1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận Tăng cường quan hệ liên kết giữa khoa học và sản xuất của hộ gia đình nông dân nước ta

43 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tăng Cường Quan Hệ Liên Kết Giữa Khoa Học Và Sản Xuất Của Hộ Gia Đình Nông Dân Nước Ta
Người hướng dẫn Thầy Giáo Vũ Duy Minh, Nguyễn Đình Hợi
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 51,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG ISự cần thiết phải tăng cường quan hệ liên kết giữa khoa học và sản xuất của hộ gia đình nông dân 1.1 Thực chất quan hệ liên kết giữa khoa học và sản xuất của hộ gia đình nông dân

Trang 1

Lời mở đầu

Việt Nam _từ một nước có nền nông nghiệp lạc hậu,nhiều nơicòn đói kém nhưng nhờ áp dụng những thành tựu khoa học - côngnghệ, lần đầu tiên nền kinh tế vượt "cửa ải" lương thực và bắt đầu

"cất cánh" _ sản lượng lương thực liên tục tăng, trở thành nướcxuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới_ Tuy nhiên, sản xuất nôngnghiệp còn bấp bênh do ảnh hưởng của nhiều nhân tố như điềukiện tự nhiên, giống cây trồng, vật nuôi, việc ứng dụng nhữngthành tựu khoa học vào sản xuất của các hộ gia đình nông dân cònnhiều khoảng cách Do vậy, cần phải tăng cường quan hệ liên kếtgiữa khoa học và sản xuất để khoa học thực sự là động lực thúcđẩy quá trình CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn Việc ứng dụngnhanh chóng các tiến bộ khoa học công nghệ vào nông nghiệp có

ý nghĩa trực tiếp và to lớn trong việc nâng cao năng suất câytrồng, năng suất vật nuôi và tăng sức cạnh tranh hàng nông sảnViệt Nam ở thị trường trong nước và quốc tế

Từ những nhận định trên tác giả quyết định lựa chọn đềtài: "Tăng cường quan hệ liên kết giữa khoa học và sản xuất của

hộ gia đình nông dân nước ta"

Nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích làm rõ cơ sở lý luận

về mối quan hệ liên kết giữa khoa học và sản xuất ,thực chất củamối quan hệ này ,từ đó đánh giá quá trình thực hiện và đưa ra giảipháp

Theo mục đích trên , đề tài bao gồm những nội dung sau:-Sự cần thiết phải tăng cường quan hệ liên kết giữa khoa học

và sản xuất của hộ gia đình nông dân

-Quá trình thực hiện liên kết giữa khoa học và sản xuất của

hộ gia đình nông dân

Trang 2

-Một số giải pháp tăng cường liên kết giữa khoa học và sảnxuất của hộ gia đình nông dân

Trong quá trình thực hiện đề tài, do tài liệu và trình độnghiên cứu còn nhiều hạn chế nên bài viết không tránh khỏi nhữngthiếu sót, em rất mong được sự góp ý của các thầy cô giáo để bàiviết được hoàn chỉnh hơn

Sau cùng, em xin phép được dành những lời trân trọng nhấtbày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới thầy giáo Vũ Duy Minh, Nguyễn ĐìnhHợi đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ em hoàn thành đề tài này

Trang 3

CHƯƠNG I

Sự cần thiết phải tăng cường quan hệ liên kết giữa khoa

học và sản xuất của hộ gia đình nông dân

1.1 Thực chất quan hệ liên kết giữa khoa học và sản xuất của hộ gia đình nông dân

1.1.1 Khái niệm

Liên kết kinh tế là tổ chức phối hợp hoạt động kinh tế giữacác chủ thể kinh tế với nhau để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinhdoanh nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho mỗi bên thamgia

Chủ thể tham gia liên kết giữa khoa học và sản xuất là cácnhà khoa học và hộ gia đình nông dân

Nhà khoa học gồm các cán bộ nghiên cứu của các viện, cáctrung tâm nghiên cứu, các cán bộ khuyến nông

Hộ gia đình nông dân là những người trực tiếp làm ra sảnphẩm nông nghiệp Họ chịu trách nhiệm trả chi phí cho các sảnphẩm khoa học được ứng dụng và thực hiện các cam kết trong hợpđồng kỹ thuật với các nhà khoa học Bên cạnh đó hộ gia đình nôngdân phải thực hiện các qui định về sản xuất, chế biến và tiêu thụcũng như các cam kết tín dụng với ngân hàng Hộ gia đình nôngdân là đơn vị kinh tế tự chủ trong nền kinh tế thị trường, là đơn vịkinh tế cơ sở trong nền kinh tế hàng hoá và là đơn vị sản xuất quy

mô nhỏ có hiệu quả

1.1.2 Thực chất của quan hệ liên kết kinh tế

Tiền đề của quá trình liên kết là sự phát triển của quá trìnhphân công lao động xã hội, chuyên môn hoá sản xuất kinh doanh.Quá trình liên kết kinh tế xuất hiện trong nền sản xuất hàng hoá,

Trang 4

nền kinh tế thị trường, khởi thuỷ của nó là quan hệ kinh tế, quan

hệ trao đổi, mua - bán sản phẩm, hàng hoá trên thị trường, vậnđộng phát triển qua nhiều nấc thang trình độ cố kết bền vững củacác quan hệ kinh tế giữa các doanh nghiệp Quá trình liên kết kinh

tế giữa các doanh nghiệp diễn ra trước hết trong lưu thông, traođổi sản phẩm Nó được đánh dấu bởi sự hợp tác trao đổi sản phẩmgiữa các doanh nghiệp Sự mua - bán trao đổi hàng hoá không phảidiễn ra một cách ngẫu nhiên, nhất thời giữa các doanh nghiệp mà

