1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá các quy định trong bộ luật dân sự năm 2015 về hợp đồng vay tài sản (nêu những ưu điểm, hạn chế và định hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật)

15 250 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 31,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá các quy định trong bộ luật dân sự năm 2015 về hợp đồng vay tài sản (nêu những ưu điểm, hạn chế và định hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật) Đánh giá các quy định trong bộ luật dân sự năm 2015 về hợp đồng vay tài sản (nêu những ưu điểm, hạn chế và định hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật)

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 1

I Cơ sở lý luận 1

II Đánh giá các quy định của hợp đồng vay tài sản trong bộ luật dân sự 2015 2

1 Khái niệm, hình thức hợp đồng vay tài sản 2

2 Nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng vay tài sản 5

3 Lãi suất và lãi suất trong hợp đồng vay 7

4 Kỳ hạn của hợp đồng vay 9

5 Về hụi, họ, biêu, phường (gọi chung là họ) 10

KẾT LUẬN 11

TÀI LIỆU THAM KHẢO 12

Trang 2

MỞ ĐẦU

Ngày nay cùng với sự phát triển của kinh tế,trong xã hội xuất hiện những người có của cái dư thừa, thừa thãi, nhàn rỗi, chưa quyết định được đầu tư được vào đâu, lại có những người không có đủ tiềm lực về tài sản để đáp ứng nhu cầu sử dụng Đó là lúc hợp đồng cho vay ra đời, nó đã khắc phục phần nào khó khăn tạm thời về kinh tế, đem lại lợi nhuận từ những tài sản nhàn rỗi, góp phần thúc đẩy nền kinh doanh sản xuất phát triển

BLDS 2015 đã dành hẳn một mục để qui định về hợp đồng vay tài sản, chứng tỏ

nó chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế cũng như xã hội Sau đây em trình bày

vấn đề: “Đánh giá các quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 về hợp đồng vay tài sản (Nêu những ưu điểm, hạn chế và định hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật)”

để hiểu sâu hơn về vấn đề này

Trang 3

NỘI DUNG

I Cơ sở lý luận

Các qui định của pháp luật trong BLDS 2015 liên quan tới hợp đồng vay tài sản nằm ở chương XVI mục 4,bao gồm từ điều 463 tới điều 471 theo đó:

Định nghĩa về hợp đồng vay tài sản được qui định tại điều 463: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên theo đó, bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên cho vay phải hoàn trả cho bên vay vật cùng loại theo đúng số lượng, đúng chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”.Nó đã thể hiển trách nhiệm và nghĩa vụ cơ bản của hai bên: ”bên vay” và “bên cho vay”

Thời điểm chuyển quyền sở hữu tài sản vay được qui định tại điều 464: “Bên vay trở thành chủ sở hữu tài sản vay kể từ thời điểm nhận tài sản đó.”

Kể từ thời điểm nhận tài sản, bên vay có đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản vay

Nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng vay tài sản được quy định tại Điều 465 đến Điều 466 Các qui định đặt ra các quy tắc xử sự cần thiết nhằm bảo đảm lợi ích giữa các bên như “Giao tài sản cho bên vay đầy đủ, đúng chất lượng, số lượng” (Khoản 1 Điều 465) hay “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn, nếu là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng…” ( Khoản 1 Điều 466) Các quy định về nghĩa

vụ còn điều chỉnh hành vi của các chủ thể trong một số trường hợp cụ thể chẳng hạn “tài sản vay không bảo đảm chất lượng” ; trường hợp “bên vay không thể trả bằng hiện vật” ; quy định về “lãi” trong các hợp đồng vay có kỳ hạn “có lãi” và “ không lãi”…

Hợp đồng vay tài sản thể hiện tính chất tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa bên cho vay với bên vay trong những lúc khó khăn về vật chất hoặc thiếu vốn để đầu tư, kinh doanh

Bên cho vay có quyền được hưởng các lợi ích vật chất từ hợp đồng vay tài sản ,nếu có thỏa thuận hoặc được pháp luật qui định,được qui định tại 1 số điểm ở điều 465,466,467

Trang 4

II Đánh giá các quy định của hợp đồng vay tài sản trong bộ luật dân sự 2015

1 Khái niệm, hình thức hợp đồng vay tài sản

Dưới góc độ dân sự thì: Theo giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, tập 2 của Trường Đại học Luật Hà Nội: Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó, bên cho vay giao cho bên vay một số tiền hoặc tài sản để làm sở hữu Hết hạn của hợp đồng, bên vay có nghĩa vụ trả cho bên kia số tiền hoặc hiện vật tương đương với tiền hoặc vật

