triết lí: Không lấy lập trường tự thân của tôn giáo làm tiền đề, làm tiêu chuẩn xuất phát điểm nên việc nghiên cứu của nó là đi từ góc độ khách quan để suy tư về ý nghĩa của tôn giáo và bản chất của tôn giáo Như vậy là xây dựng 1 hệ thống triết học tôn giáo tồn tại độc lập không phụ thuộc vào triết học thần học.
Khái niệm thần học
Theo các giáo khoa về thần học thì gốc của từ này là “ Thé ologia” ( tiếng Hy
Lạp), dùng để chỉ những gì người ta nói về thần linh và sự vật linh thiêng.
Trang 2Phải đến thế kỉ XII chữ thần học mới có nội dung chuyên môn nhất định Đa số các nhà thần học khi đó cho rằng đó là một nỗ lực của trí tuệ, là khoa tìm hiểu sâu, đào sâu mầu nhiệm Thiên chúa và các chân lí mặc khải Như vậy, thần học với người ki tô giáo, chính là sự vận dụng của trí tuệ để hiểu lời chúa trong ánh sang của đức tin.
Khái niệm “thần học” là tổng số các học thuyết tôn giáo về bản chất và hành vi của Chúa, được xây dựng dưới hình thức suy xét dựa trên các văn bản được coi
là sự mặc khải của chúa.
Một trong những tiền đề của mặc khải là quan điểm về chúa cá nhân thông báo tri thức tuyệt đối về bản thân mình thông qua “ lời nói”, do vậy thần học theo nghĩa chặt chẽ của từ này chỉ có thể trong khuôn khổ thuyết có thần ( hữu thần luận) hay ít nhất trong khuôn khổ xu hướng hữu thần luận.
Tiền đề thứ hai của thần học là sự hiện diện các hình thức khá phát triển của triết học , song về thực chất của mình nó vẫn khác với triết học, kể cả triết học tôn giáo Thần học mang tính quyền uy, với nghĩa đó nó khác với bất kì tư tưởng chính trị nào, kể cả triết học
Trong thời kỳ triết học kinh viện, hai cấp độ của thần học là sự tự biện triết học
về cái tuyệt đối goi là “thần học” hay “ triết học thứ nhất”, cấp độ cao là những chân lý mặc khải không đạt tới được đối với lý tính được gọi là “ thần học tự nhiên” và “ thần học chúa mặc khải”
Nội dung giáo lý của thần học được hiểu là nội dung vĩnh cửu, tuyệt đối, hoàn toàn không biến đổi theo lịch sử
Vào thời kỳ quá độ từ Trung cổ sang Phục Hưng, thần học luôn vấp phải vẫn đề: nó cần phải có thái độ thế nào đối với thế giới thường biến để biểu thị nội
Trang 3dung mới thông qua ngôn ngữ những giáo lý bất biến? thần học hiện đại đang trải qua một cuộc khủng hoảng Thần học không thể đứng ngoài tổ chức xã hội
“Thần học tự nhiên” - một bộ phận của thần học Công giáo, cũng như của
bản thể luận Thomas mới, nó xét những vấn đề tồn tại tuyệt đối của chúa và những thuộc tính của chúa
Theo thuyết Thomat mới, niềm tin và tri thức, triết học và thần học có mộ sự giống nhau xác định và thậm trí co sự đồng nhất một phần sự đồng nhất một phần giữa niềm tin và trí thức có cơ sở của mình là lý tính có khả năng nhận thức được một số chân lý về chúa, trước hết là chứng minh được sự tồn tại của chúa, bằng những nỗ lực riêng của mình Vì những chân lý này bắt nguồn từ lý tính, chúng có quan hệ với nội dung của tri thức triết học, nên chúng định hướng vào chúa và cấu thành thần học tự nhiên
Như vậy, thần học tư nhiên là một bộ môn giáp ranh, hợp nhất triết học và thần học, xác lập các lĩnh vực nhận thức về chúa thông qua sự nhận thức duy lý, cũng như nhờ sự giúp đỡ của những chân lý mặc khải “ siêu tính lý” Niềm tin
và tri thức bắt nguồn từ một cội nguồn chung – Chúa ; chỉ có trong thế giới được lý tính của con người nhận thức, Chúa mới được mở ra cho con người một cách tự nhiên, còn trong mặc khải – một cách siêu nhiên Xuất phát từ lý
tính, thần học tự nhiên xem xét chúa với tư cách đấng sang thế, nguyên nhân đầu tiên, tức trong quan hệ của Chúa với thế giới được san
KHÁI NIỆM TÔN GIÁO
(religion – bắt nguồn từ tiếng Latinh legere) (Thánh Augustino là người đặt cơ sở cho thần học tôn giáo Thiên Chúa giáo)
Trang 4Thánh Augustino là người đặt cơ sở cho thần học tôn giáo Thiên Chúa giáo.Triết học của ông về cơ bản phục vụ cho thần học, nó chủ yếu chứng minh cho sựtồn tại của Thượng đế, “chứng thực cho tín điều của tôn giáo”, bênh vực cho quyềnthống trị của giáo hoàng
(Tôn giáo là mối liên hệ giữa con người với Chúa do Chúa xác lập)
Tôn giáo là mối liên hệ giữa con người với Chúa do Chúa xác lập Bản chất của mối liên hệ này được mở ra cho con người trong mặc khải của Chúa, chỉ những người truyền bá một niềm tin chân chính mới có được quan niệm về tôn giáo, tôn giáo là không thấu hiểu được đối với ý thức phi tôn giáo.