đã trở nên thường xuyên liên tục, có hợp đồng kế hoạch từ trước

và ổn định bạn hàng trong một thời gian tương đối dài

Như vậy ,quan hệ kinh tế giữa các doanh nghiệp đã chuyểnbiến về chất, nâng quan hệ lên một trình độ cao hơn ,thườngxuyên, ổn định và cố kết hơn, có sự thoả thuận hợp tác lâu dài vàbền vững hơn

Quá trình đó được phát triển lên một giai đoạn cao hơn ,tức

là sự hợp tác diễn ra ngay trong quá trình sản xuất Giai đoạn nàycũng được phát triển qua nhiều nấc thang của nó Bắt đầu chỉ làthoả thuận phân công chuyên môn hoá sản xuất sản phẩm, chitiết, bán thành phẩm hoặc kinh doanh tiêu thụ sản phẩm cung ứngvật tư thiết bị giữa các doanh nghiệp với nhau hoặc là cùng gópvốn để thực hiện một dự án, một nhiệm vụ chung cho các doanhnghiệp như đầu tư vào nghiên cứu khoa học, công nghệ, áp dụngtiến bộ khoa học-kỹ thuật, tìm nguồn nguyên liệu mới, sản xuấtsản phẩm mới, khai thác thị trường, nguồn tài nguyên và lao độngdồi dào Qúa trình liên kết kinh tế ngày càng phát triển lên nhữnggiai đoạn cao hơn

Trang 5

Tronghoạt động liên kết kinh tế có thể thiết lập mối quan hệliên kết ở tất cả các khâu của quá trình tái sản xuất mở rộng, từkhâu chuẩn bị các yếu tố sản xuất đến sản xuất và phục vụ sảnxuất, nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ, đào tạo, bảo vệtài nguyên môi trường, khai thác thị trường ,thúc đẩy quá trình lưuthông tiêu thụ sản phẩm Hoạt động liên kết kinh tế có thể diễn

ra ở phạm vi không gian hẹp như trong một địa phương, một vùng

và cũng có thể diễn ra ở phạm vi không gian rộng như thông quahình thức hợp đồng liên kết giữa các chủ thể kinh tế độc lập cũng

có thể thực hiện thông qua việc hình thành một loại hình tổ chứcmới, làm nhiệm vụ điều phối hoạt động của các bên tham gia Khiquá trình liên kết đạt tới việc sát nhập hình thành nên một tổ chức,một doanh nghiệp mới lớn hơn đó là sự biểu hiện của tập trung sảnxuất Có thể nói thực chất của quá trình liên kết kinh tế là quátrình xã hội hoá về phương diện kinh tế nền sản xuất xã hội Sựphát triển của liên kết kinh tế làm cho lực lượng sản xuất ngàycàng cao, làm cho các khu vực kinh tế ngày càng xích lại gầnnhau, gắn bó, cấu kết với nhau hơn

Động cơ và mục đích chủ yếu của liên kết kinh tế là nhằmđạt tới lợi nhuận tối đa và ổn định, là nhằm tăng cường sức cạnhtranh trên thị trường, ngày càng mở rộng phạm vi Lợi ích kinh tế

là sợi dây ,là chất nhưạ làm gắn bó các doanh nghiệp, các chủ thểliên kết lại với nhau Cạnh tranh là nhân tố khách quan thúc đẩycác chủ thể "tự nguyện bắt buộc" liên kết lại với nhau trên cơ sởđảm bảo lợi ích sống còn trên thị trường Để đạt tới lợi nhuận tối

đa và ổn định giữa các thành viên, hoạt động liên kết kinh tế lànhằm phát triển, tìm kiếm khai thác ngày càng nhiều nguồnnguyên liệu cho sản xuất, đa dạng hoá mặt hàng, tăng nhanh khốilượng và chất lượng sản phẩm , rút ngắn và đẩy nhanh quá trìnhlưu thông, tiêu thụ sản phẩm, mở rộng phát triển thị trường, tức là

Trang 6

nâng cao năng suất lao động, tồn tại , phát triển và mang lại hiệuquả kinh tế ngày càng cao.

Liên kết kinh tế là một quá trình vận động phát triển tựnhiên, tuỳ thuộc trình độ phạm vi của phân công lao động vàchuyên môn hóa sản xuất kinh doanh, tuỳ thuộc vào quá trình vậnđộng phát triển của các quan hệ kinh tế giữa các doanh nghiệp,vào lợi ích của các bên tham gia liên kết, vào môi trường cạnhtranh Liên kết kinh tế còn phụ thuộc vào mối quan hệ nội tại giữacác doanh nghiệp cũng như giữa các bộ phận,các khâu của quátrình tái sản xuất xã hội, phụ thuộc vào sự "thử thách" của quátrình quan hệ, vào trình độ công nghệ quản lý, cũng như năng lựcđiều hành của đội ngũ cán bộ quản lý Không thể áp dụng vềphương diện tổ chức từ bên ngoài, hoặc từ bên trên bất kỳ mộthình thức tổ chức liên kết kinh tế theo ý muốn chủ quan

