Để phát huy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, ngoài việc phát huy hết sức mạnh của mình thì chúng ta cần phải mở rộng các mối quan hệ ngoại giao kinh tế với các quốc gia khác trên thế giới, và trong đó khu vực Nhật Bản là khu vực không kém sự quan trọng. Ngoài việc phát triển các mối quan hệ về kinh tế chúng ta có thể tận dụng được nguồn vốn, tiếp thu các nền khoa học và công nghệ. Nhật Bản là một trong những cường quốc kinh tế và được xem là đối tác quan trọng của Việt Nam có tiềm năng lớn về những lĩnh vực này. Quan hệ hợp tác giữa Việt Nam – Nhật Bản phát triển từ năm 1973 và được phát triển mạnh mẽ vào năm 1992, khi Nhật Bản nối lại viện trợ cho Việt Nam và phát triển chính thức (ODA). Thực tế mối quan hệ giữa hai nước này đã thu về được rất nhiều thành tựu. Mối quan hệ sâu rộng về sự phát triển kinh tế giữa hai nước Việt – Nhật trong nhiều năm qua cũng có những ý kiến cho rằng đây là “Thời đại mới của quan hệ Việt Nam – Nhật Bản”. Tuy vậy nhưng sự phát triển của hai nước này vẫn chưa phù hợp với tiềm năng vốn có của hai nước. Xuất phát từ yêu cầu trên nên em quyết định chọn đề tài “Phân tích thực trạng và triển vọng trong mối quan hệ kinh tế giữa Việt Nam – Nhật Bản”.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN LANG
TIỀU LUẬN CUỐI KỲ
MÔN: KINH TẾ CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG
ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VÀ TRIỂN VỌNG TRONG MỐI QUAN HỆ KINH TẾ GIỮA VIỆT NAM – NHẬT BẢN
d Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 07 năm 2023
Trang 2A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Để phát huy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, ngoài việc phát huy hết sức mạnh của mình thì chúng ta cần phải mở rộng các mối quan hệ ngoại giao kinh tế với các quốc gia khác trên thế giới, và trong đó khu vực Nhật Bản là khu vực không kém
sự quan trọng Ngoài việc phát triển các mối quan hệ về kinh tế chúng ta có thể tận dụng được nguồn vốn, tiếp thu các nền khoa học và công nghệ Nhật Bản là một trong những cường quốc kinh tế và được xem là đối tác quan trọng của Việt Nam có tiềm năng lớn về những lĩnh vực này
Quan hệ hợp tác giữa Việt Nam – Nhật Bản phát triển từ năm 1973 và được phát triển mạnh mẽ vào năm 1992, khi Nhật Bản nối lại viện trợ cho Việt Nam và phát triển chính thức (ODA) Thực tế mối quan hệ giữa hai nước này đã thu về được rất nhiều thành tựu
Mối quan hệ sâu rộng về sự phát triển kinh tế giữa hai nước Việt – Nhật trong nhiều năm qua cũng có những ý kiến cho rằng đây là “Thời đại mới của quan hệ Việt Nam – Nhật Bản” Tuy vậy nhưng sự phát triển của hai nước này vẫn chưa phù hợp với tiềm năng vốn
có của hai nước Xuất phát từ yêu cầu trên nên em quyết định chọn đề tài “Phân tích thực trạng và triển vọng trong mối quan hệ kinh tế giữa Việt Nam – Nhật Bản”
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu chính của đề tài là phân tích, đánh giá chủ yếu mối quan hệ kinh tế giữa hai nước và đưa ra những phương hướng triển vọng về quan hệ kinh tế giữa Việt Nam – Nhật Bản
Trang 3B NỘI DUNG CHƯƠNG I CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM – NHẬT BẢN
1 Các nhân tố ảnh hưởng từ phía Việt Nam
1.1 Vị trí địa lý và nguồn tài nguyên
Về vị trí địa lý
Việt Nam có vị trí nằm ở trung tâm khu vực Đông Nam Á, nằm ở phía Đông của bán đảo Đông Dương Việt Nam là đầu mối giao thông từ Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương, đây được xem là vùng biển có nhiều tiềm năng đối với nền kinh tế và là đầu mối giao thông quan trọng trong việc vận chuyển hàng hóa từ Ấn Độ Dương đến các quốc gia thuộc khu vực Đông Bắc Á [1]