(Ban đầu thuộc về Thiên Chúa giáo)
Ban đầu, khái niệm tôn giáo (với ý nghĩa là sự thu lượm thêm sức mạnh siêunhiên) thuộc về đạo Thiên Chúa giáo Các tôn giáo khác đều bị coi là tà đạo, là
“tôn giáo giả dối” nên sẽ không nhận được sức mạnh siêu nhiên đó “Tôn giáo” và
“niềm tin Thiên Chúa giáo” được đồng nhất
(Mở rộng hơn vào TK XVII-XVIII)
Thế kỷ XVII-XVIII, thuật ngữ “tôn giáo” bắt đầu được áp dụng không nhữngvào Thiên Chúa, tức là hình thành khái niệm “các tôn giáo phi Thiên Chúa giáo”.Đối với ý thức Thiên Chúa giáo, không biết đến các tôn giáo khác thì ngoài tôngiáo của mình, tôn giáo khác đều là dị giáo hoặc vô thần Vấn đề đặt ra đối với nhàthần học là mức độ tiếp cận với chân lý của các tôn giáo khác nhau không thể nhưnhau và được xác định từ lập trường của tôn giáo chân thực, tức tôn giáo của mình
( Triết học tôn giáo:
- bộ môn triết học độc lập thế kỷ XVIII với các tác phẩm của Hume và Kant
Trang 5- một bộ môn tôn giáo học là loại hình triết lý được giải phóng khỏi giáo lý
- lĩnh vực đối tượng xác lập một cách khách quan
- các hình thức tồn tại lịch sử đa dạng
- sự phân tích có phê phán về các cơ sở của niềm tin.)
Quan niệm về tôn giáo từ bên ngoài lúc đầu xuất hiện trong triết học , nhưngđược phát triển một cách có hệ thống trong triết học tôn giáo với tư cách là bộ môntriết học độc lập thế kỷ XVIII với các tác phẩm của Hume và Kant Khác với thầnhọc, triết học tôn giáo với tư cách là một bộ môn tôn giáo học là loại hình triết lýđược giải phóng khỏi giáo lý, có lĩnh vực đối tượng xác lập một cách khách quan
và các hình thức tồn tại lịch sử đa dạng của mình Trung tâm nghiên cứu của triếthọc tôn giáo là các tín ngưỡng tôn giáo và kinh nghiệm tôn giáo, là hệ vấn đề trithức luận và giá trị luận Triết học tôn giáo trong mọi trường hợp đều là sự phântích có phê phán về các cơ sở của niềm tin
(Quan hệ giữa triết học và tôn giáo- niềm tin và lý tính
“tin để hiểu”- Augustino: đề cao ưu thế đức tin)
Quan hệ giữa triết học và tôn giáo bắt nguồn từ cơ sở chung là sự đối lập kỳquặc giữa niềm tin và lý tính, hay chính là mối quan hệ giữa đức tin và lý trí đượcAugustino đưa ra với luận điểm nổi tiếng “tin để hiểu”, đề cao ưu thế của đức tintrước lí trí Xét về mặt lịch sử thì đối đầu này bắt nguồn từ sự hội ngộ giữa Do Tháigiáo với văn hóa Hy Lạp, lúc đầu được trình bày trong học thuyết về Logos củaPhiloneus Alexandria
Giáo phụ học
Trang 6Là thuật ngữ xuất hiện XVII để chỉ tổng thể những học thuyết của các tác giả Thiên Chúa giáo ở thế kỷ I- VIII, tức các giáo phụ.