Như vậy, về bản chất hay thực chất các mối quan hệ liên kếtkinh tế đều là những quan hệ kinh tế Nhưng những quan hệ kinh

tế đó phải phản ánh sự phối hợp mang tính cộng đồng trách nhiệmcủa các chủ thể kinh tế liên quan Liên kết kinh tế bắt đầu đượchình thành trong quá trình lưu thông hàng hoá ,trao đổi sản phẩmcủa các doanh nghiệp Khi nền kinh tế hàng hoá phát triển, đòi hỏiquá trình liên kết ở phạm vi rộng hơn, không chỉ diễn ra trong mộtdoanh nghiệp, trong một lĩnh vực, trong một ngành mà diễn ra ởtất cả các lĩnh vực và có sự liên kết giữa các ngành với nhau Trongnông nghiệp cũng vậy, muốn tạo ra sản phẩm có sức cạnh tranhtrên thị trường đòi hỏi phải có sự liên kết giữa khoa học và sảnxuất

Trang 7

Từ những lý luận trên có thể khẳng định rằng: thực chất quan

hệ liên kết giữa khoa học và sản xuất của hộ gia đình nông dân làgắn bó khoa học với sản xuất, gắn nghiên cứu với ứng dụng Trongđiều kiện chuyển nông nghiệp, nông thôn sang phát triển hànghoá thì việc ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sảnxuất sẽ tạo khả năng cho các đơn vị sản xuất ra những sản phẩm

có chất lượng cao, có sức cạnh tranh trên thị trường trong nước vàquốc tế Mặt khác, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sảnxuất sẽ đảm bảo sử dụng triệt để, tiết kiệm các nguồn lực trongnông nghiệp, nông thôn

1.2 Sự cần thiết phải tăng cường quan hệ liên kết giữa khoa học và sản xuất của hộ gia đình nông dân

Liên kết kinh tế trong các ngành sản xuất kinh doanh là một tất yếu khách quan :

-Do yêu cầu bảo đảm tính thống nhất của quá trình sản xuất

xã hội

Tái sản xuất xã hội mở rộng là một quá trình thống nhất,nhưng do tác động của sự phát triển phân công lao động xã hội vàlực lượng sản xuất làm cho quá trình đó bị phân chia làm nhiềukhâu độc lập tách rời nhau Để đảm bảo tính thống nhất của quátrình tái sản xuất xã hội đòi hỏi phải kết hợp các khâu Có nhiềucách để thực hiện sự kết hợp trên, nhưng sự kết hợp thông quaquan hệ liên kết kinh tế thường mang tính chặt chẽ và đảm bảohiệu quả kinh tế cao hơn

- Do tác động của quy luật cạnh tranh và quy luật tối đa hoálợi nhuận Cạnh tranh để dành ưu thế trong sản xuất và tiêu thụsản phẩm là qui luật vốn có của các doanh nghiệp trong nền kinh

tế phát triển theo cơ chế thị trường Liên kết kinh tế là hoạt động

Trang 8

có quan hệ mật thiết, gắn bó với cạnh tranh Các doanh nghiệpphát triển quan hệ liên kết kinh tế để tăng cường sức mạnh trongcạnh tranh với các đối thủ Cạnh tranh thúc đẩy liên kết kinh tế.Trong sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp đều mong đạt đượctối đa lợi nhuận trong khả năng vốn có của mình Hoạt động liênkết kinh tế có thể cho phép doanh nghiệp bù đắp chỗ yếu Khaithác điểm mạnh lẫn nhau để thực hiện những hợp đồng kinhdoanh mà tự mình không thể thực hiện được, hoặc thực hiệnnhanh chóng và có hiệu quả hơn.

- Do tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệhiện đại

Trong mấy thập kỷ gần đây, cuộc cách mạng khoa học vàcông nghệ có bước phát triển mới sâu rộng chưa từng có, trực tiếptác động vào mỗi ngành kinh tế và đời sống xã hội của các quốcgia trên thế giới Các doanh nghiệp phải tăng cường liên kết kinh

tế để nắm bắt ứng dụng nhanh các thành tựu mới của tiến bộ khoahọc và công nghệ nhằm tăng cường khả năng sản xuất sản phẩmmới đáp ứng kịp thời mọi nhu cầu kinh tế xã hội

Thực tiễn phát triển kinh tế nói chung và nông nghiệp nôngthôn nói riêng của các nước, đặc biệt là những nước có nền kinh tếhiện đại đều khẳng định vai trò quan trọng của tiến bộ khoa họccông nghệ Các cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã làm thayđổi vai trò bốn yếu truyền thống của lợi thế cạnh tranh Hiện nay,yếu tố trí tuệ (kỹ năng, công nghệ) có tính quyết định nhất còn cácyếu tố tài nguyên, vốn, sức lao động thì ngày càng giảm vai trò,trở thành thứ yếu Kinh nghiệm cho thấy có những nước giầu tàinguyên nhưng không phát triển vì không có nguồn năng lực, không

có năng lực nội sinh về khoa học công nghệ Trái lại, có nhữngnước không có tài nguyên nhưng biết phát huy nguồn nhân lực,

Trang 9

vận dụng tốt các thành tựu khoa học công nghệ thế giới đã pháttriển rất nhanh

Trong điều kiện nước ta, khoa học công nghệ là nội dungthen chốt trong mọi hoạt động của tất cả các ngành, là nhân tốchủ yếu trúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế Ngày nay khoa học côngnghệ dã xâm nhập vào tất cả các lĩnh vực khác nhau của nền kinh

tế quốc dân Trong nông nghiệp nông thôn nội dung khoa họccông nghệ cũng rất phong phú và đa dạng Tuy nhiên, nhiệm vụchủ yếu phát triển khoa học công nghệ là nhằm thực hiện côngnghiệp hoá và hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn

Khi khoa học công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trựctiếp và ngày càng tiến bộ không ngừng, thì sự liên kết giữa khoahọc và sản xuất là một trong những điều kiện quan trọng để pháttriển kinh tế Cuộc cạnh tranh trên thương trường hiện nay đặcbiệt ở thị trường quốc tế đòi hỏi chỉ có những sản phẩm có hàmlượng khoa học cao mới tiêu thụ được và mới thu được hiệu quả.Trong nông nghiệp, muốn sản phẩm có sức cạnh tranh trên thịtrường thế giới, đòi hỏi sự cố gắng nỗ lực của quá trình liên kếtgiữa khoa học và sản xuất nhằm nâng cao chất lượng, chủng loại,năng suất cây trồng, mỗi sản phẩm làm ra đều chứa đựng hàmlượng khoa học ngày càng cao trong đó ở tất cả các công đoạncủa quá trình sản xuất và tiêu thụ đều có sự liên kết giữa cơ quankhoa học với người sản xuất kinh doanh Bắt đầu từ khâu tuyểntrọn lai tạo, nhân giống, đến quy trình kỹ thuật gieo trồng, chămsóc, thu hoạch, chế biến, vận chuyển, bảo quản, tiêu thụ, tất cảđều có sự liên kết chặt chẽ với cơ quan khoa học, các nhà khoahọc Nếu không sẽ không có bất kỳ một kg sản phẩm nào tiêu thụđược trên thị trường thế giới

Mặt khác, do năng suất lao động trong nông nghiệp phụthuộc rất lớn vào việc áp dụng những kỹ thuật mới, tiên tiến nhưng

Trang 10

vì nhiều lý do như thiếu vốn, thiếu tri thức Mà kinh tế hộ rất hạnchế trong việc tiếp nhận kỹ thuật mới Điều này có nghĩa là , sựphát triển của kinh tế hộ đến một chừng mực nào đó thì tự nó sẽ

có nhu cầu hợp tác, xuất phát từ đòi hỏi tất yếu của việc phát triểnlực lượng sản xuất Với vai trò là đơn vị kinh tế cơ sở tiếp nhậnkhoa học kỹ thuật, đổi mới công nghệ, nâng cao sản xuất và hiệuquả kinh tế, điều đó buộc các hộ gia đình tìm mọi biện pháp đểtăng năng suất lao động và cạnh tranh thắng lợi Để đạt được điềunày, một mặt các chủ hộ phải sử dụng hiệu quả những kinhnghiệm sản xuất lâu đời, cha truyền con nối, mặt khác phải ápdụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào sảnxuất kinh doanh ở đây động cơ lợi nhuận và lợi ích kinh tế là độnglực thúc đẩy hộ gia đình áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vàosản xuất Nó là một quá trình tự giác gắn với lợi ích thiết thực từng

hộ gia đình, khác với việc áp dụng kỹ thuật, công nghệ trong chế

độ kinh tế của hợp tác xã trước đây Thông qua việc áp dụng cáctiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất kinh doanh ở từng hộcũng đồng thời diễn ra quá trình sàng lọc và cải tiến kỹ thuật làmcho nó thực sự thích ứng và mang lại hiệu quả cao Như vậy, kinh

tế hộ gia đình vừa là nơi lưu giữ những kinh nghiệm truyền thống,vừa là nơi tiếp nhận, phát triển hoàn thiện thêm những công nghệmới _ là điều kiện vững chắc đảm bảo cho việc nâng cao năng suấtlao động và hiệu quả kinh doanh của hộ gia đình nông dân

Cần phải tăng cường quan hệ liên kết giữa khoa học và sảnxuất bởi vì có liên kết chặt chẽ mới nâng cao khả năng cạnh tranhnông sản, làm cho kết quả nghiên cứu khoa học gắn với thực tiễn.Nhà khoa học cần liên kết với nông dân trong việc xác định cácnghiên cứu ưu tiên , chuyển giao các kỹ thuật tiên tiến vào sảnxuất Các nhà khoa học sẽ hỗ trợ nông dân nâng cao năng suất vàchất lượng sản phẩm Ngược lại, họ sẽ có thị trường để bán các

Trang 11

sản phẩm khoa học, công nghệ của họ và áp dụng các công trìnhnghiên cứu ấy vào sản xuất Các hộ gia đình nông dân cần nhàkhoa học cung cấp giống, kỹ thuật quy trình sản xuất bảo quảnchế biến đảm bảo sản xuất ra được nông sản có chất lượng, có sứccạch tranh trên thị trường Như vậy, Nhà nông là người làm ra sảnphẩm, song để nâng cao chất lượng, số lượng, chủng loại các sảnphẩm phải dựa vào các nhà khoa học

Nhà khoa học cung cấp giống, kỹ thuật, quy trình sảnxuất, bảo quản, chế biến đảm bảo cho nhà nông sản xuất ra đượcnông sản có chất lượng các nhà khoa học có vai trò rất lớn trongviệc giúp nông dân kỹ thuật tiên tiến để nâng cao năng suất chấtlượng nông sản, tăng giá bán và tăng sức cạnh tranh của nông sảnhàng hoá, giảm chi phí sản xuất Mặt khác do xuất phát từ thựctiễn ở nước ta hiện nay, quá trình nghiên cứu và ứng dụng khônggắn kết với nhau, có khi còn có khoảng cách rất lớn, nhiều kết quảnghiên cứu đã không ứng dụng được trong thực tiễn hoặc đượcứng dụng nhưng không mang lại kết quả cao Do đó đòi hỏi phảităng cường quan hệ liên kết

