Đề tài: Giải pháp tăng quy mô tiền gửi tiết kiệm tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam mấy năm gần đây.
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Tiền gửi tiết kiệm vốn thuộc quyền sở hữu của cá nhân, doanh nghiệpnhưng nó lại được các Ngân hàng thương mại sử dụng vào hoạt động kinhdoanh của mình Nó là nguồn vổn rất quan trọng đối với các Ngân hàngthương mại Các Ngân hàng thương mại muốn kinh doanh được thì phần lớnđều phải dựa trên khoản vốn này Với vai trò quan trọng như vậy và trong xuthế cạnh tranh ngày nay, các Ngân hàng bằng nhiều hình thức thu hút tiềngửi tiết kiệm đã đem lại nhiều lợi hơn cho khách hàng
Đề tài “Giải pháp tăng quy mô tiền gửi tiết kiệm của các Ngân hàng
thương mại ở Việt Nam” đã thể hiện những biến động phức tạp của quy mô
tiền gửi tiết kiệm trước tình hình kinh tế - xã hội nói chung và nhu cầu riêngcủa từng Ngân hàng; những biện pháp mà các Ngân hàng sử dụng để chống
đỡ những ảnh hưởng có tác nhân từ bên ngoài Đề tài gồm ba phần:
Phần 1: Tổng quan chung về tiền gửi tiết kiệm của Ngân hàng thương mại
Phần 2: Thực trạng biến động quy mô tiền gửi tiết kiệm của các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam những năm gần đây
Phần 3: Giải pháp tăng quy mô tiền gửi tiết kiệm
Em xin chân thành cảm ơn Ths Phan Hữu Nghị đã có những hướng dẫnquý báu cho em hoàn thành đề tài này
Trang 31 Tổng quan về ngân hàng thương mại:
1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại:
Ngân hàng là tổ chức tín dụng thu hút tiết kiệm lớn nhất trong hầu hếtmọi nền kinh tế Nó là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất.Ngân hàng bao gồm nhiều loại tùy thuôc vào sự phát triển của nền kinh tếnói chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó ngân hàng thương mạithường chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần và số lượng cácngân hàng
Hàng triêu cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế
- xã hội đều gửi tiền tại ngân hàng và thu ngập từ ngân hàng là nguồn thunhập quan trọng của nhiều hộ gia đình Ngân hàng là tổ chức cho vay chủyếu đối với các doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình và một phần đối với Nhànước (thành phố, tỉnh …) Đối với các doanh nghiệp ngân hàng thường là tổchức cung cấp tín dụng để phục vụ cho việc mua hàng hóa dự trữ hoặc xâydựng nhà máy, mua sắm trang thiết bị Các khoản tín dụng của ngân hàngcho chính phủ (thông qua mua các chứng khoán của Chính phủ) là nguồn tàichính quan trọng để đầu tư phát triển
Trang 4Ngân hàng là một trong những tổ chức trung gian tài chính quan trọngnhất Ngân hàng thực hiện các chính sách kinh tế, đặc biệt là chính sách tiền
tệ, vì vậy là một kênh quan trọng trong chính sách kinh tế của Chính phủnhằm ổn định kinh tế
1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại:
1.2.1 Trung gian tài chính:
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động là chuyểntiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với 2 loại cá nhân và tổ chức trongnền kinh tế: các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu, tức là chi chotiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập vì thế họ là những người cần bổ sungvốn; và các tổ chức, cá nhân thặng dư trong chi tiêu, tức là thu nhấp hiện tạicủa họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng hóa, dịch vụ và do vậy họ cótiền để tiết kiệm
Sự tồn tại 2 loại cá nhân và tổ chứ trên hoàn toàn độc lập với ngân hàng.Điều tất yếu là tiền sẽ chuyển từ nhóm thặng dư sang nhóm thâm hụt nếu cả
2 đều có lợi Như vậy thu nhập gia tăng là động tạo ra mối quan hệ tài chínhgiữa 2 nhóm Lúc đầu hình thành quan hệ trực tiếp – tức là người có thặng
dư chi tiêu trực tiếp cho người thâm hụt chi tiêu vay
Tuy nhiên quan hệ trực tiếp bị nhiều giới hạn do sự không phù hợp vềquy mô, thời gian, không gian… Điều nay cản trở quan hệ trực tiếp pháttriển và là điều kiện nảy sinh trung gian tài chính Trung gian tài chính đãtập hợp những người tiết kiệm và đầu tư, vì vậy mà giải quyết được mâuthuẫn của tín dụng trực tiếp
1.2.2 Tạo phương tiện thanh toán:
Tiền – vàng có chức năng quan trọng là làm phương tiện thanh toánnhưng các ngân hàng không tạo được tiền kim loại Vì vậy, ban đầu cácngân hàng đac tạo ra phương tiện thanh toán thay cho tiền kim loại dựa trên
Trang 5số lượng tiền kim loại đang nắm giữ Với nhiều ưu thế, dần dần giấy nợ củangân hàng đã thay thế tiền kim loại làm phương tiện lưu thông và phươngtiện cất giữ; nó trở thành tiền giấy.
