Đây là những cơ sở pháp lý hết sức quan trọng giúp người dân thuận tiện trong việc thực hiện quyền khiếu nại, quyền tố cáo; đồng thời giúp cơ quan có thẩm quyền có thể tiến hành xử lý cá
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TIỂU LUẬN MÔN: THANH TRA, GIẢI QUYẾT KHIẾU
NẠI, TỐ CÁO
ĐỀ BÀI: 02
“Phân biệt khiếu nại theo quy định của Luật Khiếu nại với tố cáo theo quy định của Luật Tố cáo và giải thích vì sao Luật Tố cáo không quy định
người tố cáo là tổ chức.”
HỌ VÀ TÊN : ĐINH THỊ KIỀU
MSSV : 440127 LỚP : N08 – TL1
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 1
I PHÂN BIỆT KHIẾU NẠI THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT KHIẾU NẠI VỚI TỐ CÁO THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT TỐ CÁO 1
II VÌ SAO LUẬT TỐ CÁO KHÔNG QUY ĐỊNH NGƯỜI TỐ CÁO
LÀ TỔ CHỨC? 6 KẾT LUẬN 7 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 8
Trang 31
MỞ ĐẦU
Quyền khiếu nại, quyền tố cáo là những quyền cơ bản của công dân đã được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện, được thể chế hoá trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể hiện nay là Luật Khiếu nại năm 2011, Luật Tố cáo năm 2018
và các văn bản hướng dẫn thi hành Đây là những cơ sở pháp lý hết sức quan trọng giúp người dân thuận tiện trong việc thực hiện quyền khiếu nại, quyền tố cáo; đồng thời giúp
cơ quan có thẩm quyền có thể tiến hành xử lý các vụ việc theo đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền mà pháp luật quy định Tuy nhiên, việc phân định rõ giữa khiếu nại và tố cáo không phải một điều đơn giản, trong quá trình xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân các cơ quan, tổ chức còn gặp nhiều lúng túng do không hiểu rõ bản chất của khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh nên dẫn đến việc xử lý không đúng quy định, gây ra tình trạng đơn thư khiếu nại, tố cáo kéo dài, vượt cấp Do vậy, cần hiểu đúng bản chất và hiểu được sự khác nhau của hành vi khiếu nại, tố cáo, giúp cho quá trình xử lý, giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo đảm báo chính xác, đúng thẩm quyền, trình tự Để tìm
hiểu rõ hơn về vấn đề trên, em xin lựa chọn đề bài sô 02: “Phân biệt khiếu nại theo quy
định của Luật Khiếu nại với tố cáo theo quy định của Luật Tố cáo và giải thích vì sao Luật Tố cáo không quy định người tố cáo là tổ chức.” làm đề tài cho bài tiểu luận môn
Thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo
NỘI DUNG
I PHÂN BIỆT KHIẾU NẠI THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT KHIẾU NẠI
VỚI TỐ CÁO THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT TỐ CÁO
Việc nhận biết và phân biệt rõ thế nào là khiếu nại, thế nào là tố cáo không hề đơn giản bởi nhiều nguyên nhân Từ sự phân tích các quy định pháp luật cũng như dựa trên thực tiễn, có thế đưa ra một số tiêu chí để phân biệt khiếu nại theo quy định của Luật Khiếu nại và tố cáo theo quy định của Luật Tố cáo, cụ thể như sau:
Tiêu
chí
CSPL Luật Khiếu nại năm 2011 Luật Tố cáo năm 2018
Trang 42
Khái
niệm
Khiếu nại là việc công dân, cơ quan,
tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo
thủ tục do pháp luật quy định, đề
nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền xem xét lại quyết định
hành chính, hành vi hành chính của
cơ quan hành chính nhà nước, của
người có thẩm quyền trong cơ quan
hành chính nhà nước hoặc quyết
định kỷ luật cán bộ, công chức khi
có căn cứ cho rằng quyết định hoặc
hành vi đó là trái pháp luật, xâm
phạm quyền, lợi ích hợp pháp của
mình (theo quy định tại khoản 1
Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011)
Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do
Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành
vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức (theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Tố cáo năm 2018)
Bản
chất
Việc thực hiện quyền khiếu nại thể