Đến thế kỷ V, người ta đã hình thành ba dấu hiệu phân biệt giáo phụ có quyền
uy là:cổ, cuộc sống thần thánh và học thuyết chính thống sau đó cộng thêm một
là sự tán thành của giáo hội
Theo nghĩa rộng, giáo phụ học là hình thức xây dựng học thuyết về văn hóa Thiên Chúa giáo, là sự tích hợp đa diện các giá trị Thiên Chúa giáo với di sản triết học- văn học Hy Lạp( Hy Lạp hóa Thiên Chúa giáo hay Thiên Chúa giáo văn hóa Hy Lạp)
Đặc điểm của giáo phụ học với tư cách là một hiện tượng lịch sử triết học là việc công khai khước từ tự do tìm tòi triết học.Khác với triết học Cổ đại, giáo dục học thừa nhận một chân lý mặc khải duy nhất, không cần phải tìm kiếm và luận chứng, mà chỉ cần giải thích rõ ràng và chú giải, là tài sản chung của toàn thể cộng đồng Thiên chúa giáo
Truyền thống Thiên Chúa giáo coi giáo phụ học là một học thuyết thống nhất, được các tác giả khác nhau làm sáng tỏ cùng với mực độ sâu sắc khác nhau: tôngiáo độc thần đòi hỏi sự thỏa hiệp tuyệt đối về mặt lý luận Quyền uy được phân bố như sau: mặc khải- pháp điển của giáo hội- quyền uy của nhà giáo phụ.Trong lịch sử tư tưởng châu Âu, giáo phụ học là loại hình phản tư toàn vẹn và kéo dài đầu tiên, nó phù hợp với triết học mang tính tôn giáo và xét về khái niệm phát sinh, đồng nhất với tôn giáo xét về những trực giác và tiền đề cơ bản,với thần học xét về đối tượng phản tư với triết học thuần túy xét về các phương pháp duy lý Trong suốt hơn 10 thế kỷ, thần học Thiên chúa giáo được coi là phong cách triết lý duy nhất được thừa nhận, đặc trưng cơ bản của nó địa vị phục tùng của lý tính đối với quyền uy
Trang 7Học thuyết Thiên Chúa giáo được hình thành nhờ nỗ lực của các “ giáo phụ” là những người cố gắng làm sáng tỏ nội dung phổ quát của Kinh Thánh, nội dung vượt lên trên các tín ngưỡng đa thần giáo trước đó và triết học Cổ đại, đồng thờicũng thấu hiểu được và đạt tới được và đạt tới được đối với thế giới Hy Lạp Đây là vấn đề trình bày tôn giáo bằng ngôn ngữ triết học Cổ đại, khi đó, Kinh Thánh được coi là nguồn gốc ban đầu, bất di bất dịch của chân lý, nững suy luận triết học được phát triển như là việc chú giải văn bản Kinh Thánh Đó là nhiệm vụ và sự đặc thù của triết học tôn giáo( Thiên Chúa giáo) đang hình thành, ngay từ đầu đã mang tính biện hộ đối cới tôn giáo mới ra đời.Một khối lượng công việc khổng lồ đã được thực hiện nhằm nắm bắt những khái niệm triết học Cổ đại về phương diện Thần học, nhưng dần dần mở điều cũng được làm sáng tỏ là không thế diễn đạt chân lý Cứu rối đặc thù của Thiên Chúa bằng ngôn ngữ đặc thù của triết học Chính mong muốn hợp nhất thực hiện sự tích hợp giữa tôn giáo( thần học) và triết học cấu thành nhiệm vụ và mâu thuẫn của triết học Thiên Chúa mà cho tới nay vẫn mang tính thời sự Khi đó, cần tính đếnvai trò chiếm ưu thế của thần hoc trong văn hóa Trung cổ: chính niềm tin tôn giáo đảm bảo sự đặc thù và tính toàn vẹn của văn hóa Trung cổ, sự phát triển của các loại hình văn hóa đa dạng, kể cả triết học, đã diễn ra trong khuôn khổ của tôn giáo.
Tính tất yếu của sự đối đầu giữa tôn giáo( thần học) và triết học sinh ra từ sự khác biệt sâu sắc về hình thái của chúng Tôn giáo lịch sử( đối với người Châu
Âu thì đó trước hết là Thiên Chúa giáo) và sự diễn đạt nó về mặt lý luận( thần hoc) đã phát triển trong một khuôn khổ cứng nhắc do Kinh Thánh và Thánh truyền, truyền thống, hệ biểu tượng đức tin phác họa
Bất kỳ tri thức nào cũng chỉ được thừa nhận ở mức độ nó phù hợp với pháp điển của giáo hội và củng cố lòng mộ đạo do pháp điền ấy quy định Còn đối
Trang 8với triết học thì những định hướng của nó là đối lập: phân tích một cách có phê phán tất cả mọi hình thức văn hóa từ lập trường của lý tính, dựa vào tri thức kinh nghiệm, nghiên cứu tự do, không phục tùng các quyền uy và sẵn sang xét lại những luận điểm cơ bản…Đối tượng ưu tiên của sự phản tư triết học là những cơ sở siêu hình của hệ thống tín ngưỡng: bản chất và nguồn gốc tối hậu của Vũ trụ, sứ mệnh của con người, thái độ với lý tính và tính duy lý, cội nguồncủa đạo đức…đứng ở sau đó là khát vọng mang tính tự nhiên đối với triết học- vượt ra khỏi khuôn khổ của một tôn giáo và tiến hành phân loại nó với tư cách một hình thức đặc thù của văn hóa.