Trang 12

Chương ii

quá trình thực hiện liên kết giữa khoa học và sản xuất của hộ gia đình nông dân

2.1 Chủ trương ,quan điểm định hướng

Nghị quết hội nghị Trung ương II (khoá VIII) khẳngđịnh :"cùng với giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ là quốc sáchhàng đầu là động lực phát triển kinh tế -xã hội" là "nội dung thenchốt trong mọi hoạt động của tất cả các ngành, các cấp, là nhân tốchủ yếu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, củng cố quốc phòng - anninh "

Trong thời đại ngày nay, muốn phát triển khoa học côngnghệ phải biết phát huy năng lực nội sinh kết hợp tiếp thu thànhtựu khoa học thế giới Tuy nhiên, đối với nước ta là nước đi sau vềphát triển kinh tế thì một mặt phải nhanh chóng phát triển nănglực nội sinh, mặt khác phải tranh thủ những thành tựu mới nhấtcủa cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại

Phát triển khoa học công nghệ phải phục vụ cho sự nghiệpcông nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, phải thayđổi phong tục tập quán lạc hậu, phải nhanh chóng ứng dụngnhững thành tựu mới nhất về khoa học công nghệ, làm dịchchuyển cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng sảnxuất hàng hoá có hiệu quả

Trong điều kiện nông nghiệp , nông thôn nước ta hiện nayphương hướng phát triển khoa học công nghệ cần kết hợp bước đituần tự với đi thẳng vào hiện đại (sử dụng công nghệ tiên tiến) Kếthợp giữa việc áp dụng những thành tựu của cách mạnh khoa họccông nghệ thế giới với kinh nghiệm sản xuất của nông dân Tăngcường đầu tư xây dựng các cơ sở nghiên cứu thử nghiệm và sảnxuất giống mới

Trang 13

Bên cạnh đó cần xây dựng mối quan hệ bền chặt giữa cácnhà doanh nghiệp, nông dân, khoa học, nhà nước Đây là mối quan

hệ tạo nên sức mạnh của sản xuất nông nghiệp hàng hoá: có đủvốn để sản xuất, có công nghệ cao, có chất lượng sản phẩm tốt giáthành hạ và có cơ chế pháp lý bảo đảm Mối quan hệ này phảinâng lên bằng các hợp đồng kinh tế và mọi hành vi vi phạm phảiđược sử lý bằng pháp luật

Để thực hiện tốt hơn nữa và phát huy mạnh mẽ hơn vai tròcủa khoa học công nghệ thì cần phải chú ý tập trung vào các vấn

đề sau:

Khai thác triệt để các nguồn của đổi mới công nghệ nôngnghiệp có liên quan, tất cả các khâu của quá trình sản xuất và tiêuthụ sản phẩm, đến mọi loại cây trồng vật nuôi, mọi ngành nghề ởnông thôn Viện nghiên cứu ứng dụng tiến bộ kỹ thuật phải đặcbiệt chú trọng đến sản phẩm nhiệt đới ngoài lúa gạo như là chè, càphê, cao su Đặc biệt là khâu chế biến, bảo quản sau thu hoạchnhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh trênthị trường quốc tế

Đồng thời, cần tập trung phát triển công nghệ sinh họctrong lĩnh vực nông nghiệp như chọn tạo giống và công nghệ sảnxuất giống cây trồng vật nuôi Giống là tư liệu sản xuất có hàmlượng chất xám cao nhất trong nông nghiệp, do vậy quan tâmtuyển chọn giống từ nguồn gốc bản địa, tiếp tục nghiên cứu chọntạo ra các giống cây trồng có nhiều đặc tính di truyền tốt cũng nhưnhập nội giống cây trồng vật nuôi quý của thế giới Việc lai tạo,chọn lọc giống cây trồng theo ba hướng: giống năng suất cao chấtlượng tốt, giống chống chịu sâu bệnh, giống cho các vùng khókhăn Nghiên cứu kỹ thuật chăn nuôi tiên tiến nhất là kỹ thuật vềsinh sản, các công nghệ chăn nuôi đạt hiệu quả kinh tế cao Đểhạn chế tổn thất sau thu hoạch, nâng cao giá trị nông sản, tăng

Trang 14

khả năng cạnh tranh cần phải có công nghệ bảo quản rau quảtươi, tăng tỉ lệ nông sản được chế biến

2.2 Đánh giá kết quả quá trình thực hiện liên kết giữa khoa học và sản xuất

2.2.1.Hình thức liên kết và cách thức thực hiện

Các nhà khoa học và các tổ chức có vai trò rất lớn trong việcgiúp nông dân kỹ thuật tiên tiến để nâng cao năng suất và chấtlượng nông sản, tăng giá bán và tăng sức cạnh tranh của nông sảnhàng hoá, giảm chi phí sản xuất

Các đơn vị khoa học tại địa phương (sở nông nghiệp, trungtâm khuyến nông, chi cục bảo vệ thực vật ,chi cục thú Y ) và các

cơ quan khoa học Trung ương (các viện,trường,trung tâm khuyếnnông của bộ ) chuyển giao kỹ thuật tiên tiến cho nông dân

Các cơ quan khoa học kết hợp ký kết hợp đồng tay ba vớidoanh nghiệp và nông dân, chịu trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuậtcho nông dân sản xuất theo hợp đồng

Các hộ nông dân có thể hợp tác với các trung tâm việnnghiên cứu, các công ty dịch vụ, chế biến kinh doanh nông sản.Hình thức hợp tác này có thể thực hiện thông qua các hợp đồngkinh tế hoặc dưới dạng công ty cổ phần

Các cách thức thực hiện :