Là nước có đường bờ biển dài 3260 km, tài nguyên phong phú, đa dạng Vì vậy mà Việt Nam đã trở thành đối tác có tiềm năng lớn về kinh tế với các quốc gia khác của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương
Việt Nam là một trong những quốc gia nằm ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, đây là khu vực đặc biệt về nền kinh tế chiếm khoảng 40% dân số trên thế giới, 56% GDP
và 57% giá trị thương mại toàn cầu
Về tài nguyên
Việt Nam là nước có nguồn tài nguyên khoáng sản tương đối phong phú và đa dạng, đặc biệt là khoáng sản Một số loại khoáng sản có giá trị công nghiệp và trữ lượng dự báo lớn như: dầu khí (1.2 tỷ- 1.7 tỷ m3), than (240 tỷ tấn), sắt (2 tỷ tấn),… những khoáng sản
có trữ lượng ít hơn là thiếc, đồng, cao lanh, đá vôi Nhiều loại khoáng sản cũng đã cũng được khai thác để phục vụ trong và ngoài nước [2]
Trang 4Việt Nam là quốc gia có biển nên nguồn lợi thủy sản ở đây phong phú và đa dạng, bao gồm các loại thủy sản nước mặn, nược ngọt, nước lợ Theo thống kê thì Việt Nam có khoảng trên 2.000 loài cá, gần 6.000 loài động vật đáy,… Ngoài thủy hải sản nước mặn thì Việt Nam cũng còn có tiềm năng phát triển và khai thác thủy sản nược lợ, nước ngọt
1.2 Dân số
Việt Nam là quốc gia có lợi thế về dân cư – nguồn lao động Về diện tích, Việt Nam đứng thứ 4; dân số đứng thứ 3 trong khu vực ở Đông Nam Á và thứ 15 trên thế giới, với tốc độ tăng dân số 0,8%/năm
Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê của Việt Nam tính đến năm 2021, tổng số người
có khả nắng lao động trên cả nước khoảng 50,5 triệu người và hầu hết lực lượng lao động được toàn dụng, (97.02% lực lượng lao động có việc làm) tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam luôn ở mức thấp (3%/năm)
1.3 Đổi mới nền kinh tế ở Việt Nam
Tiếp nối và kế thừa những quan điểm về vấn đề đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế chính thức được đề ra tại Đại hội XI Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn 2011 – 2020 Tại Đại hội lần thứ XII tiếp tục đề ra nhiệm vụ cơ cấu lại nền kinh tế, cụ thể “ “Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện cơ cấu lại đồng bộ, tổng thể nền kinh tế và các ngành, các lĩnh vực gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, tập trung vào các lĩnh vực quan trọng: cơ cấu lại đầu tư với trọng tâm là đầu tư công; cơ cấu lại thị trường tài chính với trọng tâm là hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính, từng bước cơ cấu lại ngân sách nhà nước; cơ cấu lại và giải quyết có kết quả vấn đề nợ xấu, bảo đảm an toàn
nợ công; cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước với trọng tâm là các tập đoàn, tổng công ty nhà nước; cơ cấu lại nông nghiệp ”1 Cho đến Đại hội XIII vẫn tiếp tục đề cập đến những nội dung trên, nhưng nhấn mạnh đến mô hình tăng trưởng mới, cụ thể là “Tiếp tục đẩy mạnh đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế, chuyển mạnh nền kinh tế sang mô hình tăng trưởng
1 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, 2016, tr.88 – 89
Trang 5dựa trên tăng năng suất, tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhân lực chất lượng cao, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lực để nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế Cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo, phát triển các ngành, lĩnh vực, các doanh nghiệp trên nền tảng ứng dụng mạnh mẽ các thành tựu của khoa học và công nghệ, nhất là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; phát triển các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, sản phẩm công nghệ cao, có giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường, tham gia có hiệu quả vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu”1 Nghị quyết số 52-NQ/TW, ngày 27-9-2019, của Bộ Chính trị, “Về