đã vay, đồng thời trả thêm một số lợi ích vật chất nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định

Theo Điều 463 BLDS 2015: Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật quy định

Có thể nhận thấy rằng hợp đồng dân sự được hình thành dựa trên sự thỏa thuận của hai bên củ thể, bên cho vay có nghĩa vụ “Giao tài sản”; bên vay có nghĩa vụ “hoàn trả vật cùng loại theo đúng số lượng, đúng chất lượng” Nó đã thể hiện được rõ bản chất của hợp đồng vay là việc chuyển quyền sở hữu giữa hai bên chủ thể Khác với hợp đồng mua bán, trong hợp đồng vay tài sản, sau khi chuyển giao tài sản một bên có nghĩa vụ phải hoàn trả cho bên kia một tài sản khác bằng đúng giá trị của tài sản mà 2 bên đã chuyển giao cho nhau trước đó hợp đồng vay tài sảnđề cao nguyên tắc tự thỏa thuận giữa các bên, theo đó, các bên có thể thỏa thuận về hiệu lực của hợp đồng, từ đó xác định đặc điểm của hợp đồng trong từng trường hợp cụ thể: nếu thỏa thuận việc phát sinh hiệu lực

từ thời điểm giao kết, hợp đồng đó mang đặc điểm là hợp đồng song vụ và hợp đồng thực tế; nếu hiệu lực của hợp đồng chỉ phát sinh khi hai bên chuyển giao tài sản vay, hợp đồng

đó mang đặc điểm của hợp đồng đơn vụ và hợp đồng thực tế Ngoài ra, yếu tố tự thỏa thuận còn được thể hiện ở việc trả lãi trong hợp đồng vay “bên vay chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định” theo đó các bên có thể thỏa thuận về việc áp dụng

Trang 5

trả lãi, lãi suất hay thời điểm trả Nếu có thỏa thuận về việc trả lãi, hợp đồng đó được xác định là hợp đồng có đền bù, nếu không nó là hợp đồng không có đền bù

Ưu điểm :

Định nghĩa đã nêu rõ được đối tượng của hợp đồng vay là tài sản Tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 105 bao gồm “Tiền, vật, giấy tờ có giá và các quyền tài sản khác” Trong đó, quyền tài sản không được xác định là đối tượng của hợp đồng vay vì mang đặc tính của tài sản vô hình Tiền là đối tượng phổ biến trong hợp đồng vay tài sản

và tiền cần phải đáp ứng được điều kiện “Do Ngân hàng Nhà nước phát hành và đang có giá trị lưu thông”, trong trường hợp vay ngoại tệ thì phải đáp ứng điều kiện một trong hai bên phải có giấy phép được lưu thông tiền tệ Nếu đối tượng của tài sản là vật thì phải là vật cùng loại, vật đã có hoặc sẽ có trong tương lai như vàng, thóc, gạo,… bên vay có nghĩa vụ hoàn lại vật cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng nên vật đặc định không được xác định là đối tượng của hợp đồng vay

Hình thức của hợp đồng vay tài sản có thể bằng miệng hoặc bằng văn bản Hình thức miệng thường được áp dụng trong những trường hợp như số lượng tài sản cho vay không lớn hoặc giữa các bên có mối quan hệ thân thiết Đối với với hợp đồng cho vay bằng miệng, khi xảy ra tranh chấp, bên cho vay phải chứng minh được là mình đã cho bên vay vay một số tiền hoặc một số tài sản nhất định Trong thực tế, nếu hình thức của hợp đồng vay tài sản bằng miệng mà có tranh chấp thì rất khó xác định quyền và nghĩa vụ của các bên Để làm cơ sở pháp lí cho việc giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản, các bên nên kí kết hợp đồng bằng văn bản Các bên có thể tự lập văn bản hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền các nhận văn bản đó

Hạn chế

Theo định nghĩa tiền tệ của Luật Ngân hàng nhà nước thì tiền bao gồm tiền giấy, tiền kim loại và các giấy tờ có giá trị như tiền Như vậy, bên cạnh đối tượng vay phổ biến

là đồng nội tệ (VND) ngân phiếu, cổ phiếu, trái phiếu… cũng có thể là đối tượng của hợp đồng vay tài sản Nhà nước ban hành những quy định nhằm hạn chế việc sử dụng ngoại