hiện mối quan hệ giữa Nhà nước và
công dân mà trong đó bên đi khiếu
nại luôn luôn là công dân (hoặc cơ
quan, tổ chức trong một số trường
hợp) chịu sự tác động trực tiếp của
quyết định, hành vi hành chính của
cơ quan hành chính nhà nước, người
có thẩm quyền trong cơ quan hành
chính nhà nước Còn bên bị khiếu
nại là cơ quan hành chính nhà nước,
người có thẩm quyền trong cơ quan
hành chính nhà nước
Việc thực hiện quyền tố cáo thể hiện mối
quan hệ giữa Nhà nước và công dân mà trong đó bên đi tố cáo báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành
vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức
Trang 53
Mục
đích
Hướng tới bảo vệ và khôi phục
quyền và lợi ích hợp pháp của người
khiếu nại,
Nhằm bảo vệ và khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của người tố cáo, hướng tới lợi
ích của Nhà nước và xã hội
Chủ
thể
Người khiếu nại là công dân, cơ
quan, tổ chức hoặc cán bộ, công
chức thực hiện quyền khiếu nại Cơ
quan, tổ chức có quyền khiếu nại là
cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị,
tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã
hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ
chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân
dân (Theo quy định tại khoản 2
Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011)
Người tố cáo là cá nhân thực hiện việc tố
cáo Không giống với quy định của Luật Khiếu nại năm 2011, chủ thể tố cáo chỉ có thể là cá nhân (không có cơ quan, tổ chức), bao gồm công dân Việt Nam và người nước ngoài tại Việt Nam (Theo quy định tại khoản 4 Điều 2 Luật Tố cáo 2018)
Đối
tượng
Đối tượng bị khiếu nại:
- Quyết định hành chính
- Hành vi hành chính của cơ quan
hành chính nhà nước, của người có
thẩm quyền trong cơ quan hành
chính nhà nước
- Quyết định kỷ luật cán bộ, công
chức
Đối tượng của tố cáo rộng hơn, đó là “hành
vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan,
tổ chức”, bao gồm hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ và hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực
Thẩm
quyền
giải
quyết
Người ban hành quyết định hoặc
thực hiện hành vi hoặc thủ trưởng cơ
quan cấp trên của người bị khiếu nại
Thủ trưởng, cơ quan cấp trên của người bị
tố cáo; người đứng đầu cơ quan quản lý lĩnh vực bị tố cáo
Cách
thức
Người khiếu nại “đề nghị” người có
thẩm quyền “xem xét lại” các quyết
định hành chính, hành vi hành chính
Người tố cáo “báo” cho người có thẩm quyền giải quyết tố cáo “biết” về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ
Trang 64
thực
hiện
của cơ quan hành chính nhà nước,
của người có thẩm quyền trong cơ
quan hành chính nhà nước hoặc
quyết định kỷ luật cán bộ, công chức
khi có căn cứ cho rằng quyết định
hoặc hành vi đó là trái pháp luật,
xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp
của mình
chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân
Thời
hiệu
Thời hiệu khiếu nại là 90 ngày, kể từ
ngày nhận được quyết định hành
chính hoặc biết được quyết định
hành chính, hành vi hành chính
(theo quy định tại Điều 9 Luật Khiếu
nại năm 2011)
Không quy định thời hiệu tố cáo vì nó phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người tố cáo
Đối
thoại
Người giải quyết khiếu nại tổ chức
đối thoại với người khiếu nại, người
bị khiếu nại, người có quyền và
nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức,
cá nhân có liên quan
(theo quy định tại Điều 30 Luật
Khiếu nại năm 2011)
Không tổ chức đối thoại trực tiếp Việc không đối thoại trực tiếp nhằm đảm bảo yêu cầu bảo vệ bí mật thông tin về người tố cáo, tránh trường hợp người tố cáo hay người thân của người tố cáo bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị xâm hại ngay tức khắc hay bị trù dập, phân biệt đối xử do việc tố cáo
Giải
quyết
khiếu
nại, tố
cáo
Việc xác minh kết luận và quyết
định giải quyết của người giải quyết
khiếu nại