một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư” nhấn mạnh, cần chủ động và tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ
tư và Chính phủ cũng đã có chương trình hành động để thực hiện nghị quyết này Trong các chỉ tiêu cụ thể của nền kinh tế cần đạt được cho giai đoạn 2020 - 2025 đã xác định cụ thể kinh tế số chiếm 20% tổng sản phẩm quốc nội (GDP), đến năm 2030 kinh tế số chiếm khoảng 30% GDP [3] tạp chí: Tạp chí Cộng sản, Những điểm mới về kinh tế trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng, link: Tạp chí Cộng sản (tapchicongsan.org.vn) truy cập 16h30 ngày 02/07/2023
Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa và hội nhập với bên ngoài vào đúng lúc thế giới chuyển từ đối đầu sang đối thoại, các quốc gia trên thế giới đều muốn ngồi vào bàn để đàm phán hơn là sử dụng những biện pháp đấu tranh, vì thế mà đã tạo nên một thị trường thống nhất Việt Nam cũng đã đạt được một số thành tựu Biểu 1 sau đây là sự minh họa
về sự gia tăng kim ngạch thương mại quốc tế của Việt Nam
Biểu 1: Kim ngạch xuất – nhập khẩu của Việt Nam trong những năm gần đây
1 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, NXB Chính trị quốc gia Sự Thật, Hà Nội, 2021
Trang 6Đơn vị: (triệu USD)
Nguồn: Tổng cục thống kê
1.4 Nhu cầu và lợi ích trong mối quan hệ kinh tế Việt – Nhật
Cùng điểm xuất phát như các nước khác ở Châu Á, với nền nông nghiệp lạc hậu, chỉ sau 50 năm Nhật Bản cũng đã vượt xa các nước khác mà vươn lên thành cường quốc kinh
tế của thế giới Những yếu tố phát triển về lao động, công nghệ và nổi trội nhất là phương thức quản lý của Nhật Bản nằm trong số những yếu tố tích cực nhất dẫn đến sự thành công của xứ sở Phù Tang Vì vậy mà khi quan hệ với Nhật Bản, Việt Nam cũng có thể học hỏi thêm nhiều kinh nghiệm và bài học quý giá để thực hiện quá trình Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
2 Các nhân tố đến từ Nhật Bản
2.1 Khái quát chung về kinh tế của Nhật Bản
Từ sau chiến tranh Thế giới thứ hai thì nền kinh tế Nhật đã trở thành hiện tượng thần
kỳ thu hút nhiều sự chú ý của các nhà kinh tế, các doanh nghiệp, cơ quan Chính phủ và nhiều tầng lớp khác nhau trên toàn thế giới
Sau khi chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, Nhật Bản đã lâm vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng và phải gánh chịu những hậu quả nặng nề do chiến tranh để: thiếu
Trang 7năng lượng, lạm phát kinh tế, phải đối diện với gánh nặng thất nghiệp,… Trước những khó khăn đó, Chính phủ Nhật đã tiến hành cải cách nền kinh tế để đưa Nhật thoát khỏi tình trạng khó khăn trên và tập trung vào vấn đề khôi phục kinh tế
Cùng với những tác động tích cực, đặc biệt là sự phát triển trong chính sách của Nỹ giành cho Nhật đã tạo cho thời kỳ tăng trưởng thần kỳ về nền kinh tế Nhật Bản trong giai đoạn 1956 – 1973 Từ một nước hoang tàn đổ nát sau chiến tranh nhưng sau 20 Nhật Bản
đã vươn lên thành một cường quốc kinh tế trong tư bản chủ nghĩa
2.2 Chính sách “Abenomics” trong thời Thủ tướng Shinzo Abe
Nhật Bản có nền kinh tế lớn thứ 3 trên thế giới theo GDP danh nghĩa nhưng lại đứng đầu về tỷ lệ nợ công Nhật Bản cũng phải vượt qua những khó khăn mà các nước phát triển
đề mắc phải: hệ thống thế chưa được hợp lý và nhiều vấn đề đã được đặt ra cần giải quyết cho Chính phủ Nhật Bản