Trang 15

Để sử dụng có hiệu quả giống cây, con và các vật tư kỹ thuậtnông nghiệp, khoa học có ý nghĩa hết sức quan trọng Liên kếtgiữa khoa học và sản xuất không chỉ có tác dụng giúp nông dân ápdụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất mà còn biết sử dụng các yếu

tố kỹ thuật có hiệu quả, làm giảm giá thành sản xuất, tạo ra nôngphẩm an toàn cung cấp cho xã hội.Thật là khiếm khuyết và kémhiệu quả nếu doanh nghiệp chỉ bán giống tốt, vật tư kỹ thuật chonông dân theo kiểu "mua đứt, bán đoạn" Các tổ chức khuyếnnông phi lợi nhuận của nhà nước, của các viện, trường và các tổchức đoàn thể ( hội nghề nghiệp, hội nông dân, đoàn thanh niên,hội phụ nữ, hội cựu chiến binh ) cần tạo niềm tin ở nông dân bằnghiệu quả của khuyến nông đem lại Nói cách khác phải gắn lợi íchkinh tế đối với các cán bộ khoa học cơ sở, những người hàng ngàytiếp cận với nông dân Để tiêu thụ được giống,vật tư nông nghiệp,thu hồi được công nợ và nhất là để tạo nguồn hàng ổn định cungcấp nông sản nguyên liệu cho chế, biến - tiêu thụ, đáp ứng yêucầu của thị trường trong và ngòai nước, đỏi hòi các doanh nghiệpphải liên kết chặt chẽ giữa khoa học và sản xuất, bằng cách nhưthực hiện hợp đồng giữa doanh nghiệp và nhà khoa học, hợp đồngchuyển giao công nghệ đến từng hộ gia đình nông dân Thôngqua các tổ chức khuyến nông, hội phụ nữ, các tổ chức quốc tế

Ví dụ : Năm 2002, công ty Viễn Phát ở thành phố Hồ Chí Minh

đã ký hợp đồng sản xuất gạo an toàn với hợp tác xã Phú Thọ,huyện Phú Tân, tỉnh An Giang đã đầu tư cho nông dân phân bónhữu cơ sinh học và thuốc trừ sâu bệnh sinh học, cán bộ khuyếnnông của công ty đã mua của nông dân với giá 2200đ /kg, cungcấp gần 200 tấn gạo siêu sạch chất lượng cao cho thị trường, có lợinhuận khoảng 10triệu đồng /ha lúa cho nông dân, bằng hai lần sovới quy trình canh tác hoá học trước đây Hoặc cuối năm 2002,công ty dịch vụ bảo vệ thực vật tỉnh An giang đã ký hợp đồng

Trang 16

trồng rau an toàn với 105 hộ dân ở xã Tân Quý Tây, huyện BìnhChánh, thành phố Hồ Chí Minh Công ty cử cán bộ khuyến nôngxuống tập huấn cho các hộ nông dân quy trình kỹ thuật trồng rau

an toàn, cung cấp bộ thuốc thực vật dùng cho sản xuất rau antoàn Nhờ có hoạt động khuyến nông nên nông dân sản xuất đượcnông phẩm an toàn với giá thành hạ, làm tăng lợi nhuận, đồng thờidoanh nghiêp mua được nông phẩm chất lượng cao, an toàn, vớikhối lượng ổn định để chế biến, tiêu thụ trên thị trường Đôi bênđều có lợi là điều kiện để phát triển bền vững lâu dài và hiệu quả

Có thể nói khuyến nông là một quá trình dịch vụ thông tintruyền bá kiến thức và đào tạo tay nghề cho nông dân ,giúp họ cókhả năng tự giải quyết các vấn đề đặt ra trong sản xuất kinhdoanh và đời sống xã hội Trong cơ chế mới hộ nông dân là đơn vịkinh tế tự chủ, khuyến nông được coi là biện pháp cấp bách và lâudài có tác động sâu sắc đến quá trình phát triển sản xuất hàng hoácủa nông dân và xây dựng nông thôn mới

Các hình thức khuyến nông có thể là: xây dựng các mô hìnhtrình diễn, tổ chức cho nông dân đến thăm quan , trao đổi kinhnghiệm với những nông dân sản xuất giỏi, truyền bá kiến thức mớitrên các phương tiện thông tin đại chúng; tổ chức các hội nghị đầu

bờ, trong trại chăn nuôi theo phương châm: "trăm nghe khôngbằng một thấy"; tổ chức các câu lạc bộ nghề nghiệp và câu lạc bộnông dân sản xuất giỏi

Như vậy, liên kết giữa khoa học và sản xuất là cầu nối haichiều giữa thực tế sản xuất của hộ gia đình nông dân với nghiêncứu khoa học, tạo ra tiến bộ kỹ thuật của các nhà khoa học, củacác viện, các trường

2.2.2 Thành tựu

Trang 17

Trong hàng chục năm qua nông nghiệp, nông thôn nước ta

đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong việc nghiên cứu vàứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào phục vụ sản xuất vàđời sống Các viện nghiên cứu khoa học - kỹ thuật nông nghiệp đãnghiên cứu lai tạo, thuần chủng nhiều giống cây trồng vật nuôi cónăng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt và thích nghi với điều kiệnsinh thái của từng vùng, từng địa phương Công nghệ sinh học đãgóp phần quan trọng trong việc sản xuất các loại phân bón, thuốctrừ sâu không gây ô nhiễm môi trường, trong việc nâng cao chấtlượng sản phẩm chế biến, trong việc bảo quản sản phẩm Nhiềuloại máy móc thiết bị hiện đại được nghiên cứu và sản xuất phục

vụ nhu cầu của nông dân phù hợp với điều kiện từng vùng ,từngloại cây trồng, vật nuôi Việc nhập khẩu công nghệ đã có sự quantâm đúng mức tới thị trường trong nước