Triết học tôn giáo Cận đại dưới những hình thức biểu hiện quan trọng nhất cảu
mình đã kiên quyết khu biệt với: triết học mang tính tôn giáo, nhận thấy nguy
cơ đánh mất các nhiệm vụ và sứ mệnh đích thực của mình là ở việc hoàn thành chức năng phục vụ đối với tôn giáo Triết học cạnh tranh với tôn giáo chính ở nơi nó xác định sự mệnh của mình một cách sâu sắc nhất sự phê phán tôn giáo của triết học không phải được quy định bởi thái độ tiêu cực đối với tôn giáo tự thân nó, mà thể hiện là một yếu tố tất yếu của bản thân phương pháp tư duy triếthọc và của khái niệm triết học về tôn giáo
Nếu thần học cố gắng sử dụng khá niệm để xem xét bà trình bày thực tiễn hiện thực của ý thức tôn giáo đại chúng- kinh nghiệm sống của những người cố gắnghiện thực hóa những giá trị tôn giáo, thì sự hình thành chủ nghĩa phê phán triết học trước hết ghi nhận và khái quát những thành tựu của khoa học trong nhận thức thế giới, sự hoàn thiện hệ thống công cụ của nó, sự tăng cường vai trò của tri thức chân thực trong phát triển xã hội, tức sự cải biến toàn bộ bố cảnh văn hóa xã hội trong quá trình hình thành nền văn minh công nghệ cùng với việc đặttrọng tâm vào sự phát triển cá nhân, chủ nghĩa đa nguyên, cạnh tranh tự do… những nhân tố quy định quá trình thế tục hóa xã hội châu Âu
Trang 9Cùng với việc thời Cận đại khẳng định vai trò hàng đầu của tri thức đối với niềm tin, “ thần học tôn giáo” cũng nhường lại địa vị dẫn đầu trong việc khảo cứu hiện tượng tôn giáo cho triết học tôn giáo Với toàn bộ thái độ phê phán đốivới tôn giáo, triết học tôn giáo vẫn giữ lại một mối liên hệ kế thừa nhất định vớitrọng tâm duy lý của “ thần học tư nhiên”, với quan niệm về tính so sánh được giữa trí tuệ con người và trí tuệ Chúa.
Triết học tôn giáo cận đại dưới những biểu hiện quan trọng nhất của mình
đã kiên quyết khu biệt với “triết học mang tính tôn giáo”, nhận thấy nguy cơ đánh mất các nhiệm vụ và sứ mệnh đích thực của mình là ở việc hoàn thành chức năng phục vụ đối với tôn giáo Triết học cạnh tranh với tôn giáo chính ở nơi nó xác định
sứ mệnh của mình một cách sâu sắc nhất Sự phê phán tôn giáo của triết học khôngphải được quy định bởi thái độ tiêu cực đối với tôn giáo tự thân nó, mà thể hiện là một yếu tố tất yếu của bản thân phương pháp tư duy triết học và của khái niệm triếthọc về tôn giáo
Nếu thần học cố gắng sử dụng khái niệm để xem xét và trình bày thực tiễn hiện thực của ý thức tôn giáo đại chúng-kinh nghiệm sống của những người cố gắng hiện thực hóa các giá trị tôn giáo, thì sự hình thành chủ nghĩa phê phán triết học trước hết ghi nhận và khái quát những thành tựu của khoa học trong nhận thức thế giới, sự hoàn thiện hệ thống công cụ của nó, sự tăng cường vai trò của tri thức chân thực trong phát triển xã hội, tức sự cải biến toàn bộ bối cảnh văn hóa xã hội trong quá trình hình thành nền văn minh công nghệ cùng với việc đặt trọng tâm vào sự phát triển cá nhân, chủ nghĩa đa nguyên, cạnh tranh tự do…- những nhân tố
ấy quy định quá trình thế tục hóa xã hội châu Âu
Trang 10Cùng với việc thời cận đại khẳng định vai trò hàng đầu của tri thức đối với niềm tin, “thần học tôn giáo” cũng nhường lại địa vị dẫn đầu trong việc khảo cứu hiện tượng tôn giáo cho triết học tôn giáo.
Với tư cách là một bộ môn độc lập, triết học tôn giáo hình thành vào thời Khai sáng Các bậc tiền bối của nó là Giordano Bruno và các nhà hữu thần luận Anh: Scherberi, Toland, Tindall, Kollinz, những người sáng lập ra nó là Spinoza, Descartes, Hobbs, Locker, Hume ở Anh, các nhà khai sáng Pháp: Beyle, Voltaire,
Rousseau, Diderot, ở Đức: Lessing, Kant, Hegel Các nhà triết học đã bảo vệ quyềnphán có phán đoán độc lập về các vấn đề tôn giáo nhờ xuất phát từ những tiêu chí của nhận thức duy lý và những dữ kiện của khoa học tư tưởng này được Đescartestrình bày rõ trong “ mặc tưởng siêu hình học” (1641) Hai vấn đề- về Chúa và về linh hồn- là hai vấn đề quan trọng nhất, cần được chứng minh thông qua những luận cứ của triết học, chứ không phải của thần học Sự nghiệp của Spinoza là minh họa rõ về sự hình thành triết học tôn giáo Phát triển các truyền thống của chủ nghĩa duy lý và của chủ nghĩa phiếm thần, ông khẳng định sự đồng nhất của Chúa
và của tự nhiên mà ông hiểu là một thực thể vĩnh hằng, vô hạn thống nhất, là
nguyên nhân của bản thân mình
Xuất phát điểm của triết học tôn giáo hiện đại là khái niệm “tôn giáo tự nhiên” của Hume: sự đối lập giữa tôn giáo thực định và tôn giáo lịch sử.