Theo thống kê tình hình kinh tế của Nhật Bản trong năm 2013, nền kinh tế có sự tăng trưởng mạnh hơn nhiều so với các năm trước đây GDP quý I của nước này tăng 4,1%, quý
II đạt 3,8% so với cùng kỳ năm trước, Cho đến quý III kinh tế Nhật Bản vẫn tiếp tục tăng trưởng nhưng tăng chậm hơn so với quý trước Tỷ lệ tăng trưởng đạt 1,9% và tăng trưởng 0,5% so với quý trước [4] Qua đó có thể thấy được nền kinh tế Nhật đang được cải thiện đáng kể chủ yếu nhờ vào Thủ tướng Shinzo Abe lên nắm quyền vào tháng 12 năm 2012 và
đã xây dựng bộ ba chính sách chiến lược phát triển kinh tế “Abenimics”
Trang 8TIỂU KẾT CHƯƠNG I
Việt Nam và Nhật Bản là hai quốc gia có nhiều điểm giống nhau cũng như những điểm khiến cho mối quan hệ giữa hai nước được củng cố và ngày càng phát triển mạnh mẽ Với bối cảnh quốc tế và khu vực là yếu tố tác động đến từ phí ngoài thì “yếu tố Việt Nam và sự đổi mới nền kinh tế” là yếu tố bên trong giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự hợp tác và phát triển mối quan hệ kinh với Nhật Bản
“Yếu tố Nhật Bản” cũng là một trong những yếu tố bên trong không kém sự quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển về mối quan hệ kinh tế giữa hai nước Việt Nam – Nhật Bản
Trang 9CHƯƠNG II THỰC TRẠNG QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT NAM – NHẬT BẢN 2.1 Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản tại Việt Nam
Tháng 12/1987 Chính phủ Việt Nam thông qua Luật đầu tư nước ngoài, sau năm 1989 Nhật Bản quyết định đầu tư vào Việt Nam chỉ một dự án duy nhất; cho đến năm 1990 thì Nhật Bản chính thức trở lại đầu tư vào Việt Nam Năm 1992 được xem là năm đặc biệt bởi
vì sau khi Nhật Bản “tái tài trợ ODA” cho Việt Nam và kể từ đó cho đến ngày hôm nay, Nhật Bản đã đầu tư số lượng vốn lớn vào Việt Nam, góp phần nâng cao kỹ thuật công nghệ trong một vài lĩnh vực
Nhật Bản đầu tư trực tiếp vào Việt Nam trong nhiều năm qua thì cũng có lúc trải qua những khó khăn thăng trầm Nhiều hình thức đầu tư theo lĩnh vực cũng như theo vùng lãnh thổ đôi khi có những nét đặc trưng riêng Để có được một bức tranh về đầu tư trực tiếp của Nhật Bản, cần phải xem xét qua những đặc điểm của từng quá trình Những đặc điểm đó được thể hiện ở những khía cạnh sau:
a) Quy mô đầu tư
Nhật Bản hiện là nhà đầu tư nước ngoài lớn thứ 2 của Việt Nam, với tổng số hơn 4.000 dự án còn hiệu lực và có tổng số vốn đăng ký đạt trên 60 tỷ USD (11/2021), chiếm 15,8% tổng số vốn đầu tư trực tiếp ở nước ngoài (FDI) Theo Cục Đầu tư nước ngoài ( Bộ
kế hoạch và Đầu tư), thì dòng vốn của Nhật Bản vào Việt Nam đã tăng 54% trong vòng 11 tháng so với cùng kỳ năm 2020, chủ yếu là vốn đầu tư mới, chiếm 73,4% số vốn đầu tư; vốn đầu tư mở rộng chiếm 20,4% và vốn góp mua cổ phần chiếm khoảng 6,5%
b) Cơ cấu đầu tư
Mục đích của các nhà đầu tư đều nhằm tìm kiếm lợi nhuận, Nhật Bản cũng không nằm ngoài dự đoán này Để đạt được lợi nhuận cao, các nhà đầu tư không chỉ lựa chọn đầu thị trường đầu tư, khu vực đầu tư trong mỗi quốc gia mà còn lựa chọn nhiều loại hình thức đầu tư thuận lợi và hiệu quả nhất.Vì vậy mà việc phân tích FDI sẽ làm rõ được những ưu tiên trong chiến lược nhà đầu tư để thấy rõ được có phù hợp hay không của những chính sách phát triển cơ cấu của nước nhận được sự đầu tư
* Cơ cấu theo ngành
Nền kinh tế của Nhật Bản mang tính đặc thù là một nền kinh tế hướng ngoại với nền
cơ cấu công nghiệp hoàn chỉnh Vì thế mà DI của Nhật có mặt ở tất cả các lĩnh vực của một nền kinh tế của nước ta từ công nghiệp, nông, ngưn nghiệp, cho đến xây dựng và dịch
vụ