Hoạt động khoa học công nghệ đã gắn bó hơn với sản xuất

và đời sống của nông dân Nhiều tiến bộ khoa học công nghệ đãđưa vào ứng dụng góp phần quan trọng vào việc nâng cao năngsuất, chất lượng hiệu quả trong nông nghiệp, nông thôn

Cơ sở vật chất kỹ thuật của các viện nghiên cứu, các trungtâm khoa học và công nghệ được tăng cường một bước, có nhiềucải thiện, góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu

Đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ trong nông nghiệp nôngthôn đã có sự trưởng thành và phát huy khả năng trong công tácnghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ Hệ thống cáctrường đại học về nông-lâm-ngư nghiệp, các viện nghiên cứu khoahọc nông nghiệp, các trường dạy nghề đã góp phần quan trọngvào việc đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ cho nôngnghiệp, nông thôn

Mặt khác, nhờ áp dụng tiến bộ khoa học - công nghệ mànăng suất cây trồng, năng suất vật nuôi, năng suất lao động đã

Trang 18

tăng lên, nông sản làm ra nhiều với chất lượng tốt hơn, giá thànhthấp, giúp cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nông sảnnâng cao sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế

Việt Nam từ một nước có nền nông nghiệp lạc hậu nhiều nơicòn đói kém nhưng nhờ thuỷ lợi hoá, hoá học hoá, cơ giới hoá, điệnkhí hoá, áp dụng các thành tựu công nghệ sinh học, chế biến, bảoquản, vận chuyển sản phẩm Lần đầu tiên nền kinh tế vượt "cửaải" lương thực, số hộ nông dân đói nghèo giảm nhanh (giảm hơn50% trong giai đoạn 1990-1998); Nền kinh tế bắt đầu "cất cánh"và

đã trở thành nước xúât khẩu nhiều mặt hàng nông sản như gạo, càphê, hạt điều Hệ thống đê, mương, cống thóat nước phục vụ chocông tác tưới tiêu được chú trọng hơn, nhờ vậy tránh được tìnhtrạng khô cằn khi đến mùa hạn cũng như tránh được tình trạngngập úng khi đến mùa mưa Nhiều giống mới (giống vật nuôi,câytrồng), thuốc trừ sâu, phân bón được sử dụng phục vụ cho sảnxuất Do vậy nền nông nghiệp đã đạt được nhiều thành tựu, gópphần phát triển kinh tế đất nước

Biểu hiện: tốc độ tăng trưởng nông nghiệp hàng năm đạt4,5% Trên giác độ sản xuất lương thực, tốc độ tăng trưởng bìnhquân đạt 5,2%/năm Việt Nam coi trọng việc phát triển nghiên cứu

và sản xuất lúa lai cho năng suất cao hơn lúa thuần từ 1,0-1,5 tấn/

ha Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn đã chủ trương pháttriển việc nghiên cứu và áp dụng trồng lúa lai của Việt Nam Đếnnay diện tích trồng lúa lai đã lên tới 340000 ha so với 100 ha năm

1991 Nhờ mở rộng lúa lai ở miền núi, diện tích lúa nương ngàycàng giảm Trung bình cứ trồng một ha lúa lai thì giảm một harừng đốt phá để làm nương rẫy

Trong những năm qua, hộ nông dân sử dụng các chất bảo vệthực vật, phân hoá học, thức ăn gia súc và các máy móc trong sảnxuất ngày một tăng Việc sử dụng phân bón cùng với các tiến bộ

Trang 19

về kỹ thuật, giống, kỹ thuật canh tác đã làm tăng sản lượngnông nghiệp một cách đáng kể so với trước đây, đảm bảo cho nhucầu trong nước và xuất khẩu Theo kết quả nghiên cứu của việnnghiên cứu thổ nhưỡng nông hoá(1998): ở Việt Nam trung bìnhbón 1 kg N+P2O5 +K2O làm tăng 7,5-8,5 kg lương thực quy thóc.Mức này thấp hơn so với trung bình Châu á (10 kg) Nhưng cao hơnChâu phi và Châu mỹ La-tinh (5-7 kg) Theo tỷ lệ này sử dụng phânbón làm tăng 9,3 triệu tấn lương thực chiếm 27-30,4% tổng sảnlượng quy thóc của cả nước(1997) Hàng năm, Việt Nam xuất khẩulượng rau quả cho thị trường Trung Quốc là chủ yếu chiếm 60%sản lượng của cả nước.

Bên cạnh ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi đặc biệt là chănnuôi lợn đã có nhiều đóng góp đáng kể Giai đoạn 1985 - 1989bình quân mỗi năm Việt Nam xuất 5000 tấn thịt đông lạnh Giaiđoạn 1990-1995 mỗi năm xuất hơn 10000 tấn và năm 2000 xuấtkhoảng 12200 tấn Việt Nam xuất khẩu thịt lợn chủ yếu sang NhậtBản, Hồng Kông, Nga , ngoài ra các nước Malaysia, Singapore,Trung Quốc đang là những thị trường có nhiều hứa hẹn

Đánh giá thành tựu sản xuất lương thực, chương trình lươngthực thế giới (WFP) cho rằng Việt Nam đã đảm bảo an ninh lươngthực có đủ lương thực cho mọi người và trở thành nước xuất khẩulương thực đứng thú hai trên thế giới, cho nên WFP đã chấm dứtchương trình hoạt động cứu trợ ở Việt Nam vào ngày 31/12/2000