Trong tác phẩm “Đối thoại về tôn giáo tự nhiên”, Hume cho rằng, vật chất không thể tự tổ chức bản thân mình.(thí dụ như ngôi nhà).Chúng ta không biết các
tư tưởng được sắp xếp như sao đó trong tinh thần để tạo thành kết quả là thiết kế
về ngôi nhà Như vậy, kinh nghiệm chứng minh rằng, nguyên tắc khởi thủy về trật
tự nằm trong tinh thần, chứ không phải nằm trong vật chất, vật chất không thể tự
tổ chức bản thân mình một cách phù hợp với mục đích.
Trang 11Hume chứng minh rằng, chủ ý của chúng ta là hạn chế và không áp dụng được vào thế giới với tư cách một chỉnh thể Lẽ phải đưa đến tư tưởng về sự tồn tạicủa người thiết kế, cho dù không một người nào có khả năng quan sát hành vi thiết
kế thế giới từ bên ngoài
Khái niệm này cho phép phân tích tôn giáo trên phương diện triết học với
tư cách một kết cấu tư biện, cũng như tiến hành nghiên cứu dữ liệu kinh nghiệm về các tôn giáo Khi đó, toàn bộ quan niệm trước đó về tôn giáo như cái có quan hệ với siêu hình học và hệ giáo lý đã bị bác bỏ.
Các nhà tư tưởng Đức có một công lao đặc biệt trong việc xây dựng triết học tôn giáo với tư cách một bộ môn đặc biệt Họ đề nghị nhận thức tôn giáo bằng cách định hướng vào các lĩnh vực ý thức khác nhau- ý chí ( Kant), cảm
xúc(Schleiermacher) và lý tính (hegel).
Bản thân thuật ngữ “ triết học ton giáo” gắn liền với sáng tạo của Kant Theo Kant, đóng góp cơ bản của thời đại Khai sáng Pháp không đơn giản là sự giải phóng khỏi những giáo lý tôn giáo và những giáo điều chính trị, mọi hạn chế đối với tư duy, sự thống trị tuyệt đối của lý tính tự do Từ đó khẩu hiệu “ hãy dũng cảm sử dụng trí tuệ của mình!” Theo Kant, tôn giáo không tuyên chiến một cách không suy ngẫm chống lại lý tính, sẽ không thể trụ vững lâu được trong cuộc chiến này.
Khác với chủ nghĩa duy vật vô thần thời khai sáng, Kant không phu địnhtồn tại Chúa, mà phủ đinh các phương thức truyền thống trong việc chứng minhtồn tại Chúa và những quan niệm tương ứng về Chúa Tác phẩm “Cách chứngminh duy nhất có thể có về sự tồn tại của Thượng đế” xuất bản năm 1763, trong đókhẳng định sự tồn tại của Thượng đế như một tất yếu “Tồn tại một cái gì đó mangtính tất yếu Đó là một Đấng thuần khiết về bản chất và bản thể, mà về thực chất đó
Trang 12là cái tinh thần tồn tại vĩnh cửu và bất biến xét trong cả (in Ansehung) mọi khảnăng và hiện thực Đó chính là Thượng đế ( ) Điều mà tôi thể hiện ở đây cần phảiđược phân tích để người ta có thể học hỏi một cách thành thạo được” Kant bày tỏ
ý kiến của ông về các phẩm chất của Thượng đế như sau: “Khi tôi nói, Thượng đế
là toàn năng thì điều đó hợp lôgíc với Đức Chúa Trời với cái toàn năng và cái toànnăng bởi vì toàn năng chẳng qua là một đặc điểm của Chúa Trời mà thôi, không hề
có hàm ý gì hơn ở đây, chưa hàm ý gì tới vấn đề liệu có Chúa Trời hay không,Chúa Trời là cái tuyệt đối hay cái gì đó đang hiện hữu” I.Kant phân tích nhiềucách chứng minh về sự tồn tại của Thượng đế từ trước tới nay, rồi kết luận chỉ tồntại một Thượng đế và cũng chỉ có thể có một cách biện thần duy nhất mà thôi “Chỉ
có một Đấng Chúa Trời duy nhất và một cơ sở biện thần duy nhất mà thôi, qua đósáng tỏ khả năng hiện hữu đồng thời nhận biết được tính tất yếu của Chúa Trời, vàngược lại, tất cả những gì phát biểu trái với điều đó đều bị coi là vô nghĩa ( ) Mọi
sự phủ nhận sự hiện hữu của Đấng Chúa Trời đều trở lên vô nghĩa và đó cũngchính là sự khác nhau phân biệt giữa sự hiện hữu của Chúa Trời đối với sự hiệnhữu của các sự vật khác” Theo Kant, toàn bộ sinh hoạt tôn giáo chỉ nên giữ lại sựphục vụ Chúa về mặt đạo đức Kant nhất quyết khẳng định vai trò hàng đầu của ýthức đạo đức đối với ý thức tôn giáo: “Tôn giáo căn cứ trên đạo đức, chứ khôngphải đạo đức căn cứ trên tôn giáo”
