TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI KHOA LUẬT BÀI TẬP LỚN HỌC PHẦN MÔN: GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT TRONG CÁC QUAN HỆ DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI Họ và tên: Hoàng Minh Hòa Mã sinh viên: 20A52010123 N
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÀI TẬP LỚN
HỌC PHẦN MÔN: GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT TRONG CÁC
QUAN HỆ DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
Họ và tên: Hoàng Minh Hòa
Mã sinh viên: 20A52010123
Ngày sinh: 23/10/2002
Ngành: Luật Quốc Tế
Đề bài: Bình luận những quy định của pháp luật Việt Nam (BLDS năm 2015) trong việc giải quyết xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài.
Hà Nội, ngày 27 tháng 5 năm 2023
Trang 2MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 3
B NỘI DUNG 3
I Khái quát về hình thức hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài 3
1.1 Khái niệm về hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài 3
1.2 Khái niệm về hình thức hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài .4
1.3 Ý nghĩa của hình thức tới hiệu lực của hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài 6
2 Khái niệm về xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài 6
3 Phương pháp giải quyết xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài 6
II Quy định của pháp luật Việt Nam (BLDS 2015) về giải quyết xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài 7
1 Quy định của BLDS 2015 về giải quyết xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài 7
2 Bình luận những quy định BLDS 2015 về giải quyết xung đột về hình thức hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài 10
III Giải pháp hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài 14
C KẾT LUẬN 16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
Trang 3A MỞ ĐẦU
Hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài là một chế định quan trọng trong Bộ luật dân sự nói riêng và pháp luật Việt Nam nói chung Việc xác định pháp luật áp dụng cho hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài là vấn
đề đáng được quan tâm bởi tính cấp thiết của nó, có xác định đúng pháp luật thì các tranh chấp mới giải quyết một cách triệt để Như vậy, để tìm hiểu rõ hơn nguyên tắc xác định pháp luật áp dụng cho hình thức hợp đồng có yếu tố nước ngoài, đồng thời bình luận chuyên sâu, làm rõ hơn quy định về giải quyết xung đột pháp luật trong hợp đồng dân sự có yếu
tố nước ngoài, sau đây đây em xin lựa chọn tìm hiểu đề tài:“Bình luận
những quy định của pháp luật Việt Nam (BLDS năm 2015) trong việc giải quyết xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng dân sự có yếu tố
nước ngoài.” làm bài tập giữa học phần môn Giải quyết xung đột trong
các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
B NỘI DUNG
I Khái quát về hình thức hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài 1.1 Khái niệm về hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài
Có thể nói, hợp đồng là giao dịch phổ biến nhất trong đời sống xã hội
và là căn cứ cơ bản làm phát sinh nghĩa vụ, trong đó các bên tự trao đổi ý chí với nhau nhằm đi đến sự thỏa thuận cuối Theo pháp luật Việt Nam,
cụ thể tại Điều 385 BLDS 2015 quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận
giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự 1 ”, còn theo BLDS Pháp quy định:“Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó một hoặc việc chuyển giao một vật, làm hoặc không làm công công việc nào đó nhiều người cam kết với một người hoặc nhiều người khác về”2, theo Luật thương mại Hoa Kì quy định:
1 Điều 385 BLDS 2015
2 BLDS Pháp
Trang 4“Hợp đồng là tổng hợp các nghĩa vụ pháp lý phát sinh từ sự thỏa thuận của các bên 3 ”, theo BLDS Nga quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự”4, … Tùy thuộc vào pháp luật của từng quốc gia mà chế
định về hợp đồng sẽ có sự khác nhau
- Vậy “hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài” được hiểu như thế nào? Có “yếu tố nước ngoài” được hiểu như sau:
Có ít nhất chủ thể tham gia quan hệ này là nước ngoài Chủ thể nước ngoài có thể là người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài, nhà nước nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài
Khách thể của quan hệ này liên quan đến tài sản, công việc ở nước ngoài
Sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quan hệ này xảy ra ở nước ngoài (ví dụ: pháp nhân Việt Nam ký hợp đồng mua bán hàng hoá với pháp nhân Mỹ tại Newyork, việc ký kết hợp đồng là một sự kiện pháp lý)
Từ đó có thể hiểu: Hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài là hợp đồng
dân sự có ít nhất một bên chủ thể của quan hệ hợp đồng là người nước ngoài, tổ chức, pháp nhân nước ngoài, trong trường hợp đặc biệt, chủ thể là quốc gia nước ngoài; các bên tham gia quan hệ hợp đồng có nơi
cư trú ở các nước khác nhau, nếu là cá nhân, hoặc có trụ sở thương mại
ở các nước khác nhau nếu là pháp nhân; căn cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ hợp đồng theo pháp luật nước ngoài; đối tượng của hợp đồng là tài sản đang tồn tại ở nước ngoài.