Trong điều kiện phát triển thanh toán qua ngân hàng, các khách hàngnhận thấy nếu họ có được số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán, họ có thểchi trả để có được hàng hóa và các dịch vụ theo yêu cầu
Khi ngân hàng cho vay, số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán củakhách hàng tăng lên, khách hàng có thể dùng để mua hàng hóa và dịch vụ
Do đó, bằng việc cho vay các ngân hàng đã tạo ra phương tiện thanh toán.Toàn bộ hệ thông ngân hàng cũng tạo phương tiên thanh toán khi cáckhoản tiền gửi được mở rộng từ ngân hàng này đến ngân hàng khác trên cơ
sở cho vay Khi khách hàng tại một ngân hàng sử dụng khoản tiền vay để chitrả thì sẽ tạo nên khoản thu của một khách hàng khác tại một ngân hàng khác
từ đó tạo ra các khoản cho vay mới trong khi không một ngân hàng riêng lẻnào có thể cho vay lớn hơn dự trữ dư thừa, toàn bộ hệ thống ngân hàng cóthể tạo ra khối lượng tiền fuwir gấp bội thông qua hoạt động cho vay
1.2.3 Trung gian thanh toán:
Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hếtcác quốc gia Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán giá trịhàng hóa và dịch vụ Để việc thanh toán nhanh chóng, thuận tiệ và tiết kiệmchi phí, ngân hàng đưa ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán nhưthanh toán bằng séc, ủy nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ… cung cấp mạnglưới điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần Cácngân hàng còn thực hiện thanh toán bù trừ với nhau thông quan ngân hàngtrung ương hoặc thông qua các trung tâm thanh toán Công nghệ thanh toánqua ngân hàng càng đạt hiêu quả cao khi quy mô sử dụng công nghệ đó càngđược mở rộng Vì vậy, công nghệ thanh toán hiện đại qua ngân hàng thường
Trang 6được các nhà quản lý tìm cách áp dụng rộng rãi Nhiều hình thức thanh toánđược chuẩn hóa góp phần tạo tính thống nhất trong thanh toán không chỉgiữa các ngân hàng trong một quốc gia mà còn giữa các ngân hàng trên toànthế giới Các trung tâm thanh toán quốc tế được thiết lập đã lam tăng hiệuquả của thanh toán qua ngân hàng, biến ngân hàng trở thành trung tâm thanhtoán quan trọng và có hiệu quả, phục vụ đắc lực cho nên kinh tế toàn cầu.1.3 Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại:
1.3.1 Thay đổi tiền dự trữ:
Trong thực tế các ngân hàng thu lợi nhuận bằng cách bán những tài sản
nợ có một số đặc tính và dùng tiền thu được để mua những tài sản có một sốđặc tính khác Như thế, các ngân hàng cung cấp một số dịch vụ chuyển mộtloại tài sản thành một loại tài sản khác cho công chúng
Quá trình chuyển các tài sản và cung cấp một loại dịch vụ (thanh toánséc, ghi chép sổ sách, phân tích tín dụng…) cũng giống như bất cứ quá trìnhsản xuất nào khác trong một hãng kinh doanh Nếu ngân hàng tạo nhữngdịch vụ hữu ích với chi phí thấp và có được doanh thu cao nhờ vào tài sảncủa mình thì ngân hàng đó thu được lợi nhuận
Hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại được nghiên cứu thông qua