Trang 6

tệ trong các giao dịch, nhưng thực tế nó vẫn diễn ra và diễn ra khá phổ biến Thậm chí ở nước ta, người dân ít tiếp xúc với văn bản luật, nếu có tiếp xúc thì thường là các bộ luật, luật, còn các văn bản dưới luật (văn bản hướng dẫn thi hành luật) thì ít ai biết đến.Như vậy cần có một sự cụ thể hóa vào trong bộ luật dân sự Bên cạnh đó,các đối tượng là vàng, kim khí quý, đá quý, không nên để nó bao gồm trong đối tượng là vật Bởi vàng, kim khí quý, đá quý là những tài sản có giá trị đặc biệt, đối với vàng tiêu chuẩn quốc tế theo quy định của pháp luật ngân hàng nó còn là ngoại hối và được quản lý theo quy chế giống như là ngoại tệ Do đó, việc đánh đồng các loại tài sản nêu trên có thể dẫn đến việc pháp luật không được giải thích rõ, ảnh hưởng đến việc tuân thủ pháp luật trên thực tế mà

ở đây là hợp đồng vay tài sản

Hình thức của hợp đồng, theo thực tế xét xử cho thấy, các hợp đồng vay tài sản giao kết bằng lời nói nhiều hơn các hợp đồng giao kết bằng văn bản Đối với những hợp đồng vay tài sản giao kết bằng lời nói nếu không có bên thứ ba làm chứng, đã tạo rất nhiều khó khăn cho thẩm phán trong quá trình điều tra, thu thập chứng cứ để giải quyết tranh chấp.” Do đó, việc để các bên tự thỏa thuận về hình thức của hợp đồng, đặc biệt đối với hợp đồng miệng có thể làm bắt nguồn các hành vi vi phạm hợp đồng như vi phạm nghĩa vụ trả nợ, trả lãi… đồng thời gây khó khăn trong công tác giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng vay tài sản

Định hứng hoàn thiện:

Khi quy định về đối tượng của hợp đồng vay tài sản, không nên đánh đồng những tài sản có giá trị đặc biệt, ngoại tệ, vàng, kim khí đá quý với vật thông thường mà cần thiết phải tách bạch chúng thành một khoản riêng mang tính hướng dẫn, giải thích, từ đó mới điều kiện cho việc hiểu và thi hành pháp luật Cũng cần nói thêm, việc tách vàng thành một đối tượng đặc biệt trong hợp đồng vay tài sản cũng góp phần tạo cơ sở cho việc xây dựng cách tính lãi khi vay vàng – vấn đề mà bấy lâu, bộ luật dân sự vẫn còn đang bỏ ngỏ

Trang 7

BLDS 2015 cần quy định chi tiết hơn về hình thức của hợp đồng vay tài sản để tạo điều kiện thuận lợi cho Toà án có cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng vay tài sản; đồng thời đảm bảo được quyền lợi hợp pháp của các bên, bên vay không còn lý do để từ chối việc vay mượn của mình, còn bên cho vay không thể ép buộc bên vay hoặc lợi dụng giấy tờ vay nợ không rõ ràng để đi đòi nợ; theo hướng: với giá trị tài sản bao nhiêu thì hợp đồng vay tài sản phải được lập thành văn bản

2 Nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng vay tài sản

2.1 Nghĩa vụ của bên cho vay.

Để đảm bảo bên vay thực hiện các quyền của chủ sở hữu đối với tài sản vay đòi hỏi bên cho vay phải thực hiện một số nghĩa vụ nhất định được qui định tại điều 465 BLDS 2015:

“Bên cho vay có các nghĩa vụ sau đây:

1 Giao tài sản cho bên vay đầy đủ, đúng chất lượng, số lượng vào thời điểm và địa điểm đã thỏa thuận.

2 Bồi thường thiệt hại cho bên vay, nếu bên cho vay biết tài sản không bảo đảm chất lượng mà không báo cho bên vay biết, trừ trường hợp bên vay biết mà vẫn nhận tài sản đó.

3 Không được yêu cầu bên vay trả lại tài sản trước thời hạn, trừ trường hợp quy định tại Điều 470 của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan quy định khác”.

Ưu điểm

Pháp luật quy định rõ bên cho vay phải thực hiện những nghĩa vụ trên nhằm đảm bảo các quyền của bên cho vay đối với tài sản vay được hiện thực hóa, hướng tới mục đích đã định sẵn Là những điều khoản cơ bản của hợp đồng vay tài sản, nghĩa vụ của bên cho vay phải đảm bảo về việc giao vật đúng như đã thỏa thuận về số lượng, chất lượng, thời gian, địa điểm nhằm tạo điều kiện cho việc bên vay tiếp nhận tài sản, tài sản được sử dụng kịp thời, đúng dự tính

Trang 8

Giúp nhằm nâng cao trách nhiệm của bên cho vay trong trường hợp phải thông báo cho bên vay về tài sản không bảo đảm chất lượng Quy định tại khoản 3 về việc “Bên vay không được đòi lại tài sản trước thời hạn” cũng nhằm tạo điều kiện cho bên vay được

sử dụng tài sản một cách lâu dài, ổn định đồng thời có thời gian chuẩn bị cho việc thực hiện nghĩa vụ hoàn trả

Về hạn chế và định hướng hoàn thiện, quy định về “nghĩa vụ của bên cho vay”

chưa được chi tiết, dễ dẫn đến hiểu, giải thích sai luật Trong trường hợp bên cho vay

“biết tài sản không bảo đảm chất lượng mà không thông báo cho bên vay biết”, luật có quy định bên cho vay phải bồi thường thiệt hại, tuy nhiên một trong những điều kiện để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại là phải có thiệt hại thực tế xảy ra, do đó cần thiết đưa vào điều khoản này về sự kiện “… gây thiệt hại cho bên vay”, từ đó mới phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

2.2 Nghĩa vụ của bên vay

Sau khi hết hạn của hợp đồng,bên vay phải tự giác thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình phát sinh từ hợp đồng đã ký kết,được qui định tại điều 466 về Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

“1 Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2 Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3 Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

4 Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

Trang 9

5 Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;

b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”

Ưu điểm:

Nghĩa vụ của bên vay tài sản được xác định rõ ràng“phải trả vật đúng thời hạn,cùng loại, đúng số lượng, chất lượng

Tại khoản 2: “Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý”

đã chỉ ra hướng giải quyết linh hoạt, hợp lý đồng thời vẫn tôn trọng yếu tố tự thỏa thuận giữa các bên

Hạn chế và định hướng hoàn thiện:

Các quy định trên đây đã xác định rõ nghĩa vụ trả nợ của bên vay, đồng thời dự liệu các tình huống phát sinh từ đó đưa ra cách giải quyết phù hợp Tuy nhiên, quy định tại khoản 5 Điều 466 chưa thật sự rõ ràng, nêu ra các khái niệm mới như “lãi trên nợ gốc, lãi nợ quá hạn” mà chưa có sự giải thích cụ thể, xác đáng Điều này có thể gây khó khăn trong việc hiểu, áp dụng pháp luật vào giải quyết cách tranh chấp Định hướng hoàn thiện quy định này sẽ được phân tích kỹ hơn tại mục sau về “lãi và lãi suất”

3 Lãi suất và lãi suất trong hợp đồng vay

Về cách tính lãi suất trong hợp đồng vay tài sản, Điều 468 BLDS năm 2015 quy định:

“1 Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trang 10

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

2 Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ”.

Như vậy, mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS năm 2015 được tính bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này là 20%/năm nên được xác định là 10%/năm tương ứng với 0,83 %/ tháng Theo quy định tại khoản 5 Điều 466 BLDS năm 2015, bên cạnh tiền gốc thì bên vay có trách nhiệm thanh toán cho bên cho vay các khoản lãi, bao gồm: lãi trên nợ gốc trong thời hạn hợp đồng vay; lãi đối với phần tiền lãi chậm trả trong thời hạn hợp đồng vay và lãi trên nợ gốc quá hạn

Mức lãi suất cho vay theo quy định tại BLDS năm 2015 mang tính “tĩnh”, nghĩa là chỉ áp đặt mức lãi suất trần cố định 20%, mức lãi suất này sẽ không dao động tăng, giảm hay phụ thuộc vào quy định của Ngân hàng Nhà nước nữa Việc quy định mức lãi suất này có nhiều thuận lợi, như: bảo đảm tính rõ ràng, minh bạch, dễ áp dụng; các bên tham gia giao dịch vay tài sản có thể biết ngay hậu quả pháp lý khi ký xác lập và thực hiện hợp đồng; mức lãi suất tăng so với quy định của luật cũ không quá cao và tương đối phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội hiện nay Ngoài ra, quy định nêu trên còn hạn chế được tình trạng cho vay lãi nặng Tuy nhiên với quy định này, vấn đề đặt ra làm thế nào để xác định chính xác khoản tiền vay tại từng thời điểm trong trường hợp bên cho vay liên tục nhập các khoản lãi suất vào nợ gốc và yêu cầu bên vay phải trả lãi trên toàn bộ số nợ đó Khi

Ngày đăng: 11/07/2021, 21:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w