1.2 Khái niệm về hình thức hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài
Hình thức của hợp đồng không được giải thích trong luật nhưng được hiểu là cách ghi nhận, lưu trữ, truyền tải nội dung hợp đồng, hay hình
3 BLDS Hoa Kì
4 BLDS Nga
Trang 5thức hợp đồng chính là cách thể hiện, chứa đựng các điều khoản do các bên chủ thể thỏa thuận Trên thực tế, về hình thức hợp đồng thì pháp luật của các quy định không giống nhau Vậy căn cứ theo pháp luật của quốc gia nào? Ta có thể căn cứ như sau:
Pháp luật nơi giao kết hợp đồng và nơi thực hiện hợp đồng (Đông Âu);
Nơi giao kết hợp đồng (Tây Âu, Anh - Mỹ), đôi khi họ cũng áp dụng luật nhân thân hoặc luật Toà án;
Công ước CISG 1980 không có quy định bắt buộc về hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (Điều 11);
Bộ quy tắc về hợp đồng thương mại quốc tế (UNIDROIT) cũng có quy định không đòi hỏi phải tuân theo bất kì điều kiện nào về hình thức (Điều 1 Khoản 2);
Bộ luật dân sự 2015, hình thức của hợp đồng được xác định theo pháp luật áp dụng đối với hợp đồng đó (Khoản 7 Điều 683)
Tuy nhiên, để xem xét tính hợp pháp của hợp đồng thì hình thức của hợp đồng trong một số trường hợp cũng là một yêu cầu bắt buộc Trong một số trường hợp, việc một số Tòa án tuyên hợp đồng thương mại hay hợp đồng tài chính vô hiệu vì không tuân thủ quy định hình thức đã gây khá nhiều tranh cãi Chính vì thế, Bộ luật dân sự 2015 đã đơn giải hóa hình thức giao dịch như sau: Theo khoản 1, Điều 129
BLDS 2015 quy định: “Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy
định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật
mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó”.
Trang 61.3 Ý nghĩa của hình thức tới hiệu lực của hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài
Thực chất, việc yêu cầu hình thức bắt buộc đối với hợp đồng có nhiều mục đích khác nhau như: để đảm bảo vấn đề chứng cứ; để đối kháng với người thứ ba hoặc là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng
Đối với những hợp đồng yêu cầu hình thức là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng – tức là phải đảm bảo hình thức bắt buộc đó thì hợp đồng mới có hiệu lực thì nếu vi phạm về hình thức hợp đồng có thể dẫn tới hợp đồng bị vô hiệu Do đó, khi các bên giao kết hợp đồng dân sự quốc tế với nhau, cần chú ý quan tâm ý tới hình thức của hợp đồng để đảm bảo hợp đồng không bị vô hiệu do vi phạm về hình thức
2 Khái niệm về xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài
Nhiều quốc gia có những quy định khác nhau về hình thức với hợp đồng dân sự Như vậy, xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng dân sự
có yếu tố nước ngoài là trường hợp mà hai hay nhiều hệ thống pháp luật đều có thể điều chỉnh một quan hệ pháp luật nhất định Vấn đề đặt ra ở đây là áp dụng pháp luật nào để xác định tính hợp pháp của hình thức hợp đồng đó Xung đột pháp luật sẽ được giải quyết thông qua các quy phạm xung đột hoặc các quy phạm thực chất Quy phạm xung đột mang tính dẫn chiếu tức là lựa chọn luật nào để giải quyết vấn đề còn quy phạm thực chất mang tính chất trực tiếp giải quyết dứt điểm vấn đề
Trang 73 Phương pháp giải quyết xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài
Xung đột về hình thức của hợp đồng nói riêng hay xung đột về hợp trong tư pháp nói chung được giải quyết bằng 02 phương pháp điều chỉnh
cơ bản, đó là: phương pháp thực chất và phương pháp xung đột
- Phương pháp thực chất: Là phương pháp trực tiếp giải quyết ngay