Việc người giải quyết tố cáo xác minh, kết luận về nội dung tố cáo, từ đó áp dụng biện pháp xử lý cho thích hợp với tính chất, mức độ sai phạm của hành vi chứ không phải ra quyết định giải quyết tố cáo
Uỷ
quyền
Người khiếu nại được tự mình khiếu
nại hoặc ủy quyền cho: cho cha, mẹ,
vợ, chồng, anh, chị, em ruột, con đã
Người tố cáo phải trực tiếp tố cáo, không được phép ủy quyền cho người khác thay mặt mình thực hiện hành vi tố cáo đến các
Trang 75
thành niên hoặc người khác có năng
lực hành vi dân sự đầy đủ để thực
hiện việc khiếu nại: luật sư; trợ giúp
viên pháp lý; người đại diện hợp
pháp tham gia đối thoại; luật sư
khiếu nại để bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp của mình1
cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
và có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do hành
vi cố ý tố cáo sai sự thật của mình gây ra2
Rút
đơn
Người khiếu nại có thể rút khiếu nại
tại bất cứ thời điểm nào trong quá
trình khiếu nại3
Việc rút khiếu nại phải được thực
hiện bằng đơn có chữ ký hoặc điểm
chỉ của người khiếu nại; đơn xin rút
khiếu nại phải gửi đến người có
thẩm quyền giải quyết khiếu nại; kết
quả của việc rút đơn đơn khiếu nại
thì người giải quyết khiếu nại ra
quyết định đình chỉ giải quyết, chấm
dứt việc giả quyết khiếu nại
Người tố cáo có quyền rút toàn bộ nội dung tố cáo hoặc một phần nội dung tố cáo trước khi người giải quyết tố cáo ra kết luận nội dung tố cáo.4
Việc rút đơn tố cáo phải được lập thành văn bản Việc rút một phần đơn tố cáo thì phần còn lại vẫn được giải quyết, nếu rút toàn bộ nội dung tố cáo thì đình chỉ giải quyết tố cáo Nếu trường hợp rút đơn tố cáo nếu xét thấy việc rút đơn tố cáo là do
bị đe dọa cưỡng ép thì hoặc người tố cáo lợi dụng việc tố cáo để vu khống, xúc phạm, gây thiệt hại cho người bị tố cáo thì
vụ việc tố cáo vẫn phải được giải quyết
Thái
độ xử
lý
Khiếu nại không được khuyến khích,
bởi khiếu nại là đi đòi lại lợi ích cho
mình nên pháp luật không đặt vấn đề
khuyến khích
Tố cáo được khuyến khích, bởi bản chất tố cáo là sự thể hiện trách nhiệm của công dân đối với xã hội, với Nhà nước thông qua việc phát hiện những hành vi vi phạm pháp luật
1 Theo quy định tại Điều 12 Luật Khiếu nại 2011
2 Theo quy định tại Điều 9 Luật Tố cáo năm 2018
3 Theo quy định tại Điều 10 Luật Khiếu nại 2011
4 Theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật Tố cáo 2018
Trang 86
II VÌ SAO LUẬT TỐ CÁO KHÔNG QUY ĐỊNH NGƯỜI TỐ CÁO LÀ TỔ
CHỨC?
Về chủ thể tố cáo (người tố cáo): Theo khoản 4 Điều 2 Luật Tố cáo năm 2018 quy định người tố cáo là cá nhân thực hiện việc tố cáo Không giống với quy định của Luật Khiếu nại năm 2011, chủ thể tố cáo chỉ có thể là cá nhân (không có cơ quan, tổ chức), bao gồm công dân Việt Nam và người nước ngoài tại Việt Nam Quy định này nhằm cá thể hoá trách nhiệm của người tố cáo, nếu có hành vi cố ý tố cáo sai sự thật thì tuỳ theo tính chất, mức độ của hành vi vi phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật
Việc xác định tố cáo có thực sự thể hiện ý chí của pháp nhân hay chỉ là nhóm cá nhân mượn danh nghĩa cơ quan, tổ chức cũng là công việc phức tạp, mất nhiều thời gian, khó quy trách nhiệm cá nhân, nhất là khi xác định trách nhiệm của người tố cáo trong trường hợp cố tình tố cáo sai, tố cáo trái pháp luật, gây ảnh hưởng lớn đến quyền và lợi ích Trường hợp người tố cáo lợi dụng quyền tố cáo để cố ý tố cáo sai sự thật thì tùy tính chất, mức độ mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự Bên cạnh những trường hợp tố cáo mang tính xây dựng, tích cực thì cũng có không ít người lợi dụng quyền tố cáo để tố cáo sai sự thật, tố cáo tràn lan, không có căn
cứ, gây phức tạp, mất đoàn kết nội bộ, làm tốn kém cả thời gian và công sức cho các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm trong việc xem xét, giải quyết
Người tố cáo sai sự thật rất ít bị xử lý, các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố cáo ngại xử lý, sợ va chạm, liên lụy, né tránh… Đồng thời, cũng chưa có quy định trong việc
xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực khiếu nại, tố cáo Chính vì vậy, hầu như rất ít khi
xử lý người khiếu nại, tố cáo sai sự thật Do đó, người tố cáo chưa nhận thức được đầy đủ hành vi vi phạm của mình Đây là những hạn chế, bất cập trong thực tiễn thi hành pháp luật khiếu nại, tố cáo trong thời gian qua cần phải được bổ sung hoàn thiện 5Hơn nữa, trong thực tiễn hiện nay, loại hình cơ quan, tổ chức cũng đa dạng, do đó việc quy định phương thức, thủ tục, trình tự tố cáo và giải quyết tố cáo chung cho mọi loại cơ quan, tổ chức là hết sức khó khăn
5 Đào Nhị, Quyền tố cáo của công dân - Một số vấn đề từ thực tiễn,
https://sotnmt.sonla.gov.vn/1292/31148/63505/583737/thanh-tra-kiem-tra/quyen-to-cao-cua-cong-dan-mot-so-van-de-tu-thuc-tien
Trang 97
Cá nhân có quyền tố cáo, tuy nhiên, việc thực hiện quyền tố cáo của một chủ thể sẽ làm phát sinh những hậu quả pháp lý và trách nhiệm gắn với cá nhân Nên quy định công dân (cá nhân) có quyền tố cáo là phù hợp với Hiến pháp và chính sách hình sự của nước
ta - cá thế hoá trách nhiệm hình sự Người tố cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi tố cáo của mình, nếu tố cáo sai sự thật thì phải bị xử lý về hành chính hoặc hình
sự tùy theo tính chất và mức độ vi phạm
Vì vậy, nếu quy định cơ quan, tổ chức có quyền tố cáo thì có thể làm phát sinh những vấn đề phức tạp, chưa lường hết được những tác động liên quan đến cách thức để các chủ thể này thực hiện quyền tố cáo Do vậy, Luật tố cáo quy định chỉ công dân có quyền tố cáo, mà không quy định người tố cáo là tổ chức
KẾT LUẬN
Quyền khiếu nại, quyền tố cáo là biểu hiện của quyền dân chủ trực tiếp, là một trong những hình thức đặc biệt quan trọng để nhân dân trực tiếp tham gia vào hoạt động quản
lý nhà nước và xã hội Mục đích bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức, bảo vể lợi ích của Nhà nước, xã hội, xử lí các hành vi vi phạm pháp luật
Do vậy, việc phân định rõ giữa khiếu nại và tố cáo rất quan trọng, nhằm đảm bảo việc thực hiện quyền và xử lý đơn được hiệu quả, tránh nhầm lẫn Đồng thời giúp cán bộ làm công tác tiếp dân, phân loại xử lý đơn hướng dẫn người dân thực hiện đúng các quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, để thuận lợi cho việc xử lý, giải quyết đơn, đáp ứng được nhu cầu thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của công dân Các quy định về khiếu nại,
tố cáo cần được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, để từ đó nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý Nhà nước
Trên đây là toàn bộ bài tiểu luận kết thúc học phần Thanh tra, giải quyết khiếu nại,
tố cáo của em Vì kiến thức cùng kinh nghiệm thực tiễn còn hạn hẹp, bài làm khó tránh khỏi sai sót, mong thầy (cô) thông cảm Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 108
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Hiến pháp năm 2013
2 Luật Khiếu nại năm 2011
3 Luật Tố cáo năm 2018
4 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo,
Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2010
5 Trường Đại học Luật Hà Nội, Nguyễn Thị Thanh Hương, Quyền khiếu nại, tố cáo
theo Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, luận văn thạc sĩ Luật học,
PGS.TS Vũ Công Giao hướng dẫn
6 PGS.TS Bùi Thị Đào, “Quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại, người bị khiếu nại theo Luật Khiếu nại năm 2011”,
7 Lưu Thị Lệ Phương, “Phân biệt giữa khiếu nại và tố cáo”,
8 Hà Văn Dương, “Phân biệt khiếu nại và tố cáo”,
http://thanhtra.thainguyen.gov.vn/giai-quyet-khieu-nai-to-cao/-
9 Vũ Thị Minh Ngân, “Tìm hiểu về chủ thể khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật”,
10 Ngọc Sang, “Phân biệt giữa khiếu nại và tố cáo”,
11 Kim Dung, “Các cấp, các ngành phải coi trọng việc giải quyết khiếu nại, tố cáo”,
12 Lê Xuân Hùng, “Bạn và những điều cần biết về Luật Khiếu nại”,