Triết học tôn giáo tiếp thu định hướng này của Kant,xem xét tôn giáo nhưmột lĩnh vực độc lập( bên cạnh đạo đức hay nghệ thuật) của văn hóa, cố gắng đạttới bản chất, chân lý và mục đích của tôn giáo, xây dựng lý luận về tôn giáo chomục đích ấy xuất phát điểm quan trọng của nó là khái niệm “ kinh nghiệm tôngiáo”, khái niệm này cho phép vạch ra bản chất của tôn giáo Khi đó, hiện tượngtôn giáo có thể được khảo cứu trên phương diện kinh nghiệm nội tâm của cá nhân,cũng như trên phương diện kinh nghiệm lịch sử Trong cả hai trường hợp, triết họctôn giáo đều ghi nhận vai trò của các cá nhân sáng tạo tôn giáo độc đáo, những
Trang 13người sáng lập ra các tôn giáo lịch sử riêng biệt Như vậy, triết học tôn giáo nhận được khả năng phán xét về đời sống tôn giáo của người khác nhờ xuất phát từ kinh nghiệm tôn giáo của mình, cũng như ngược lại, thể nghiệm tôn giáo của người khác góp phần thúc đẩy sự thấu hiểu niềm tin của bản thân mình Tuy nhiên, để
xây dựng lý luận về tôn giáo, cần phải biểu thị kinh nghiệm này bằng những phạmtrù triết học đặc thù
Có thể xem triết học tôn giáo Hegels là mẫu mực cho việc thực hiện chủ ýnhư vậy Ông xem tình cảm và biểu tượng tôn giáo là hình thức biểu thị chân lýtuyệt đối Vốn đồng nhất về nội dung, triết học và tôn giáo nhận thức Chúa bằngnhững phương pháp khác nhau, tôn giáo-bằng biểu tượng, triết học-bằng kháiniệm
Khái quát Sự ra đời đạo Tin lành và đạo tin lành mới
Đạo tin lành
Sự phân liệt lần thứ hai của đạo Kitô vào đầu thế kỷ XVI dẫn đến sự ra đời củađạo Tin lành Cuộc cải cách này gắn liền với tên tuổi hai đại biểu la Máctin Luthơ(1483 – 1546) và Giăng Canvanh (1509 – 1546)
Thế kỷ XVI là thế kỷ mở đầu cho các cuộc cách mạng tư sản châu Âu MáctinLuthơ chịu ảnh hưởng của tư tưởng tự do tư sản, phản kháng lại những quy địnhkhắc nghiệt của của Công giáo Ông thừa nhận Thánh kinh nhưng phủ nhận truyềnthống của nhà thờ, bãi bỏ những nghi lễ phiền toái, cải cách lại ngày phục sinh củachúa, chủ trương cho phép các mục sư lấy vợ Những tư tưởng cải cách này đãdẫn tới xung đột gay gắt quyết liệt với Toà thánh Vaticăng và dẫn đến việc ra đờimột tôn giáo mới : đạo Tin Lành
Nói chung về nội dung cơ bản của đạo Tin lành vẫn giữ nguyên như Công giáonhưng về luật lệ, lễ nghi, cách thức hành đạo và cơ cấu tổ chức Giáo hội có nhiềuthay đổi, ảnh hưởng khá đậm nét tư tưởng dân chủ tư sản, nhấn mạnh ý chí cánhân
Trang 14Giáo lý cơ bản của đạo Tin lành
- Đạo Tin lành đề cao vị trí của kinh thánh, coi đó là chuẩn mực căn bản duy nhấtcủa đức tin và sự hành đạo Lấy kinh thánh làm giáo lý nhưng đạo Tin lành chỉcông nhận 36 trong tổng số 46 cuốn Cựu ước Khác với Công giáo, đạo Tin lànhkhông coi Kinh thánh là cuốn sách chỉ có một số người (giáo sĩ) được quyền kêcứu, giảng giải mà tín đồ, giáo sĩ đạo Tin lành đều có quyền sử dụng, nói và làmtheo Kinh thánh
- Đạo Tin lành tin rằng Đức mẹ Maria sinh ra Chúa Giêsu một cách mầu nhiệmnhưng xem bà không phải là mẹ Thiên chúa và chỉ đồng trinh cho đến khi sinh raChúa Tin có thiên sứ, các thánh tông đồ, các thánh tử vì đạo và các thánh khácnhưng không sùng bái và thờ lạy họ như trong Công giáo Tin có Thiên đàng vàĐịa ngục nhưng không coi trọng đến mức dùng nó làm công cụ để khuyến khích vàrăn đe, trừng phạt con người
Nghi lễ của đạo Tin lành
- Nghi lễ đạo Tin lành khá đơn giản Đạo không thờ tranh ảnh, hình tượng cũngnhư di vật Thánh ca trở thành phương tiện diễn đạt hàng đầu Tín đồ đạo Tin lànhchỉ thừa nhận hai bí tích rửa tội và thánh thể song quan niệm và cách tiến hànhnghi lễ đó cũng có nhiều nội dung khác với Công giáo
- Tín đồ Tin lành xưng tội trực tiếp với Thiên Chúa (Công giáo phải thông quaLinh mục Khi xưng tội, cầu nguyện tín đồ có thể ở nhà thờ, trước đám đông đểsám hối, nói lên ý nguyện một cách công khai
Tổ chức của đạo Tin lành
- Đạo Tin lành không lập Giáo hội duy nhất mang tính phổ quát cho toàn đạo màxây dựng các giáo hội riêng rẽ, độc lập với các hình thức khác nhau tuỳ theo hệphái và từng quốc gia Nhà thờ đạo Tin lành thường có cấu trúc hiện đại nhưng bàitrí đơn giản
Trang 15- Giáo sỹ đạo Tin lành có hai chức Mục sư và Truyền đạo (Giảng sư) Các giáo sỹvẫn có gia đình bình thường nhưng họ phải chịu sự kiểm soát của các tín đồ, không
có thần quyền và vai trò tuyệt đối đối với các tín đồ
- Do nghi lễ đơn giản, những tín đồ Tin lành ít bị gò bó vào nghi thức, họ có khảnăng “giao thiệp với Chúa”, mặt khác đạo Tin lành quan tâm đến các vấn đề củacuộc sống hàng ngày như khuyên dạy con người sống văn minh, từ bỏ những hủtục (trong ma chay, cưới xin, cúng lễ…), quy định những điều cấm kỵ như khôngquan hệ nam nữ bất chính, không có vợ bé, không cờ bạc rượu chè, ma tuý, đánhchửi nhau… và vì thế đạo Tin lành dễ lôi kéo quần chúng theo đạo
- Đạo Tin lành có một đặc điểm là không chấp nhận điều gì trái với Kinh thánh,không cho tín đồ thờ cúng tổ tiên, các lễ hội… là cái bị coi là khác điều chúa dạy
Vì lẽ đó những thành viên của nhiều dân tộc theo đạo Tin lành bị buộc phải từ bỏtôn giáo, văn hóa truyền thống của dân tộc minh
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA CHỦ NGHĨA TIN LÀNH MỚI
Sau khi được Luther và Calvin hình thành, tư tưởng triết học Tin lành giáo đã không ngừng biến đổi cho phù hợp với hoàn cảnh lịch sử mới Chúng ta có thể
trình bày khai quát một số tư tưởng triết học cơ bản vủa chủ nghĩa Tin lành mớithông qua một số trào lưu cơ bản sau đây của nó
1.1 Thần học tự do chủ nghĩa.
Vào thơi khai sáng, nhf thần học người Đức I.Semler (1725-1791) đã chứng minhrằng những vấn đề lịch sử có thể được nghiên cứu một cách độc lập với thần học.Semler và cá môn đệ của ông đã lý giải truyền thuyết trong kinh thánh về phépmàu mhuw là những câu chuyện bị xuyên tạc về các sự kiện tự nhiên, đã giải thích
hệ thống giáo lý như là hệ thống lý luận do trí tuệ con người tạo ra, còn Kinh thánhnhư là di sản văn hóa cổ Thuyết hữu thần (theisme) bị họ đem đối lập với quan
Trang 16điểm thần luận về chúa như động cơ đầu tiên, như cái tuyệt đối của triết học khôngcan thiệp vào công việc thế giới , họ cố gắng hợp nhất tôn giáo với lý tính Có tácđộng tới các nhà thần học tin lành giáo là những tư tưởng của Kant mà, trong tácphẩm “Phê phán lý tính thuần túy”, đã chỉ ra rằng các luận điểm của thân họctruyền thống(về Chúa, về sự bất tử của linh hồn, cuộc sống bên kia thế giới) khôngthể được luận chứng một cách duy lý.
Ph.Sleyemacher (1768-1834), nhà triết học và thần học người Đức đã chỉ ra trongtác phẩm “Bàn về tôn giáo với những người có học vấn khinh thường nó”, “Niềmtin Kito giáo”,…đã cố gắng chỉ ra rằng tôn giáo được đem laic ho con người mộtcách trực tiếp như một lĩnh vực đặc biệt gắn liền với tính chủ quan của con người.Sleyemacher kiên định sự hiện diện của Chúa trong vạn vật, quan niệm về Chúanhư sức mạnh sáng tạo nội tại của tồn tại, như nguồn gốc và cơ sở của nó, xem cánhân như quan hệ không lặp lại với Chúa Nhờ bước ngoặt như vậy về tính chủquan mà thần học Tin lành giáo thế kỷ XIX đã có được nhiều khả năng để thíchnghi với bối cảnh xã hội Sự định hướng này cũng đưa tới chỗ nghiên cứu thế giớibên ngoài và sự hoạt động trong nó được dành cho thẩm quyền của lý tính và khoahọc
Mặc dù các nhà cải cách tôn giáo đã lên tiếng chống lại triết học, nhưng nó tinhthông thần học tới mức sự chú giải Kinh thánh và khoa chú giải, lịch sử Cựu ước
và Tân ước, thậm chí việc trình bày hệ thống giáo lý cũng được xây dựng phụthuộc vào các học thuyết của Kant, Fichte, Selling và Hegels Thần học tin lànhgiáo theo khuynh hướng hiện đại hóa thế kỷ XIX đã nhận được tên gọi là “thần học
tự do chủ nghĩa”, vì đặc điểm chung của nó là nắm bắt nguyên tắc của chủ nghĩa tự