quan hệ pháp lý phát sinh bằng cách xác định trực tiếp quyền và nghĩa
vụ của các bên tham gia quan hệ Phương pháp này được thực hiện trên cơ sở áp dụng các quy phạm pháp luật thực chất xây dựng trong pháp luật quốc gia, điều ước quốc tế và tập quán quốc tế có liên quan
- Phương pháp xung đột: Là phương pháp điều chỉnh quan hệ một cách
gián tiếp Phương pháp này không đưa ra phương án giải quyết trực tiếp ngay quan hệ pháp lý phát sinh mà điều chỉnh các quan hệ này bằng cách lựa chọn một hệ thống pháp luật cụ thể trong số những hệ thống pháp luật có liên quan, rồi dùng hệ thống pháp luật được chọn ra
ấy để giải quyết quan hệ pháp lý phát sinh Để giải quyết xung đột về hình thức của hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài, phương pháp được sử dụng chủ yếu cũng là phương pháp xung đột.5
II Quy định của pháp luật Việt Nam (BLDS 2015) về giải quyết xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài
1 Quy định của BLDS 2015 về giải quyết xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài
Theo quy định của pháp luật Việt Nam về hình thức hợp đồng thì hình thức hợp đồng được tuân theo quy định về hình thức của giao dịch dân
sự được quy định tại Điều 119 BLDS 2015 như sau:
5 Giáo trình Tư pháp quốc tế - Đại học Luật Hà Nội, xuất bản năm 2022
Trang 8“1 Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.
2 Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó.”
Như vậy theo quy định của pháp luật Việt Nam thì hình thức hợp đồng có thể là văn bản, lời nói, hành vi hay hình thức có công chứng, chứng thực
Đối với những quy định về giải quyết xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài được quy định tại Điều 683 BLDS
2015, cụ thể:“Các bên trong quan hệ hợp đồng được thỏa thuận lựa chọn
pháp luật áp dụng đối với hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại các khoản 4,5 và 6 Điều này.” Khoản 1 điều chỉnh chung tất cả các vấn đề
liên quan đến hợp đồng, trong đó có hình thức hợp đồng Theo đó, pháp luật cho phép các bên lựa chọn pháp luật để áp dụng với hình thức hợp đồng Tuy nhiên không phải trong mọi trường hợp pháp luật Việt Nam đều cho phép các bên có thể tự do lựa chọn pháp luật áp dụng cho hợp đồng, bao gồm cả hình thức hợp đồng Theo khoản 4, Điều 683 BLDS
2015 thì đối với hợp đồng mà có đối tượng là bất động sản thì pháp luật
áp dụng đối với việc chuyển quyền sở hữu, quyền khác đối với bất động sản, thuê bất động sản thì pháp luật áp dụng là pháp luật nơi có bất động sản Đối với hợp đồng lao động, hợp đồng tiêu dùng mà có ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động, người tiêu dùng thì pháp luật Việt Nam được áp dụng; trong trường hợp mà các bên thỏa thuận thay đổi pháp luật áp dụng với hợp đồng mà ảnh hưởng đến quyền lợi của người thứ ba thì phải được người thứ ba đồng ý Như vậy trong những trường hợp trên thì các bên sẽ không được áp dụng pháp luật đối với hợp đồng
Trang 9Khoản 7 điều 683 Bộ luật dân sự năm 2015 của Việt Nam quy định
“Hình thức của hợp đồng được xác định theo pháp luật áp dụng đối với hợp đồng đó”.“6Pháp luật áp dụng đối với hợp đồng” ở đây là pháp luật