để hỗ trợ cho các nước thiếu lương thực khác Thành tựu nổi bậtkhác thu hút sự chú ý của quốc tế là Việt Nam đã phát triển thànhcông các nông sản đặc thù nhiệt đới có sức cạnh tranh như cà phê,cao su, hồ tiêu, điều Kim nghạch xuất khẩu nông sản đã chiếm tới30-40%tổng kim nghạch xuất khẩu cả nước Kết quả nổi bật đángchú ý nhất về ứng dụng công nghệ sinh học là các nhà khoa học

đã tuyển chọn và lai tạo được nhiều giống luá mới có năng suất

Trang 20

cao, ngắn ngày góp phần vào việc thâm canh tăng vụ Cơ cấu mùa

vụ đã chuyển theo hướng tăng diện tích lúa đông xuân và lúa hèthu có năng suất cao, ổn định Đến nay cả nước có hơn 90%diện

tích được gieo cấy bằng giống lúa mới ở các tỉnh phía Bắc đã

tăng thêm vụ lúa xuân, ở các tỉnh phía nam tăng thêm diện tíchcấy lúa đông xuân, hè thu Do vậy diện tích gieo trồng và năngsuất lúa đã tăng nhanh, làm chủ được công nghệ trong lai tạo,chọn lọc và nhân giống một số loại cây trồng, vật nuôi Đến năm

2000, đã xây dựng được quy trình sản xuất lúa lai F1hệ bắc ưu và

tổ chức sản xuất được 1350 tấn giống, đáp ứng được khoảng20%nhu cầu giống trong tổng diện tích 330 nghìn ha lúa lai Vụđông xuân 2001-2002 duy trì và nhân được dòng bố mẹ đủ chogieo cấy 15 nghìn ha để sản xuất khoảng 3000-4000 tấn F1 Chínhnhờ áp dụng có hiệu quả những thành tựu mới về công nghệ sinhhọc, kết hợp hài hoà với phương pháp chọn tạo giống truyền thống

mà trong năm 2002 đã chọn, tạo được 37 giống lúa mới, 12 giốngngô, 9 giống lạc, 6 giống rau, 2 giống hoa, 9 giống khoai tây, 8giống cây công nghiệp dài ngày và 22 giống cây ăn quả, 12 giốnggia súc, 3 giống dâu tằm công nhận được 51 dòng và xuất sứ làgiống cây lâm nghiệp

Cùng với giống, nhiều quy trình kỹ thuật đã hoàn thiện gópphần phát huy tiềm năng của giống: xác định bộ giống lúa xuấtkhẩu cho đồng bằng sông Cửu Long (IR64, vnd 95, IR2031,OM1490 và MTL250); tiếp tục nghiên cứu và đúc kết mở rộng kếtquả về nghiên cứu cơ cấu cây trồng để bố trí mùa vụ hợp lý, tăng

vụ, hạn chế ảnh hưởng bất thuận của thời tiết, ứng dụng kỹ thuậtIPM, quản lý dinh dưỡng tổng hợp, bón phân cân đối, bón phântheo bảng so sánh phân mầu của lúa

Nhiều vùng sản xuất nông sản hàng hoá tập trung gắn vớicông nghiệp chế biến bước đầu được hình thành; sản phẩm nông

Trang 21

nghiệp đa dạng hơn So với năm 1995, diện tích một số cây côngnghiệp tăng khá: cà phê gấp hơn 2,7 lần, cao su tăng 46%, míatăng khoảng 35%, bông tăng 8% Một số loại giống cây côngnghiệp có năng suất cao đã được đưa vào sản xuất đại trà

Trong công nghệ sau thu hoạch ,tiếp tục hoàn thiện côngnghệ và thiết bị sấy thóc, ngô như sấy thủ công, sấy tĩnh thônggió, bắt đầu ứng dụng công nghệ sấy hồng ngoại dải tần hẹp; côngnghệ bảo quản tươi rau quả

Những năm gần đây lĩnh vực nghiên cứu khoa học và chuyểngiao công nghệ được quốc hội và chính phủ đặc biệt quan tâm.Đầu tư cho nghiên cứu khoa học tăng nhiều so với trước Năm

2002, ngành nông nghiệp - phát triển nông thôn được nhà nướcđầu tư 171.778 triệu đồng tăng 43.605 triệu đồng so với năm 2000

và gấp ba lần so với năm 1996 Mức đầu tư trung bình cho một cán

bộ khoa học trong ngành năm 2002 là 38,4 triệu đồng, tăng hơn5% so với năm 2001 và gấp 2,6 lần so với năm 1996 Với hệ thống

27 viện chuyên môn, trung tâm nghiên cứu và các trường đại học,cao đẳng trong ngành

Nhiều kết quả năm 2002 được bắt nguồn từ những thínghiệm trong các năm trước Trong lĩnh vực trồng trọt, chọn giốngcây trồng, ngày 29/11/2002, Bộ đã có quyết định số 5310QĐ/BNN-KHCN công nhận và cho phổ biến trong sản xuất 18 giống quốcgia,16 giống tiến bộ kỹ thuật, 9 cây đầu dòng (măng cụt và điều);

19 biện pháp kỹ thuật mới

Trong lĩnh vực chăn nuôi năm 2002 được ghi nhận sự chuyểnbiến mạnh trong việc chọn tạo giống bò, đánh dấu sự thành côngcủa các nhà khoa học nông nghiệp Việt Nam bước đầu nghiên cứuthành công nhân vô tính bằng phương pháp cắt phôi để tạo ra cặp

bê song sinh hoàn toàn giống nhau về đặc tính di truyền Kết quảnhân vô tính phôi đã mở ra triển vọng mới không những phát triển

Ngày đăng: 19/11/2023, 19:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w