do (liberalisme), nguyên tắc tự trị của chủ thể, tự do của lý tính, sáng kiến riêng tư
Trang 17Người sáng lập “ Trường phái tân Tubinnghen”, Ph.Bauer (1792-1860) đã xem sựhình thành văn bản Tân ước và giáo lý Kito giáo như kết quả đấu tranh giữa các xuhướng Kito giáo độc thần và Kito giáo đa thần Các học trò của Bauer đã biến cuộcđời của Chúa Giêsu thành đối tượng nghiên cứu có phê phán giống như cuộc đờicủa bất kỳ nhân vật lịch sử nào, hơn nữa, họ còn đặt ra vấn đề bản thân Chúa Giesu
có phải là nhân vật lịch sử không hay là sự nhân cách hóa tự ý thức của giáo đoànThiên chúa giáo Trong tác phẩm “Cuộc đời của Chúa Giesu được nghiên cứu lạimột cách có phê phán”,D.straus (1808-1874) đã xem Kito giáo như là sản phẩmcủa lịch sử tinh thần con người Trong Kito giáo theo ông chân lý được trình bàydưới hình thức thần thoại quan niệm hình thành một cách tự phát trong ý thức conngười trong đó vũ trụ được nhân cách hóa Sự tồn tại lịch sử của Chúa Giesu, theoStraus., được trình bày trong Tân ước bằng những thần thoại bị che đậy tới mức cóthể được xem như là điều không quan trọng đối với tín đồ Kito giáo Điều nàycũng tạo điều kiện để những người theo một trường phái nghiên cứu khác (trườngphái thần học) tuyên bố bản thân của sự tồn tại lịch sử của Chúa Giesu là thầnthoại Các nhf thần học tự do chủ nghĩa đã bác bỏ họ thuyết truyền thống về BaNgôi, về sự hóa thân của Chúa, về bản chất chúa của Giesu Kito, về sự thụ thaitrinh bạch của Chúa, về các phép màu, về sự cứu rỗi của cái chết trên cây Thập tựcủa Chúa Giesu, về sự phục sinh thể xác, tính thực tại của ngày thứ năm mươi,cũng như học thuyết về Chúa sáng tạo ra thế giới và con người, về tội tổ tông Họtạo ra hình ảnh Chúa Giesu mang tính lịch sử, tự do
Đạt tới sự ảnh hưởng nhất ở giai đoạn này, thần học tự do chủ nghĩa nửa sau thế
kỷ XIX-đầu thế kỷ XX đã tiến hành xây dựng lại thần học dựa trên thuyết Cantomới A.Ritch(1822-1889) đã lý giải học thuyết Kito giáo về sự cứu rỗi như là sựtiến hóa đạo đức- xã hội của con người Theo Ritche thần học cần phải đề cập tớigiá trị niềm tin vào Chúa hay vào bản chất Chúa của Giesu Kito Mục đích chân
Trang 18thực và duy nhất của tình yêu đối với Chúa, trung tâm của Kito giáo là tình yêu đốivới người thân được thể hiện một cách cụ thể, thực tế trong đời sống xã hội, kể cảtrong hoạt động nghề nghiệp “Vương quốc của Chúa”- đó là mục đích của lịch sử,
là hạnh phúc tối cao mà cần được thực hiện dần dần thông qua những nỗ lực đạođức của nhân loại
Thần học tự do chủ nghĩa được phổ biến rộng rãi ở Mỹ , đặc biệt trong trường pháiChicago mà các môn đồ đã căn cứ trên các tư tưởng triết học của chủ nghĩa thựcdụng, Gắn liền với thần học tự do chủ nghĩa là phong trào “Phúc âm xã hội” mà đạibiểu nổi tiếng là U.Raushenbush Ông đã xây dựng tư tưởng “chủ nghĩa xã hộiThiên chúa giáo” Thần học tự do chủ nghĩa không những là ý định giải quyếtnhững trở ngại mà sự phát triển khoa học đặt ra cho Kito giáo mà còn là sự thíchnghi của các nước công nghiệp
1.2 Thần học biện chứng của K.Barth
Vào đầu thế kỷ XX, khuynh hướng chính giáo đã tăng lên trong Tin lành giáo.Chủnghĩa nguyên giáo đã hình thành ở Mỹ , nó lên tiếng chống lại sự hiện đại hóa Kitogiáo và đòi hỏi coi tính có tinh thần của Chúa ở các sách Kinh thánh là cơ sở củagiáo lý Hội nguyên giáo Kito toàn thế giới được thành lập vào năm 1919
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, ở Châu Âu và sau đó là Mỹ, “thần học khủnghoảng”, hay thần học biện chứng được thừa nhận, nó nhấn mạnh sự tách biệt giữamạc khải và nhận thức tự nhiên nhờ sử dụng phép biện chứng hiện sinh củaKierkegaard là học thuyết ghi nhận những mâu thuaam\nx kỳ cục của tồn tại cáthể Người sáng lập ra thần học biện chứng là K.Barth, nhà thần học và linh mụcnhườ Thụy Sỹ Quan diểm của Barth thực hiện sự quay về với chính giáo Tin lành