ví dụ sau: Có một khách hàng mở một tài khoàn séc tai ngân hàng thươngmại A với số tiền 100 triệu đồng Như vậy, khách hàng này có một khoảntiền gửi có thể phát séc 100 triệu đồng ở ngân hàng này và trong két củangân hàng có 100 triệu đồng tiên mặt, do đó tài sản của ngân hàng này tănglên do tiền mặt trong két tăng thêm 100 triệu đồng
Vì vậy, việc mở rộng một tài khoản séc của khách hàng đã làm tiền dựtrữ của ngân hàng tăng lên với đúng bằng số tiền đó
Nếu khách hàng mở tài khoản từ tờ séc được phát ra từ một tài khoản ởmột ngân hàng thương mại khác thì lúc đó trên bảng cân đối của ngân hàng
Trang 7sẽ thể hiện tiền gửi có thể phát séc tăng thêm 100 triệu đồng nhưng ngânhàng này có một khoản “tiền mặt phải thu” là 100 triệu đồng Về nguyên tắcngân hàng này có thể đến ngân hàng thứ 2 để yêu cầu thanh toán món tiền,nhưng nếu 2 ngân hàng ở 2 nơi cách biệt, thì làm như vậy sẽ tốn thời gian vàchi phí Do vậy ngân hàng này gửi tờ séc đó vào tài khoản của mình ở ngânhàng trung ương và ngân hàng trung ương sẽ thu tiên từ ngân hàng thứ 2 đó.Kết quả là ngân hàng trung ương chuyển 100 triệu đồng dự trữ từ ngân hàngthứ 2 sang ngân hang đầu tiên.
Như vậy, khi một séc được phát ra theo một tài khoản ở một ngân hàngthương mại này được gửi vào một ngân hàng thương mại khác thì ngân hàngthương mại đó sẽ tăng được tiên dự trữ đúng bằng số tiền giảm đi của ngânhàng kia
1.3.2 Tạo lợi nhuận từ viêc cho vay
Mục đích của việc huy động tiền gửi tiết kiệm là việc ngân hang thươngmại thực hiện kinh doanh tiền tệ đặc biệt là nghiệp vụ tín dụng Trở lại ví dụtrên ngân hàng thương mại A nhân được số tiền gửi có thể phát séc 100 triệuđồng Theo luật định, ngân hàng này phải gửi dự trữ bắt buộc một tỷ lệ nhấtđịnh trên tiền gửi có thể phát séc – giả sử tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 10% thìtiền dự trữ bắt buộc của ngân hàng thương mại A đã tăng lên 10 triệu đồng
Do các khoản tiền dự trữ không đem lại tiền lãi ngân hàng A không có thunhập gì từ 100 triệu đồng tài sản có này Trong khi đó nó vẫn phải chi phícho việc nắm giữ số tiền 100 triệu đồng Nếu muốn tạo ra lợi nhuận, ngânhàng này phải sử dụng toàn bộ hoặc 1 phần số 90 triêu đồng dự trữ quá mứcnày để cho vay hoặc đầu tư
Như vậy ngân hàng A thu được một khoản tiền lãi từ việc cho vay do sửdụng những món tiền ngắn hạn để mua tài sản có dài hạn Quá trình chuyển
Trang 8đổi tài sản này thường được mô tả bằng cách nói rằng các ngân hàng kinhdoanh theo kiểu “ vay ngắn hạn và cho vay dài hạn”
2 Tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng thương mại:
2.1 Khái niệm:
Tiền gửi tiết kiệm là một thuật ngữ chuyên ngành của ngành Tài chính –Ngân hàng và được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực Ngân hàng Nó là mộttrong những khoản mục nguồn vốn của Ngân hàng,đóng vai trò rất quantrọng đối với hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng này Nếu quy môtiền gửi tiết kiệm nhỏ sẽ hạn chế tín dụng, còn quy mô tiền gửi tiết kiệm lớnkhông những mở rộng tín dụng mà còn đẩy mạnh sự phát triển của cácnghiệp vụ khác Nghiệp vụ đầu tiên mà các Ngân hàng thực hiện khi vừamới đi vào hoạt động đó là mở các tài khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán
hộ cho khách hàng Đó là cách thức để Ngân hàng huy động tiền gửi của cácdoanh nghiệp, các tổ chức và dân cư
Trong quy chế về tiền gửi tiết kiệm (ban hành kèm theo quyết định1160/2004/QĐ-NHNN ngày 13 tháng 9 năm 2004 của Thống đốc Ngânhàng Nhà nước) thì tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá nhân được gửi vàotài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãitheo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quyđịnh của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi
2.2 Phân loại:
Tiền gửi tiết kiệm được chia thành hai loại chính
Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là tiền gửi tiết kiệm của tổ chức, cá nhângửi vào Ngân hàng thương mại nhằm mục đích nhờ Ngân hàng thanh toán
hộ cho những hàng hóa và dịch vụ mà khách hành đã mua Khoản tiền này
có lãi suất rất thấp nhưng bù vào đó khách hàng được hưởng những dịch vụcủa Ngân hàng với mức phí thấp
Trang 9Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là tiền gửi tiết kiệm cảu cá nhân, tổ chức gửivào Ngân hàng thương mại nhằm mụ đích an toàn và sinh lợi Khoản tiếtkiệm này có lãi suất cao hơn so với tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn tùy theo
dự trữ bắt buộc thì buộc các Ngân hàng phải tìm mọi cách thu hút tiền gửitiết kiệm, làm cho các khoản tiền gửi tiết kiệm tăng lên nhanh chóng
Thứ hai, đó là nhu cầu vốn của các Ngân hàng thương mại Tùy từng thời
kỳ phát triển của Ngân hàng mà có những lúc Ngân hàng cần nhiều vốn.Điều này đòi hỏi nó phải tích cực thu hút vốn bằng nhiều hình thức Trong
đó có việc thu hút thêm tiền gửi tiết kiệm bằng cách tăng lãi suất, khuyếnmại, tặng quà… Mặt khác, có những lúc các Ngân hàng dư thừa vốn Vì vậy,Ngân hàng hạ lãi suất xuống để giảm lượng tiền gửi vào
Phần 2: Thực trạng biến động tiền gửi tiết kiệm của các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam những năm gần đây:
1 Thực trạng:
Có thể nói quy mô tiền gửi tiết kiệm luôn biến động rất phức tạp phụthuộc vào rất nhiều yếu tố như tình hình kinh tế xã hội của cả quốc gia cũngnhư tình hình hoạt động kinh doanh của bản thân ngân hàng
Mấy năm gần đây tình hình kinh tế xã hội có nhiều biến chuyển khôngmấy thuận lợi để phát triển Đặc biệt, năm 2008 là một năm mất ổn địnhnhiều nhất Lạm phát tăng cao, thất nghiệp nhiều buộc nhà nước phải áp
Trang 10dụng chính sách tiền tệ thắt chặt Ngân hàng Nhà nước buộc phải tăng tỷ lệ
dự trữ bắt buộc làm cho những Ngân hàng thương mại phải giảm hoạt độngtín dụng và cố gắng tăng quy mô tiền gửi tiết kiệm
Trước tình hình đó, các Ngân hàng thương mại đã diễn ra cuộc chạy đuatăng lãi suất tiền gửi tiết kiệm Lãi suất được đẩy nhanh từ khoảng 10%/nămvào cuối năm 2007 đã lên đến 19%/năm vào giữa năm 2008 Khi tăng lãisuất như vậy, các Ngân hàng đã thu hút được một lượng tiền gửi khá lớn làmgiảm lượng tiền trong lưu thông, từng bước đẩy lùi được lạm phát Tuynhiên, việc làm này lại mang lại hậu quả về sau Nguyên nhân là do khi tănglãi suất tiền gửi tiết kiệm lên như vậy thì bắt buộc các Ngân hàng phải tăng
cả lãi suất cho vay ra để tránh thua lỗ Lãi suất cho vay đã kịch trần ở mức21%/năm, làm hạn chế tín dụng Mặt khác, sang năm 2009, nền kinh tế trongnước dần ổn định làm lãi suất lại hạ xuống và các khoản tiền gửi tiết kiệmcủa đợt chạy đua tăng lãi suất năm trước dang đến hạn phải thanh toán cảgốc và lãi Vì vậy, đây là thời điểm nhiều Ngân hàng thương mại bị thua lỗtrong ngắn hạn
Không chỉ có chạy đua tăng lãi suất, các Ngân hàng này còn đa dạng hóacác hình thức gửi tiền tiết kiệm Ví dụ, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn Việt Nam có thêm tiền gửi tiết kiệm đảm bảo giá trị theo vàng;một số ngân hàng khác lại mở ra hình thức gửi tiết kiệm có thưởng… Nhờ
nó quy mô tiền gửi tiết kiệm tăng đáng kể Ví dụ, tiền gửi tiết kiệm củaNgân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Hà Nội thời điểmngày 31/12/2006 là 1050 tỷ, ngày 31/12/2007 là trên 1052 tỷ và thời điểmngày 31/12/2008 là 1760 tỷ
Nhưng từ cuối năm 2008, lãi suất tiền gửi tiết kiệm bắt đầu hạ Phảichăng các Ngân hàng thương mại không muốn thu hút tiền gửi nữa? Thực tếcho thấy, lúc này nền kinh tế dân thoát ra khỏi lạm phát Chính phủ dần dần
Trang 11từng bước dỡ bỏ chính sách tiền tệ thắt chặt và buộc các Ngân hàng phải hạlãi suất xuống Hơn nữa, giá vàng ngày một tăng là nơi đầu tư lý tưởng nênkhách hàng đã rút tiền gửi về để mua vàng.
Đã không còn thời kỳ lãi suất huy động của ngân hàng cổ phần luôn caohơn hẳn lãi suất của các ngân hàng quốc doanh Sau lần Ngân hàng Nhànước giảm lãi suất cơ bản ngày 20-11, lãi suất đầu vào của các ngân hàng cổphần đã bằng và thậm chí thấp hơn khối quốc doanh Nguyên nhân nằm ởchỗ nguồn vốn của các ngân hàng hiện khá dồi dào trong khi khó cho vay docác doanh nghiệp không muốn vay vốn thêm vì ảnh hưởng của suy thoáikinh tế thế giới
Hiện có hai dạng thiết kế biểu lãi suất tại các ngân hàng, một là lấy kỳhạn ngắn (3-4 tháng) làm chủ đạo, và hai là lấy kỳ hạn 12 tháng làm chủ đạovới lãi suất cao hơn các kỳ hạn khác Tuy nhiên, chỉ vài ngân hàng ở trongnhóm một - nhóm lấy kỳ hạn ngắn làm chủ đạo, trong đó có Ngân hàngNông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank)
Ngày 26-11, có thêm hai ngân hàng cổ phần điều chỉnh giảm lãi suất làNam Việt và HDBank đều thuộc nhóm một Lãi suất cao nhất tại Ngân hàngNam Việt chỉ còn 12,45%/năm cho kỳ hạn 3 tháng, và các kỳ hạn dài hơn thìlãi suất thấp hơn, đặc biệt kỳ hạn 12 tháng lãi suất chỉ còn 9,5%/năm
Trong khi đó, HDBank có lãi suất các kỳ hạn 3, 4, 5 và 6 tháng đều là12,5% trong khi kỳ hạn 12 tháng là 12% Cũng nằm trong nhóm này,Agribank có lãi suất huy động cao nhất là 12,5% cho kỳ hạn từ 1-6 tháng, và12% kỳ hạn từ 7-12 tháng
Ở nhóm còn lại, Ngân hàng Á Châu (ACB) và Ngân hàng Đầu tư Pháttriển Việt Nam (BIDV) đã điều chỉnh giảm tiếp lãi suất từ đầu tuần, cùng vớiVietcombank giảm từ cuối tuần trước, hiện ba ngân hàng này có lãi suất huyđộng được xem là thấp nhất hiện nay