Trang 10Nhiều nhà đầu tư của Nhật Bản đã dầu tư vào 19 ngành lĩnh vực Công nghệ chế biến, chế tạo 40,6 tỷ USD, chiếm 64,6% tổng số vốn đăng ký; lĩnh vực sản xuất, phân phối điện, khí, nước, điều hòa (7,4 tỷ USD, chiếm 11,8%); về lĩnh vực Kinh doanh bất động sản (7 tỷ USD, chiếm 11.2%); còn lại là những lĩnh vực khác.[5]
* Cơ câu theo từng địa phương
Nhật Bản đã đầu tư các dự án tại 57 tỉnh thành của Việt Nam, đứng đầu là tỉnh Thanh Hóa với số vốn đầu tư trên 12 tỷ USD, đứng thứ hai là Hà Nội tổng số vốn đầu tư là 10,6
tỷ USD, Bình Dương (5,8 tỷ USD), Thành phố Hồ Chí Minh (5,1 tỷ USD)
Ngoài ra Nhật Bản còn đầu tư một số dự án lớn tại Việt Nam như là:
+ Dự án thành phố thông minh tại huyện Đông Anh, Hà Nội có tổng số vốn đã đăng ký khoảng 4,1 tỷ USD;
+ Dự án đường ống dẫn khí lô B – Ô Môn tỉnh Kiên Giang (1,3 tỷ USD);
+ Dự án khu đô thị Tokyu Bình Dương (1,2 tỷ USD);
+ Dự án Nhà máy nhiệt điện BOT Vân Phong 1 thuộc tỉnh Khánh Hòa (2,6 Tỷ USD)… Khu vực Kansai đã đầu tư vào Việt Nam khoảng 30% tổng đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam Cho đến năm 2021, có 784 dự án của vùng này (Osaka, Kyoto,Nara, Hyogo, Wakayama, Shiga) và một số tỉnh (Fukui, Toyama, Ishikawa) đã đầu tư vào Việt Nam tổng
số vốn hơn 9 tỷ USD [6]
2.2 Quan hệ thương mại Việt Nam – Nhật Bản
Việt Nam - Nhật Bản về vấn đề quan hệ thương mại đã được hình thành từ lâu, nhưng cho đến khi hai nước này chính thức thiết lập mối quan hệ ngoại giao và đặt đại sứ quán tại Thủ đô của mỗi nước vào ngày 21/09/1973 thì lúc đó quan hệ của hai nước mới có cơ
sở để xúc tiến Tuy vậy, nhưng do những biến động về tình hình quốc tế và tình hình khu vực không được thuận lợi, kể từ đó cho đến lúc kết thúc chiến tranh lạnh thì quan hệ Nhật Bản đã không được tiến triển tốt Sau đó, quan hệ Việt – Nhật đã có những bước phát triển mới, đặc biệt là sau khi Nhật Bản nối lại tài trợ ODA cho Việt Nam vào năm 1992 Đây có thể được xem là những nỗ lực đổi mới kinh tế và mở cửa của Việt Nam; đồng thời cũng là kết quả của tình hình khu vực và quốc tế diến biến theo chiều thuận lợi sau khi kết thúc chiến tranh lạnh
a) Mối quan hệ đối tác giữa Nhật Bản và Việt Nam
Trang 11Nhiều năm qua, Nhật Bản được xem là một trong nhóm 4 đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam Cuối năm 2019, kim ngạch thương mại song phương Việt – Nhật xấp xỉ 40
tỷ USD và chiếm 7,7% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước Trong đó xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật đạt tới 20,41 tỷ USD tăng 8,4% so với năm 2018, chiếm 7,7% cả nước Nước ta cũng đã nhập khẩu lượng hàng hóa từ Nhật với tổng giá trị 19,53 tỷ USD, tăng 2,5% so với năm ngoái
Cơ cấu 4 nhóm hàng "tỷ USD" trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường
Nhật Bản tính hết tháng 9/2020
Trong vài tháng đầu của năm 2020, dưới tác động của đại dịch Covid-19, việc xuất nhập khẩu giữa hai nước Việt Nam và Nhật Bản có sự trầm lắng, đặc biệt là xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản bị giảm xuống Tuy nhiên, tình hình dịch bệnh đã được kiểm soát
ở Việt Nam và chiều hướng tăng trưởng hoạt động xuất nhập khẩu khả quan của nước ta Cho đến tháng 8/2022, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam với Nhật Bản đạt tới 31,8 tỷ USD, tăng 13,9%; trong đó, Việt Nam cũng đã xuất khẩu sang Nhật Bản đạt 15,8
tỷ USD Các nhóm hàng xuất khẩu chính gồm: dệt may, thủy sản, máy vi tính, sắt thép các loại, phụ tùng ô tô,… Việt Nam cũng đã nhập khẩu đạt 16 tỷ USD, tăng 9,6% Các nhóm hàng nhập khẩu chính bao gồm: sản phẩm điện tử và linh kiện, vải các loại, sản phẩm hóa chất, sản phẩm từ sắt thép,…