do các bên lựa chọn Khi các bên trong quan hệ hợp đồng đã thỏa thuận lựa chọn luật nào rồi thì hình thức của nó cũng phải tuân thủ theo pháp luật được chọn đó, còn trong trường hợp các bên không có thỏa thuận áp dụng hợp đồng thì pháp luật áp dụng với hợp đồng sẽ là pháp luật gắn bó nhất với hợp đồng Pháp luật gắn bó nhất đó có thể là pháp luật của nước nơi người bán cư trú đối với hợp đồng mua bán hàng hóa; pháp luật của nước nơi người cung cấp dịch vụ cư trú đối với hợp đồng dịch vụ; pháp luật của nước nơi người nhận quyền cư trú đối với hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng hoặc chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ; pháp luật của nước nơi người lao động thường xuyên thực hiện công việc đối với hợp đồng lao động Ví dụ doanh nghiệp A (Doanh nghiệp Việt Nam) ký kết hợp đồng mua bán 100 tấn gạo với công dân B (công dân Bồ Đào Nha), hai bên thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng là luật Việt Nam
Do đó, pháp luật Việt Nam sẽ điều chỉnh hợp đồng bao gồm trong đó là
cả hình thức của hợp đồng Nếu các bên lựa chọn pháp luật Việt Nam thì đối với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế hình thức của hợp đồng cần phải bằng văn bản và hình thức khác có giá trị tương đương; đối với hợp đồng dân sự (hợp đồng tặng cho, hợp đồng vay tài sản ) sẽ theo 03 hình thức (hình thức lời nói, văn bản, hành vi), hợp đồng Li xăng thì phải được xác lập thành văn bản và phải đăng ký Tuy nhiên, khi mà hình thức của hợp đồng không phù hợp với hình thức hợp đồng theo pháp luật áp dụng đối với hợp đồng đó nhưng phù hợp với hình thức hợp đồng theo pháp luật của nước nơi giao kết hợp đồng hoặc pháp luật Việt Nam thì hình thức hợp đồng đó được công nhận tại Việt Nam Tại khoản 7 Điều 683 BLDS 2015 có áp dụng nguyên tắc luật nơi giao kết hợp đồng Đây là
6Khoản 7 điều 683 Bộ luật dân sự năm 2015
Trang 10một trong những biến dạng của hệ thuộc luật nơi thực hiện hành vi (nơi
ký kết hợp đồng, nơi thực hiện hợp đồng, các biến dạng khác) Như vậy,
có thể thấy hợp đồng được ký ở đâu thì tuân thủ luật ở đó Để áp dụng hệ thuộc luật này, phải xác định được đâu là nơi giao kết hợp đồng và khi
mà hai bên trực tiếp gặp nhau thì dễ dàng xác định được đâu là nơi ký hợp đồng và từ đó xác định được pháp luật áp dụng Ví dụ, có một công dân A (người Hà Lan) vay tài sản của công dân B (người Việt Nam), hai bên không thỏa thuận về điều khoản lựa chọn luật áp dụng với hợp đồng, hợp đồng được ký ở Việt Nam Như vậy, luật nơi giao kết hợp đồng sẽ là luật Việt Nam, do đó nếu hình thức của hợp đồng vay tài sản này bằng miệng, hay bằng văn bản thì đều được công nhận tại Việt Nam theo BLDS 2015 Bên cạnh đó, nếu hình thức của hợp đồng phù hợp với pháp luật Việt Nam thì hình thức hợp đồng đó được công nhận tại Việt Nam Điều này có nghĩa là, cho dù hình thức hợp đồng không phù hợp với luật
do các bên lựa chọn, hay hình thức hợp đồng cũng không phù hợp với pháp luật nơi giao kết, chỉ cần nó phù hợp, nó hợp lệ theo quy định của pháp luật Việt Nam thì nó sẽ được công nhận tại Việt Nam Ví dụ một công dân Việt Nam sang Anh thăm một người bạn (công dân Anh), người bạn đó tặng cho công dân Việt Nam 20 nghìn USD, người bạn đó tặng bằng miệng Ví dụ theo luật Anh, hợp đồng tặng cho 20 nghìn USD phải được lập văn bản thì mới được công công nhận tại Anh, như vậy hợp đồng này không phù hợp với pháp luật Anh Tuy nhiên, luật Việt Nam, cụ thể là BLDS 2015 thì hình thức hợp đồng tặng cho có thể bằng miệng hoặc bằng văn bản Như vậy, hợp đồng tặng cho này không tuân thủ pháp luật nơi giao kết nhưng tuân thủ tại Việt Nam thì vẫn được công nhận tại Việt Nam Như vậy, có thể thấy BLDS 2015 quy định ba trường hợp mà hình thức của hợp đồng có yếu tố nước ngoài được công nhận tại Việt Nam, đó là: