Luật nhân thân bao gồm hai hệ thống pháp luật: Luật nước mà cá nhân có quốc tịch Luật quốc tịch và luật nước nơi người đó cư trú Luật nơi cư trú haynói cách khác Luật nhân thân gồm 2 biế
Trang 1GIẢNG MÔN: GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT TRONG CÁC QUAN HỆ
DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI Nội dung chi tiết học phần:
Vấn đề 1 Quyền sở hữu tài sản trong Tư pháp quốc tế
1.1 Khái niệm quyền sở hữu trong tư pháp quốc tế
1.1.1 Hệ thống quan điểm về quyền sở hữu trong tư pháp quốc tế
1.1.2 Xung đột pháp luật từ quyền sở hữu trong tư pháp quốc tế
1.2 Giải quyết xung đột pháp luật từ quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài 1.2.1 Giải quyết xung đột pháp luật từ quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài theo pháp luật một số nước điển hình trên thế giới
1.2.2 Giải quyết xung đột pháp luật từ quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài theo tư pháp quốc tế Việt Nam
1.3 Quyền sở hữu tài sản của người nước ngoài tại Việt Nam
1.4 Thời điểm chuyển dịch quyền sở hữu và rủi ro trong tư pháp quốc tế 1.5 Vấn đề quốc hữu hoá trong tư pháp quốc tế
Vấn đề 2 Thừa kế trong Tư pháp Quốc tế
2.1 Khái niệm về thừa kế trong tư pháp quốc tế
2.2 Giải quyết xung đột pháp luật từ quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài 2.2.1 Giải quyết xung đột pháp luật từ quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài theo pháp luật một số nước điển hình trên thế giới
2.2.2 Giải quyết xung đột pháp luật từ quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài theo tư pháp quốc tế Việt Nam
Trang 22.3 Vấn đề di sản không có người thừa kế trong tư pháp quốc tế
Vấn đề 3 Quyền tác giả trong tư pháp quốc tế
3.1 Khái niệm về quyền tác giả trong tư pháp quốc tế
3.2 Các hình thức bảo hộ quốc tế đối với quyền tác giả
3.2.1 Bảo hộ quyền tác giả theo điều ước quốc tế đa phương
3.2.2 Bảo hộ quyền tác giả theo điều ước quốc tế song phương
3.2.3 Bảo hộ quyền tác giả theo nguyên tắc có đi có lại
3.3 Bảo hộ quyền tác giả có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam Vấn đề 4 Quyền sở hữu công nghiệp trong tư pháp quốc tế
4.1 Khái niệm về quyền sở hữu công nghiệp trong tư pháp quốc tế
4.2 Các hình thức bảo hộ quốc tế quyền sở hữu công nghiệp
4.2.1 Bảo hộ sở hữu công nghiệp theo các điều ước quốc tế đa phương 4.2.2 Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp theo các điều ước quốc tế song phương
4.2.3 Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp theo nguyên tắc có đi có lại
4.3 Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam
4.4 Hợp đồng li-xăng (licence)
4.4.1 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng li-xăng
4.4.2 Phân loại hợp đồng li-xăng
Trang 34.4.3 Hợp đồng li-xăng theo pháp luật Việt Nam
Vấn đề 5 Hợp đồng trong Tư pháp Quốc tế
5.1 Khái niệm hợp đồng trong tư pháp quốc tế
5.2 Giải quyết xung đột pháp luật trong lĩnh vực hợp đồng
5.2.1 Giải quyết xung đột pháp luật từ hình thức hợp đồng
5.2.2 Giải quyết xung đột pháp luật từ nội dung hợp đồng
5.2.3 Giải quyết xung đột pháp luật về tư cách pháp lý của chủ thể tham gia hợp đồng
5.3 Trình tự giao kết hợp đồng quốc tế
5.3.1 Giao kết hợp đồng giữa các bên vắng mặt
5.3.2 Giao kết hợp đồng giữa các bên có mặt
5.4 Các trường hợp trách nhiệm và những căn cứ miễn trách nhiệm
Vấn đề 6 Trách nhiệm ngoài hợp đồng trong Tư pháp quốc tế
6.1 Khái niệm trách nhiệm ngoài hợp đồng trong tư pháp quốc tế
6.2 Giải quyết xung đột pháp luật từ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài theo pháp luật nước ngoài và pháp luật quốc tế
6.3 Giải quyết xung đột pháp luật từ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài theo Tư pháp quốc tế Việt Nam
Vấn đề 7 Hôn nhân và Gia đình trong Tư pháp Quốc tế
7.1 Khái niệm hôn nhân và gia đình trong tư pháp quốc tế
Trang 47.2 Giải quyết xung đột pháp luật từ quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu
tố nước ngoài
7.2.1 Giải quyết xung đột pháp luật từ quan hệ kết hôn
7.2.2 Giải quyết xung đột pháp luật từ quan hệ ly hôn
7.2.3 Giải quyết xung đột pháp luật từ quan hệ nhân thân và tài sản giữa
- Tài liệu tham khảo/bổ sung:
3 Clarkson & Jonathan Hill, Jaffey on the conflict of laws (second
edition), Lexisnexis UK, 2002.
4 Jean Derruppe, Tư pháp quốc tế, Nhà pháp luật Việt - Pháp,
Nxb CTQG, Hà Nội, 2005.
5 Đỗ Văn Đại và Mai Hồng Quỳ, Tư pháp quốc tế Việt Nam - Quan
hệ dân sự, lao động, thương mại có yếu tố nước ngoài, Nxb Chính trị Quốc
Trang 5gia, Hà Nội, 2010.
6 Trần Minh Ngọc, Những điểm mới quan trọng trong Phần thứ 5 của Bộ luật dân sự năm 2015, Tạp chí Luật học, Số 6(193)/2016, Tr.50-59.
7 Trần Minh Ngọc, Đánh giá nội dung nhóm điều luật mới trong
Phần thứ 5 của Bộ luật dân sự năm 2015, Tạp chí Luật học, Số 1(200)/2017,
Tr.49-57.
8 Trần Minh Ngọc, Những điểm mới nổi bật trong nhóm các điều luật sửa đổi không cơ bản của Phần thứ năm Bộ luật dân sự năm 2015 về pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, Tạp chí
pháp luật và phát triển, Số 5+6/2017, Tr.72-77.
9 Trần Minh Ngọc (chủ biên), Pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài theo quy định của Bộ Luật Dân sự năm 2015,
Nxb.Lao động, Hà Nội, 2018.
10 Viện Đại học Mở Hà Nội, Giáo trình Trọng tài Quốc tế, Nxb.Công
an Nhân dân, Hà Nội, 2018
* Văn bản pháp luật
11 15 hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với các nước.
12 Bộ luật dân sự năm 2015.
13 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
14 Bộ nguyên tắc của UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế.
15 Công ước Berne năm 1886 về bảo hộ quyền tác giả.
16 Công ước New York năm 1958 về công nhận và thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài.
Trang 617 Công ước Paris năm 1883 về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp.
18 Thỏa ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hoá năm 1891.
19 Nghị định (Regulation) số 593/2008 của Liên minh châu Âu ngày 17/6/2008 về Luật áp dụng đối với các nghĩa vụ hợp đồng (Rome I).
20 Nghị định (Regulation) số 864/2007 của Liên minh châu Âu ngày 11/7/2007 về Luật áp dụng đối với các nghĩa vụ ngoài hợp đồng (Rome II).
21 Công ước toàn cầu về quyền tác giả năm 1952 (Geneve).
22 Công ước Lahay năm 1978 về luật áp dụng đối với chế độ hôn nhân gia đình.
23 Công ước Viên năm 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế.
24 Công ước Lahay ngày năm 1993 về hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế.
25 Hiệp định TRIPs về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ năm 1995.
26 Hiệp định Việt Nam - Hoa Kỳ về bảo hộ quyền tác giả năm 1998.
27 Hiệp ước PCT năm 1970 về hợp tác sáng chế.
28 Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014.
29 Luật đầu tư năm 2014.
30 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
31 Luật hộ tịch 2014
Trang 732 Luật nhà ở năm 2005, 2014.
33 Luật nuôi con nuôi năm 2010.
34 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005.
35 Luật thương mại năm 2005.
36 Nghị định của Chính phủ số 12/2006/NĐ-CP ngày 23/1/2006 quy định chi tiết thi hành Luật thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hoá với nước ngoài.
37 Nghị định của Chính phủ số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hôn nhân và gia đình.
38 Nghị định của Chính phủ số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật hộ tịch.
39 Nghị định của Chính phủ số 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật nuôi con nuôi.
40 Nghị quyết của Quốc hội số 19/2008/QH12 ngày 3/06/2008 về việc thí điểm cho tổ chức, cá nhân nước ngoài mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam.
41 Pháp lệnh về đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia trong thương mại quốc tế năm 2002.
– Vụ việc dân sự là các vụ án dân sự và các việc dân sự
Trong đó ta hiểu vụ án dân sự là: về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình,kinh doanh, thương mại, lao động,…còn việc dân sự là: các yêu cầu để Tòa án
Trang 8giải quyết các việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thươngmại, lao động,…
– Đối với yếu tố nước ngoài trong vụ việc dân sự được quy định cụ thể tạikhoản 2 Điều 464 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Theo đó, Vụ việc dân sự có yếu
tố nước ngoài là vụ việc dân sự thuộc một trong các trường hợp cụ thể sau đây:
+ Trường hợp thứ nhất: Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân,
cơ quan, tổ chức nước ngoài.
+ Trường hợp thứ hai: Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ
đó xảy ra tại nước ngoài.
+ Trường hợp thứ ba: Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài.
Các trường hợp giới hạn thẩm quyền:
Theo Điều 472 BLTTDS 2015 có các trường hợp bị giới hạn thẩm quyền cụ thể
như sau: “Các bên thỏa thuận lựa chọn phương thức giải quyết Trọng tài hoặc thỏa thuận lựa chọn Tòa án nước ngoài là một trong những trường hợp giới hạn thẩm quyền cơ bản trong Tư pháp quốc tế của nhiều nước.”
Trường hợp thứ nhất: Các bên thỏa thuận lựa chọn phương thức giải quyết Trọng tài:
Hình thức giải quyết tại Trọng tài là một phương thức giải quyết khác biệt vớiTòa án
Việc lựa chọn phương thức giải quyết Trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh
Trang 9chấp tư, các bên được lựa chọn Trọng tài viên, vụ việc được giải quyết một cách
bí mật về thông tin… Điều mà giải quyết tại Tòa án không có được
Khi thỏa thuận trọng tài đã có hiệu lực thì Tòa án phải từ chối thẩm quyền màkhông phân biệt vụ việc đó có thuộc thẩm quyền riêng biệt hay không
Trường hợp thứ hai: Các bên thỏa thuận lựa chọn Tòa án nước ngoài:
Đối với trường hợp các bên thỏa thuận lựa chọn Tòa án nước ngoài, lúc này Tòa
án Việt Nam sẽ không có thẩm quyền dù thuộc một trong các trường hợp tạiĐiều 469 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Đây là một quy định hợp lý và rất phùhợp, thể hiện sự tôn trọng ý chí của các bên trong việc lựa chọn Tòa án giảiquyết tranh chấp
Ta nhận thấy, khi các bên trong quan hệ lựa chọn Tòa án nào để giải quyết thìTòa án nước đó sẽ có thẩm quyền riêng biệt đối với vụ việc đó, các quốc giathành viên khác không được lựa chọn sẽ không có thẩm quyền giải quyết vàphải trả lại đơn khởi kiện hoặc đình chỉ đối với vụ việc đó
Tuy nhiên, đối với trường hợp vụ việc này thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa
án Việt Nam thì Tòa án Việt Nam vẫn sẽ có thẩm quyền giải quyết Bởi lẽ, thỏathuận lựa chọn Tòa án chỉ đơn thuần lựa chọn nơi giải quyết tranh chấp, còn vềphương thức vẫn là một cơ chế tài phán công, do đó thẩm quyền riêng biệt vẫn
sẽ tác động đến các chủ thể trong trường hợp này
Đối với trường hợp thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam thì Tòa
án Việt Nam sẽ không công nhận các bản án của Tòa án nước ngoài Vì vậy,trong trường hợp thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam thì bắt buộccác bên phải giải quyết tại Việt Nam để bản án có thể được thi hành tại lãnh thổViệt Nam
Trang 10- Khái niệm xung đột pháp luật: Xung đột pháp luật là hiện tượng pháp
lý trong đó hai hay nhiều hệ thống pháp luật cùng tham gia vào điềuchỉnh một quan hệ tư pháp quốc tế mà nội dung điều chỉnh trong mỗi hệthống pháp luật sự khác nhau
- Điều kiện phát sinh xung đột pháp luật khi có 2 điều kiện:
+ Mối quan hệ dân sự có YTNN đã xảy ra trên thực tế
+ Có ít nhất 2 hệ thống pháp luật có thể áp dụng để giải quyết thực chất vụviệc
NGOẠI LỆ: KHÔNG PHẢI MỌI QUAN HỆ DÂN SỰ THEO NGHĨA RỘNG CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI ĐỀU LÀM PHÁT SINH XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT
- Nguyên nhân xung đột pháp luật:
▪ Do mỗi nước có điều kiện cơ sở hạ tầng khác nhau, bởi vậy pháp luật củacác nước được xây dựng trên các nền tảng đó cũng có sự khác nhau
▪ Mỗi nước có các điều kiện khác nhau về chính trị, kinh tế – xã hội phongtục tập quán, truyền thống lịch sử…
Ví dụ: Một nam công dân Việt Nam muốn kết hôn với một nữ công dân Anh.
Lúc này, những vấn đề cần giải quyết là luật pháp nước nào sẽ điều chỉnh quan
hệ hôn nhân này hay nói chính xác hơn là họ sẽ tiến hành các thủ tục kết hôntheo luật nước nào Câu trả lời là hoặc luật của Anh hoặc luật của Việt Nam.Giả sử, hai công dân này đều thỏa mãn các điều kiện về kết hôn của pháp luậtAnh và Việt Nam, lúc đó, vấn đề chọn luật nước nào không còn quan trọng Bởi
vì, luật nào thì họ cũng được phép kết hôn Nhưng, nếu nam công dân Việt Nammới chỉ 19 tuổi, nữ công dân Anh 17 tuổi thì theo quy định của pháp luật hônnhân và gia đình của Việt Nam, cả hai đều chưa đủ độ tuổi kết hôn (Điều 8,Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định độ tuổi kết hôn với nam từ đủ –
Trang 1120 tuổi, nữ từ đủ – 18 tuổi) Trong khi đó, luật hôn nhân của Anh thì quy định
độ tuổi được phép kết hôn đối với nam và nữ là 16 tuổi Như vậy, đều về độ tuổiđược phép kết hôn nhưng pháp luật của cả hai quốc gia đều hiểu không giốngnhau Đấy chính là xung đột pháp luật
Xung đột pháp luật là hiện tượng đặc thù của tư pháp quốc tế vì:
▪ Trong các ngành luật khác, khi quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnhcủa chúng phát sinh, không có hiện tượng hai hay nhiều hệ thống pháp luậtkhác nhau cùng tham gia vào việc điều chỉnh cùng một quan hệ xã hội ấy,
và cũng không có sự lựa chọn luật để áp dụng vì các quy phạm pháp luậtcủa các ngành luật này mang tính tuyệt đối về mặt lãnh thổ
▪ Chỉ khi các quan hệ TPQT xảy ra thì mới có hiện tượng hai hay nhiều hệthống pháp luật khác nhau cùng tham gia điều chỉnh quan hệ đó và làmnảy sinh yêu cầu về chọn luật áp dụng nếu trong trường hợp không có quyphạm thực chất thống nhất
Phương pháp điều chỉnh của TPQT
- Tác động, để các quan hệ dân sự có YTNN
+ Phương pháp thực chất xây dựng và công nhận các quy phạm thực chất, quyđịnh trực tiếp về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khi tham gia quy phạm phápluật dân sự có yếu tố nước ngoài
Cách thức xây dựng quy phạm thực chất:
● Do các quốc gia thỏa thuận xây dựng nên
● Do quốc gia đơn phương ban hành
Trang 12● Do quốc gia thừa nhận các tập quán quốc tế
Quy phạm thực chất: là loại quy phạm mà nội dung của nó trực tiếp giải quyếtvấn đề hoặc quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của các bên, hoặc về biệnpháp chế tài mà không cần phải thông qua hệ thống pháp luật trung gian nào
Ví dụ: Khoản 1 điều 665 BLDS 2015 quy định: TH Điều ước qte mà CHXCNVN là thành viên có quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia QHDS có YTNN thì quy định của điều ước quốc tế đó được áp dụng Đây là quy phạm thực chất thông thường
Ưu và nhược điểm của phương pháp thực chất:
● Ưu điểm: hiệu quả cao và trực tiếp điều chỉnh các quan hệ xh của TPQT
● Nhược điểm: Các quy phạm thực chất, đặc biệt là quy phạm thực chấtthống nhất hiện không nhiều, dẫn đến việc xây dựng khó khăn, không đápứng được yêu cầu thực tiễn của việc điều chỉnh các quan hệ dân sự cóYTNN
+ Phương pháp xung đột: xây dựng và công nhận các quy phạm xung đột, lựachọn hệ thống pháp luật được áp dụng để điều chỉnh quan hệ pháp luật dân sự
có YTNN
Cách thức xây dựng quy phạm xung đột: 3 cách thức
● Do các quốc gia cùng thỏa thuận xây dựng nên điều ước quốc tế
● Do quốc gia đơn phương ban hành
● Do quốc gia thừa nhận (TPQT)
Trang 13ưu điểm và hạn chế của qp xung đột:
- ưu điểm: Số lượng quy phạm xung đột kể cả qpxđ thống nhất phong phúnên việc xây dựng các quy phạm xung đột xung đột dễ dàng hơn
- Nhược điểm: không trực tiếp giải quyết vấn đề, việc vận dụng quy phạmxung đột không đơn giản, có thể dẫn chiếu đến luật nước ngoài, mấtnhiều tgian hơn và yêu cầu cao đối với người làm công tác áp dụng phápluật
- Có 8 hệ thuộc luật:
1 Hệ thuộc luật nhân thân (lex personalis)
2 Hệ thuộc luật quốc tịch của pháp nhân
3 Hệ thuộc luật nơi có tài sản
4 Hệ thuộc luật Tòa án
5 Hệ thuộc luật nơi thực hiện hành vi
6 Hệ thuộc luật nơi xảy ra hành vi vi phạm pháp luật
7 Hệ thuộc luật lựa chọn
8 Hệ thuộc luật quốc kì
- QP XUNG ĐỘT LÀ QUY PHẠM CƠ BẢN NHẤT CỦA TPQT, để giảiquyết các quan hệ dân sự có ytnn
- Phương pháp xung đột được hình thành và xây dựng trên nền tảng hệthống các quy phạm xung đột của quốc gia Các quốc gia tự ban hành cácquy phạm xung đột trong hệ thống pháp luật nước mình để hướng dẫnchọn luật áp dụng để chủ động trong việc điều chỉnh các quan hệ tư phápquốc tế trong khi chưa xây dựng được đầy đủ các QPTC thống nhất Cácnước cùng nhau kí kết các ĐƯQT để xây dựng lên các QPXĐ thống nhất
Về yếu tố nước ngoài:
Trang 14▪ Chủ thể: người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài, hoặc người VN định cư
ở nước ngoài; (Loại trừ công dân của nc đó ra thì tất cả là ng nước ngoài)
▪ Khách thể của quan hệ đó ở nước ngoài: Ví dụ: DS thừa kế ở nước ngoài;
▪ Sự kiện pháp lý là căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt các quan hệ đó xảy
ra ở nước ngoài: Ví dụ: Kết hôn ở nước ngoài
Luật nhân thân bao gồm hai hệ thống pháp luật: Luật nước mà cá nhân có
quốc tịch (Luật quốc tịch) và luật nước nơi người đó cư trú (Luật nơi cư trú) haynói cách khác Luật nhân thân gồm 2 biến dạng:
– Luật quốc tịch được hiểu là luật của quốc gia mà đương sự là công dân, côngdân phải có năng lực hành vi dân sự được xác định theo pháp luật của nước màngười đó là công dân, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác
– Luật nơi cư trú được hiểu là luật của quốc gia mà ở đó đương sự có nơi cư trú
ổn định
- Hệ thuộc nhân thân không chỉ được áp dụng để điều chỉnh các quan hệnhân thân mà nó còn được áp dụng để điều chỉnh cả các quan hệ nhânthân và quan hệ thừa kế
VẤN ĐỀ 1: QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN TRONG TPQT
- LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN SỞ HỮU LÀ NÓI ĐẾN TÀI SẢN
- Quyền sở hữu bao gồm: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền địnhđoạt
- Trong các quyền của con người, quyền chiếm hữu và quyền sở hữu tàisản là những quyền cơ bản nhất cũng như đc sử dụng đến nhiều nhất
Trang 15trong các QHXH (dân sự).
1 Khái niệm
- Là chế định trung tâm trong PLDS
- Tồn tại nhiều phương thức sở hữu khác nhau (phụ thuộc vào hình thứcpháp luật, do các yếu tố: chính trị, kinh tế, văn hóa, phong tục tập quán,tôn giáo, vị trí địa lý, )
- Quyền sở hữu trong TPQT là quyền sở hữu trong các quan hệ sở hữu cóYTNN
- Qhe sở hữu có YTNN thường làm phát sinh xung đột pháp luật về quyền
sở hữu
- Nghiên cứu chế định quyền sở hữu có YTNN không chỉ giải quyết xungđột pháp luật về quyền sở hữu mà còn nghiên cứu vấn đề chuyển dịchquyền sở hữu, luật quốc hữu hóa, quyền sở hữu của con người nước ngoàitheo pháp luật của nước sở tại
2 Giải quyết xung đột pháp luật về quyền sở hữu
❖ Nguyên tắc chung:
- Áp dụng pháp luật nơi có tài sản hoặc luật nơi có đối tượng của quyền sở
hữu (Châu Âu, hệ thuộc pháp luật Anh - Mỹ, Nhật - Australia và ViệtNam)
- Hệ thuộc pháp luật của các quốc gia khác (Áo, Tây Ba Nha, Ai Cập, …)
giải quyết xung đột pháp luật về quyền sở hữu (từ trc thế kỉ 19) áp dụnglex rei sitae đối với BĐS và luật nhân thân của người có tài sản đối vớiđộng sản Phân ĐS và BĐS để áp dụng luật sao cho phù hợp
- Người nước ngoài đc sở hữu BĐS ở VN 50 năm, đc gia hạn 1 lần Theo
Luật nhà ở
- Ví dụ: Điều 99 Luật TPQT 1982 Thụy Sĩ Điều 13 Luật chung về luật áp
dụng 2006 của Nhật Bản; Điều 36, 37 Luật về luật áp dụng với QHDS cóYTNN 2010 của TQ, điều 19 Luật TPQT 2011 của Hàn Quốc, Điều 69Luật TPQT 2012 của Sec Việt Nam không có Luật TPQT
Trang 16- Luật nơi có tài sản quy định không chỉ nội dung quyền sở hữu, mà còn ấn
định các điều kiện phát sinh, chấm dứt và chuyển dịch quyền sở hữu
- Quyền sở hữu tài sản quy định tại điều 186 - 244 BLDS 2015
- Việc xác định tài sản là ĐS hay BĐS là tiền đề cho việc giải quyết xung đột pháp luật về quyền sở hữu có YTNN
- Ví dụ xung đột pháp luật về quyền sở hữu: Quyền sở hữu (vật quyền
nói chung) vốn là 1 chế định cơ bản trong pháp luật dân sự của mọi quốcgia, nhưng lại có quan điểm và điểm khác nhau
+ Ở Đức, ngoài QSH thì còn có các vật quyền như quyền địa dịch, quyềnhưởng dụng, quyền ưu tiên và các vật quyền bảo đảm
+ Ở Nhật Bản còn quy định thêm quyền canh tác, quyền lưu trữ, quyền ưutiên và cả quyền cầm cố, quyền thế chấp cũng được coi là 1 dạng vậtquyền
+ Ở TQ, bên cạnh QSH (Luật về tài sản 2007) cũng tập trung nhiều vàoquyền hưởng dụng, quyền địa dịch, vật quyền bảo đảm về quyền chiếmhữu được quy định riêng ngoài QSH
CHÚ Ý 1: Điều 158 BLDS 2015 quy định: Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật.
Điều 186 quy định về quyền chiếm hữu của chủ sở hữu: “Chủ sở hữu được
thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, chi phối tài sản của mình nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội.”
Điều 189 quy định về Quyền sử dụng: “Quyền sử dụng là quyền khai thác
công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản.”
Quyền sử dụng có thể được chuyển giao cho người khác theo thỏa thuận hoặctheo quy định của pháp luật
Điều 192 quy định về quyền định đoạt: “Quyền định đoạt là quyền chuyển
giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài
Trang 17có quyền chiếm hữu tài sản, nếu được chủ sở hữu chuyển giao hoặc do pháp luật quy định thuộc quyền sở hữu của chủ sở hữu
CHÚ Ý 4: PLDS quy định gồm: Chiếm hữu có căn cứ và chiếm hữu không
ưu hóa thủ tục đăng kí xác định thời điểm thời điểm chuyển giao quyền
sở hữu, xác định thời hiệu và 1 số thủ tục khác trong pháp luật hợp đồng,đồng thời xác định quyền năng của chủ thể đối với tài sản đó
CHÚ Ý: Khi xác định tài sản là ĐS hay BĐS, không chỉ dừng lại ở việc TS
đó là gì, có được liệt kê trong nhóm BĐS hay không mà còn phải xem xét về đặc tính di dời của nó
Vì 1 số thiết bị trong nhà trường chưa đc lắp đặt vào không gian, có thể vận chuyển từ nơi này đến nơi khác thì đc xếp là ĐS, nhưng khi chúng đc gắn vào không gian nhà, chương trình xây dựng, tức chúng hiện tại đã mất
Trang 18đi đặc tính di dời nên được xếp vào nhóm BĐS hay còn gọi là TS gắn với đất đai, nhà ở, công trình xây dựng
Vậy nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật về quyền sở hữu: PL của đa
số các quốc gia thường dựa vào PLQG và ĐƯ (Hiệp định TTTP) (có ghi nhận nguyên tắc áp dụng pl nơi có tài sản) để giải quyết xung đột pháp luật
về định danh (tài sản), thường áp dụng hệ thuộc luật nơi có tài sản
Ví dụ: Các điều từ Điều 833 BLDS 1995, Điều 766 BLDS 2005 đến điều 678BLDS 2015 (tuy phạm vi có khác nhau) nhưng đều thống nhất xác định quyền
sở hữu (và từ BLDS 2015 là các quyền khác đối với TS) sẽ chịu sự điều chỉnhcủa pl nước nơi có TS đó Điều này là phù hợp với cả lý luận và thông lệ quốc
tế khi GQXĐPL về QSH và quyền khác đối với TS
Cụ thể 1:
- Nơi tồn tại của TS là nơi bất kì ai cũng có thể xác định được 1 cách dễdàng, do đó sẽ áp đáp ứng được yêu cầu bảo đảm hiệu lực đối kháng đốivới người thứ 3 và sự ổn định của giao dịch
- Quan hệ quyền sở hữu và quyền khác đối với TS là quan hệ pháp lý liênquan trực tiếp đến việc chi phối, sử dụng tài sản nên việc xác định nộidung của các quyền này đương nhiên được cho là phù hợp với pl nướcnơi có TS
Cụ thể 2:
- Nếu áp dụng hệ thuộc luật của nước nào đó không phải nơi có TS thì sẽdẫn đến luật của nước này áp dụng cho tài sản nằm ở nước khác, mà nếu
ts phải đăng kí thì sẽ gây ra nhiều khó khăn, vướng mắc
- TS, nhất là BĐS nằm ở nước nào thì sẽ liên quan đến các lợi ích, kể cả lợiích công của nước đó nên việc áp dụng luật nơi có TS vừa dễ xác địnhvừa đảm bảo được sự hợp lý trong mối quan hệ lợi ích của các đương sự
và lợi ích nhà nước có liên quan
LƯU Ý RẰNG: Quyền sở hữu và quyền khác đối với TS về bản chất không
Trang 19phải là quan hệ giữa CN, PN với nhau mà về bản chất đó là QH giữa chủ thể có quyền và tài sản Tất cả quyền sở hữu và cả quyền khác đối với tài sản là quyền đối vật, chứ không phải là quyền đối nhân và quyền đối với
TS, trong đó bao gồm cả quyền sở hữu sẽ theo quy định của luật chứ không phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên
Hệ thuộc luật nơi có TS không được áp dụng để điều chỉnh các quan hệ sở hữu phát sinh trong các lĩnh vực:
- SHTT: mang tính lãnh thổ tuyệt đối, nghĩa là không kể các đối tượng
đó được sáng tạo bởi tổ chức, cá nhân trong nước hoặc nước ngoài thì chúng đều được bảo hộ theo pháp luật của nước nơi chúng được sáng tạo hoặc cung cấp văn bằng bảo hộ Điều này cũng giải thích vì sao các đối tượng của quyền SHTT không có xung đột pháp luật.
- TS của PNNN khi bị giải thể: TS của PN thuộc quyền sh của PN
- QH về TS liên quan đến các TS của QG đang ở nước ngoài: khi tham gia quan hệ sh có ytnn, quốc gia là chủ thể đặc biệt được hưởng quyền miễn trừ tư pháp Quyền miễn trừ QG: Miễn trừ tư pháp và miễn trừ TS
- TS liên quan đến các đối tượng của các đạo luật về quốc hữu hóa: TS
là đối tượng của đạo luật quốc hữu hóa, về ngtac quy chế ts sẽ tuân thủ theo pl của quốc gia ban hành đạo luật QHH đó, QHH là biến TS
tư nhân thành TS nhà nước
Điều kiện quốc hữu hóa: 2 điều kiện: Hoàn cảnh đặc biệt và sử dụng biện pháp đặc biệt
Trang 203 QSH của người nước ngoài tại VN
Trong TH này nlpl của công dân VN - Áp dụng pl VN, NLPL của công dân Hoa
Kì sẽ được xác định theo pháp luật Hoa Kì
Ví dụ: TAVN giải quyết vụ tranh chấp về quyền SH TS giữa công dân Hoa Kì và công dân VN và công dân Hoa Kì đó đang cư trú tại VN
Trong TH này, ngoài việc căn cứ vào pl Hoa Kì (Luật của nước mà đương sự mang quốc tịch) TAVN còn căn cứ vào các quy định của PLVN (khoản 2, điều
673 BLDS 2015 … CDan Hoa Kì sẽ có NLPL như công dân VN)
3.2 Bảo hộ quyền SH của các nhà đầu tư nước ngoài
- Điều 25 HP 1992 sdoi, điều 32, điều 51 khoản 3 HP 2013, nhà nướckhuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vốn, công nghệ vào
VN, bảo đảm QSH hợp pháp, DN có vốn đầu tư nước ngoài không bịquốc hữu hóa
- Luật đầu tư 2020: Điều 5 chính sách đầu tư và điều 10 - 14 bảo đảm đầu
tư
Ví dụ:
- Không bên nào được tước quyền SH hoặc quốc hữu hóa các khoản đầu tư
1 cách trực tiếp hoặc gián tiếp (khoản 1 điều 10 chương 4 HĐ Thương
Trang 21mại VN - HK)
- Theo Luật đầu tư 2020 thì các biện pháp bảo đảm đầu tư được quy định
từ điều 10 - 14 gồm các biện pháp bảo đảm (QSH TS, Hoạt động đầu tưkinh doanh, chuyển TS của nhà đầu tư nước ngoài ra nước ngoài, đầu tưkinh doanh trong TH thay đổi pháp luật và giải quyết tranh chấp tronghợp đồng kinh doanh)
- Vấn đề quyền sở hữu nhà ở của tổ chức, cá nhân nước ngoài tại VN theoquy định của pl hiện hành: Luật nhà ở số 65/2014/QH13; NĐ99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
1 số điều của luật nhà ở
- Quyền của chủ sở hữu nhà ở là tổ chức, cá nhân nước ngoài (điều 161Luật nhà ở 2014)
- Bao gồm căn hộ chung cư và nhà ở riêng lẻ trong dự án đầu tư xây dựngnhà ở thương mại
3.3 QSH của nhân viên ngoại giao nước ngoài và của tổ chức quốc tế tại VN.
- Được điều chỉnh bằng ĐƯQT, PL về quyền ưu đãi, miễn trừ dành cho cơquan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự và cơ quan đại diện của Tổchức quốc tế tại VN 7/9/1993
- Ví dụ về QSH: Ngôi nhà nổi tiếng của bà Edith Macefield ở Seattle, Tiểubang Washington, Hoa Kì
● QUỐC HỮU HÓA TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ
a Khái quát của quốc hữu hóa:
Quốc hữu hóa được hiểu là việc một quốc gia tước quyền sở hữu tài sản (công
cụ và tư liệu sản xuất, ruộng đất, hầm mỏ, xí nghiệp, ngân hàng, phương tiệngiao thông…) của một cá nhân hoặc một tổ chức để chuyển tài sản đó thuộcquyền sở hữu quốc gia Trong một số trường hợp nhất định, tài sản bị quốc hữuhóa là các cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài, và hậu quả sẽ có những vấn đề pháp
Trang 22lý phát sinh vượt quá thẩm quyền của tòa án địa phương hay quốc gia quy định.
Như vậy, quốc hữu hóa là việc đưa các tài sản (động sản và bất động sản) từ
sở hữu tư nhân thành sở hữu nhà nước Đây là một quyết định đơn phương quyền lực của nhà nước đối với các tài sản Việc quốc hữu hóa có thể kèm theo đền bù kinh phí đối với tư nhân Hay ngắn gọn là biến tài sản của tư nhân thành tài sản nhà nước
Ta có thể hiểu đơn giản, quốc hữu hóa là việc chuyển giao công cụ, tư liệu sảnxuất, ruộng đất, hầm mỏ, xí nghiệp, ngân hàng, phương tiện giao thông thuộc sởhữu tư nhân sang sở hữu nhà nước mà không phụ thuộc vào ý chí của chủ sở
hữu nhằm thực hiện các biện pháp cải cách kinh tế xã hội.
Quốc hữu hóa là một trong những biện pháp cải cách kinh tế xã hội không phải là biện pháp trừng phạt riêng lẻ, thực hiện với nhiều chủ thể.
Quốc hữu hóa là việc chuyển quyền sở hữu tài sản của một hoặc một số cá nhânhoặc một hoặc một số tổ chức thành tài sản công (tài sản thuộc quyền sở hữucủa quốc gia) Cá nhân và tổ chức có tài sản bị quốc hữu hóa có thể là công dânhoặc pháp nhân của nước thực hiện việc quốc hữu hóa hoặc có thể là công dânhoặc pháp nhân của một nước khác
Quốc hữu hóa được luật pháp quốc tế thừa nhận là hành động bảo vệ chủ quyềnxác đáng và phù hợp với điều kiện việc bồi thường cho chủ sở hữu cũ được tiếnhành một cách công bằng và nhanh chóng Trong trường hợp nước tiến hànhquốc hữu hóa không thực hiện việc bồi thường hoặc việc bồi thường không đápứng được các điều kiện trên, hành động quốc hữu hóa lúc đó được hiểu là tịchthu hoặc sung công
Như vậy, quốc hữu hóa là một hành vi biểu hiện quyền lực của Nhà nước vàdựa trên ý chí độc lập của Nhà nước tiến hành quốc hữu hóa Việc chuyển dịch
sở hữu trên cơ sở đạo luật quốc hữu hóa khác với việc chuyển dịch quyền sở
Trang 23hữu trong dân sự ở chỗ: việc chuyển dịch quyền sở hữu trong đạo luật quốc hữuhóa mang tính chất cưỡng chế và không cần có sự thỏa thuận giữa các chủ thểthuộc đối tượng điều chỉnh của đạo luật quốc hữu hóa Phạm vi tài sản bị quốchữu hóa thông thường được quy định cụ thể ngay trong các đạo luật về quốchữu hóa Các tài sản đều có thể trở thành đối tượng điều chỉnh của các đạo luậtquốc hữu hóa bất luận tài sản đó thuộc về ai, của công dân và pháp nhân nước
sở tại hay của người nước ngoài
b Những lý do dẫn tới việc quốc hữu hóa:
Thực tiễn cho thấy có nhiều nguyên nhân dẫn tới việc quốc hữu hóa nổi bật lànhững nguyên nhân sau:
– Hoàn cảnh lịch sử: Ở Áo sau Chiến tranh thế giới thứ hai tất cả các tài sản củangười Đức bất kể tư hay công từ các kỹ nghệ nhiên liệu thô trở thành tài sảncông của nước Áo
– Khi một số công ty, tập đoàn lớn ở các nước phát triển đang lâm vào tìnhtrạng phá sản Nếu các công ty đó phá sản, nó sẽ có ảnh hưởng vô cùng lớn tớinền kinh tế quốc gia (đặc biệt là các ngân hàng), bởi vậy, Nhà nước có thể tiếnhành quốc hữu hóa để cứu vớt các công ty đó, tránh những hậu quả khôn lường
về sau
– Quốc hữu hóa góp phần để Nhà nước ngăn ngừa tình trạng độc quyền tư nhân
– Đối với các nước đang phát triển, có nguồn tài nguyên dồi dào, việc chính phủquốc hữu hóa một số ngành công nghiệp quan trọng có ý nghĩa to lớn với nềnkinh tế quốc dân là rất cần thiết để tránh việc các nước giàu có đầu tư vào đểkhai thác tài nguyên dẫn đến nền kinh tế bị phụ thuộc
– Quốc hữu hóa những ngành kinh tế quan trọng như ngân hàng, hầm mỏ, kỹnghệ sắt, thép, hệ thống giao thông xe lửa Đằng sau những quyết định này là ý
Trang 24tưởng, nhà nước phải sở hữu những công ty này để có thể điều hành nền kinh tếmột cách hiệu quả Hoặc cố ý đập tan những thế lực chính trị của các cá nhân cóđược nhờ thế lực kinh tế Quốc hữu hóa cũng có thể xảy ra vì lo sợ là nhữngngành quan trọng bị rơi vào tay những tập đoàn ngoại quốc.
– Ngoài ra, quốc hữu hóa đôi khi là trường hợp của sự trả đũa về chính trị khibang giao giữa các quốc gia liên quan Trong trường hợp này là quốc gia nhậnvốn đầu tư với quốc gia của nhà đầu tư không được tốt đẹp
Và dù với bất cứ lý do nào khi quốc hữu hóa thì chúng ta thường phải chấpnhận những thiệt hại, vì các hãng nhà nước thường làm việc không hiệu quảbằng các hãng tư nhân Một điều quan trọng nữa là phải bồi thường cho các chủ
cũ như thế nào cũng là một vấn đề quan trọng cần được quy định cụ thể
c Hiệu lực của đạo luật quốc hữu hóa:
Đa số các quốc gia đều thừa nhận là hiệu lực của đạo luật quốc hữu hóa mangtính trị ngoại lãnh thổ: vượt ra phạm vi quốc gia: vượt ra phạm vi lãnh thổ
Đạo luật quốc hữu hóa do quốc gia ban hành không chỉ có hiệu lực đối với tàisản là đối tượng của quốc hữu hóa nằm trên lãnh thổ nước mình mà ngay cả tàisản đó nằm ở lãnh thổ nước ngoài
Trong thực tiễn các quốc gia nước ngoài chỉ trả lại tài sản là đối tượng của đạoluật quốc hữu hóa trong trường hợp vào thời điểm đạo luật quốc hữu hóa cóhiệu lực thì tài sản vẫn đang nằm trên lãnh thổ quốc gia tiến hành quốc hữu hóa
Vì một lí do nào đó tài sản đó bị đem ra nước ngoài thì quốc gia đó sẽ trả lại
d Vấn đề quốc hữu hóa của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay:
Vấn đề quốc hữu hóa được Nhà nước quy định cụ thể lần đầu tại Điều 23 vàĐiều 25 của Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001) và kế thừa, phát triển ở Hiến pháp
Trang 252013 Các luật chuyên ngành cũng có những quy định cụ thể về vấn đề quốchữu hóa.
Ta có thể thấy, vấn đề quốc hữu hóa trong bối cảnh hiện nay ở Việt Nam khôngđược áp dụng mà Nhà nước chỉ quy định về vấn đề trưng mua, trưng dụng Nhưvậy, Nhà nước ta trên cơ sở tôn trọng quyền sở hữu hợp pháp của cá nhân, tổchức, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của người dân, giữ vững ổn định về kinh
tế cũng như chế độ chính trị
Kết quả của quốc hữu hóa trong lĩnh vực kinh tế luôn mang tính hai mặt: vừamang lại lợi ích kinh tế cho Nhà nước nhưng đồng thời lại hạn chế “niềm tin”của các cá nhân, tổ chức khi đầu tư kinh doanh tại Việt Nam do quyền sở hữuhợp pháp về tài sản của họ có thể bị xâm phạm, với quy định về trưng mua,trưng dụng, tổ chức, cá nhân sẽ được bồi thường khi Nhà nước thực hiện việctrưng dụng tài sản thuộc sở hữu của tổ chức, cá nhân đó Tính hai mặt của lợiích kinh tế sẽ dẫn đến những hậu quả về chính trị Chính vì vậy, quy định vềvấn đề quốc hữu hóa là một trong những vấn đề khá “nhạy cảm” và cần đượcquan tâm Quy định về vấn đề quốc hữu hóa là sự thể hiện những quan điểm,chính sách của Nhà nước Việt Nam về ổn định và phát triển nền kinh tế nóiriêng cũng như ổn định và phát triển về mọi mặt của đời sống xã hội nói chung
Nền kinh tế ở Việt Nam vừa mang những đặc tính chung của nền kinh tế thịtrường, lại vừa mang tính đặc thù là định hướng xã hội chủ nghĩa, thể hiện quamột trong những đặc điểm sau: chế độ sở hữu công về tư liệu sản xuất chủ yếuđóng vai trò nền tảng của nền kinh tế quốc dân Hiện nay Nhà nước ta lại cóchính sách khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia hoạt động kinh doanh,ban hành các văn bản hướng dẫn chuyển đổi sở hữu công ty nhà nước nhằm tạođiều kiện cho các thành phần kinh tế khác trở thành đồng chủ sở hữu của cáccông ty này, chứ không tiến hành quốc hữu hóa các doanh nghiệp để hình thànhnên chế độ sở hữu công của chủ nghĩa xã hội
Trang 26Ta có thể thấy, quan điểm về vấn đề quốc hữu hóa nói riêng và chế độ sở hữucông cộng nói chung ở Việt Nam hiện nay đã thể hiện quan điểm về đường lốixây dựng đất nước trong thời kì quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội Nền kinh tế thịtrường ở Việt Nam được xây dựng mang một màu sắc đặc biệt, bởi nó gắn vớiđịnh hướng xã hội chủ nghĩa tức là mục tiêu hàng đầu là giải phóng và pháttriển lực lượng sản xuất, động viên mọi nguồn lực trong và ngoài nước để xâydựng cơ sở vật chất kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội, trên cơ sở đó cải thiện từngbước đời sống nhân dân.
Như vậy, phát triển kinh tế thị trường ở nước ta là đòn bẩy để giúp phát triểnkinh tế nhanh chóng và bền vững, là phương tiện quan trọng để thực hiện xã hộihóa xã hội chủ nghĩa nền sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất – kĩ thuật của chủnghĩa xã hội Chính vì vậy, quy định ở nước ta hiện nay về vấn đề xây dựng nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với sự tham gia của nhiều thànhphần kinh tế, đa hình thức sở hữu chứ không thừa nhận quốc hữu hóa để sở hữunhà nước giữ địa vị độc tôn không hề mâu thuẫn với mục tiêu xây dựng chủnghĩa xã hội trong thời kì quá độ
=> PLVN: TS của nước ngoài không bị quốc hữu hóa trong mọi trường hợp Vấn đề không mong muốn thì nhà đầu tư nước ngoài được bồi thường thỏa đáng
=> Cải cách ruộng đất không phải quốc hữu hóa vì lấy của địa chủ chia cho nhân dân còn QHH là biến tài sản tư nhân thành tài sản của nhà nước
=> Việt Nam có tiến hành QHH không?
CÂU HỎI ÔN TẬP:
Câu 1: Quyền sở hữu trong tư pháp quốc tế và giải quyết xung đột về quyền sở hữu trong tư pháp quốc tế.
a Khái niệm
Là quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài
Trang 27Quyền sở hữu là tổng hợp các quyền năng của các chủ thể được pháp luật thừanhận trong quá trình chiếm hữu, sử dụng, định đoạt các tài sản.
Trong khoa học TPQT, quyền sở hữu của các chủ thể được đề cập đến là quyền
sở hữu có yếu tố nước ngoài Yếu tố nước ngoài trong quan hệ sở hữu được thểhiện ở những điểm sau:
– Chủ thể tham gia quan hệ sở hữu là người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài,nhà nước nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài…
VD: Một nước ngoài Việt Nam tham quan du lịch, mang theo tài sản cá nhân.Việc công nhận quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của người nướcngoài ở Việt Nam hay không sẽ dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật Quan
hệ sở hữu của người nước ngoài đối với tài sản tồn tại trên lãnh thổ Việt Namđược gọi là quan hệ sở hữu có yếu tố nước ngoài
– Khách thể của quan hệ sở hữu là tài sản tồn tại ở nước ngoài
– Sự kiện pháp lý làm phát sinh thay đổi chấm dứt quan hệ sở hữu xảy ra ngay
ở nước ngoài VD: Một công ty XNK Việt Nam kí một hợp đồng mua bán ngoạithương với một pháp nhân nước ngoài về việc nhập khẩu linh kiện máy móc vềViệt Nam Hợp đồng này được kí trên lãnh thổ nước ngoài và đã phát sinh hiệulực pháp lý, hàng hóa đang tồn tại trên lãnh thổ nước ta Vậy trong trường hợpnày, quyền sở hữu của công ty Việt Nam sẽ được xác định như thế nào sẽ dựavào các quy phạm TPQT Quan hệ sở hữu này cũng được gọi là quan hệ sở hữu
có yếu tố nước ngoài
b Xung đột pháp luật về quyền sở hữu
+ Giải quyết xung pháp luật về quyền sở hữu ở các nước
• Áp dụng nguyên tắc luật nơi có tài sản: tài sản ở đâu sẽ áp dụng pháp luậtcủa nước đó
• Không những quy định nội dung quyền sở hữu mà còn ấn định cả điềukiện phát sinh, chấm dứt chuyển dịch quyền sở hữu
• Pháp luật nơi có tài sản còn được áp dụng để xác định quyền sở hữu đối
Trang 28với tài sản đang trên đường vận chuyển: tài sản quá cảnh quốc gia.
• Hệ thuộc luật nơi có tài sản còn được áp dụng người thủ đắc trung thực:người chiếm hữu vật ngay tình: Việc bảo hộ người chiếm hữu vật ngay tìnhtrước yêu cầu đòi lại tài sản của chủ sở hữu pháp luật đã quy định rõ nước ápdụng: luật nơi có tài sản vào thời điểm thủ đắc hoặc luật nơi có tài sản đangtranh chấp
• Luật nơi có tài sản áp dụng định danh tài sản là động sản hay bất độngsản
• Các trường hợp ngoại lệ liên quan đến tàu bay, tàu biển, tài sản phápnhân, tài sản trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ
+ Giải quyết xung đột pháp luật về quyền sở hữu theo pháp luật Việt Nam – Theo nguyên tắc chung: luật nơi có tài sản theo K1 Điều 766: “ Việcxác lập, thực hiện, thay đổi chấm dứt quyền sở hữu tài sản, nội dung nội dungquyền sở hữu đối với tài sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có tàisản đó”
Người nước ngoài có quyền sở hữu đối với tài sản của họ tại Việt Nam; thừanhận quyền sở hữu của người nước ngoài trong phạm vi hành xử tuân theo phápluật nước nơi có tài sản
– Khoản 2 Điều 766 thì quyền sở hữu đối với động sản trên đường vận chuyểnđược xác định theo nước động sản được chuyển đến nếu không có thỏa thuậnkhác
Pháp luật của nước nơi tồn tại tài sản, nơi tài sản chuyển đến>>phù hợp phápluật Việt Nam vì nước ta là nước nhập siêu
Nguyên tắc luật nơi có tài sản cũng được pháp luật Việt Nam áp dụng định danhtài sản theo khoản 3 Điều 766 BLDS thì việc phân biệt tài sản là động sản hoặcbất động sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có tài sản
Bất động sản: đất, nhà ở, công trình gắn liền với đất đai; tài sản gắn liền với đất;tài sản trong lòng đất
Trang 29Phân biệt bất động sản hoặc động sản: không căn cứ vào giá trị tài sản mà căn cứ vào tính chất cơ học của tài sản, di chuyển hay không di chuyển.
Các trường hợp ngoại lệ liên quan: tàu bay, tàu biển: khoản 4 Điều 766 việc xácđịnh quyền sở hữu đối với tàu bay dân dịch và tàu biển tại Việt Nam phải tuântheo pháp luật về hàng không dân dụng và pháp luật về hàng hải của Cộng Hoà
Xã hội Việt Nam
Tàu bay: áp dụng theo pháp luật của quốc gia nơi đăng ký(luật hàng không dândụng 2006 tàu bay).Còn các trường hợp tàu biển là pháp luật mà quốc gia màtàu biển mang quốc tịch
Ngoài ra trong hệ luật nơi có tài sản cũng không được áp dụng để điều chỉnhquan hệ sở hữu phát sinh trong một số lĩnh vực:
• Các quan hệ về tài sản của pháp nhân nước ngoài khi pháp nhân đó giải thể: ápdụng theo pháp luật của nước pháp nhân mang quốc tịch
• Quan hệ về tài sản liên quan đến tài sản của quốc gia đang ở nước ngoài
• Các quan hệ về sở hữu đối với các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ: quyềntác giả, quyền sở hữu công nghiệp: mang tính lãnh thổ;
• Các quan hệ tài sản liên quan đến đối tượng của các đạo luật quốc hữu hoá:tuân theo đạo luật quốc hữu hoá: xuất phát từ quyền định đoạt tài sản của quốcgia mình
Câu 2: Hiệu lực của đạo luật quốc hữu hóa.
a Khái niệm
Quốc hữu hóa là việc chuyển giao công cụ, tư liệu sản xuất, ruộng đất, hầmmỏ,xí nghiệp, ngân hàng, phương tiện giao thông thuộc sở hữu tư nhân sang sởhữu nhà nước mà không phụ thuộc vào ý chí của chủ sở hữu nhằm thực hiện cácbiện pháp cải cách kinh tế xã hội
Tài sản là đối tượng quốc hữu hóa có thể là cá nhân, pháp nhân trong nước cũng
có thể là cá nhân nước ngoài, pháp nhân nước ngoài
Quốc hữu hóa là một trong những biện pháp cải cách kinh tế xã hội không phải
Trang 30là biện pháp trừng phạt riêng lẻ, thực hiện với nhiều chủ thể.
Việc quốc hữu hóa có thể bồi thường hoặc không có bồi thường
b Hiệu lực của đạo luật quốc hữu hóa
Đa số các quốc gia đều thừa nhận là hiệu lực của đạo luật quốc hữu hóamang tính trị ngoài lãnh thổ: vượt ra phạm vi quốc gia: vượt ra phạm vi lãnhthổ
Đạo luật quốc hữu hóa do quốc gia ban hành không chỉ có hiệu lực đối với tàisản là đối tượng của quốc hữu hóa nằm trên lãnh thổ nước mình mà ngay cả tàisản đó nằm ở lãnh thổ nước ngoài
Trong thực tiễn các quốc gia nước ngoài chỉ trả lại tài sản là đối tượng của đạoluật quốc hữu hóa trong trường hợp vào thời điểm đạo luật quốc hữu hóa cóhiệu lực thì tài sản vẫn đang nằm trên lãnh thổ quốc gia tiến hành quốc hữu hóa
Vì một lí do nào đó tài sản đó bị đem ra nước ngoài thì quốc gia đó sẽ trả lại
Câu 3: Quyền sở hữu của người nước ngoài tại Việt Nam
Quyền sở hữu của người nước ngoài tại Việt Nam là quyền sở hữu tài sản củangười nước ngoài ở Việt Nam Vấn đề này được thể hiện trong các quy định cụthể của pháp luật:
Trong Hiến pháp nước CHXHCNVN Điều 25 quy định: “ Nhà nước Việt Namkhuyến khích các tổ chức cá nhân nước ngoài đầu tư vốn vào Việt Nam, phùhợp với Pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế, bảo đảm quyền sở hữu hợppháp đối với tài sản và các quyền lợi khác của tổ chức cá nhân nước ngoài.Theo K2 Điều 761 Bộ luật dân sự thì “người nước ngoài có năng lực pháp luậtdân sự tại Việt Nam như công dân Việt Nam”
Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý giữa Việt Nam – Liên Bang Nga đã quyđịnh: Công dân nước ký kết này được hưởng trên lãnh thổ của nước kí kết kia
sự bảo hộ pháp luật đối với các quyền nhân thân và tài sản mà nước kí kết kiadành cho công dân của mình
Tại Luật Đầu tư 2020 nhà nước CHXHCNVN bảo đảm đối xử công bằng và
Trang 31thỏa đáng đối với các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam Trong thờigian đầu tư vào Việt Nam, vốn và tài sản của bên nước ngoài không bị trưng thutrưng dụng hoặc tịch thu bằng các biện pháp hành chính, không bị quốc hữuhóa Nếu do thay đổi của pháp luật Việt Nam mà làm thiệt hại đến lợi ích củacác bên tham gia hoạt động đầu tư thì nhà nước có biện pháp giải quyết thỏađáng đối với quyền lợi của nhà đầu tư: thay đổi mục tiêu hoạt động dự án; giảmmiễn thuế trong khuôn khổ pháp luật;thiệt hại của nhà đầu tư nước ngoài đượccoi là các khoản lỗ và được chuyển sang cho các năm tiếp theo…
Các chủ đầu tư nước ngoài vào Việt Nam được chuyển ra nước ngoài:
– Lợi nhuận thu được trong quá trình kinh doanh;
– Những khoản tiền trả cho việc cung cấp kỹ thuật hoặc dịch vụ;
– Tiền gốc và lãi các khoản cho vay trong quá trình hoạt động
2.2 Giải quyết xung đột pháp luật từ quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài 2.2.1 Giải quyết xung đột pháp luật từ quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài theo pháp luật một số nước điển hình trên thế giới
2.2.2 Giải quyết xung đột pháp luật từ quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài theo tư pháp quốc tế Việt Nam
Trang 322.3 Vấn đề di sản không có người thừa kế trong tư pháp quốc tế
CÂU HỎI:
Câu 1: Khái niệm quan hệ thừa kế trong tư pháp quốc tế và trình bày phương pháp giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế theo pháp luật Việt Nam.
a Khái niệm
Quan hệ thừa kế trong tư pháp quốc tế là quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài.Trong khoa học TPQT, một quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài khi có cácdấu hiệu:
- Chủ thể: người để lại thừa kế và người thừa kế mang quốc tịch khác nhau hoặc một bên mang quốc tịch của một nước này và bên kia là người quốc tịch.
- Di sản thừa kế đang tồn tại ở nước ngoài.
- Sự kiện pháp lý làm phát sinh thay đổi, chấm dứt quan hệ thừa kế xảy ra ở nước ngoài: một công dân Việt Nam sống chết ở nước ngoài, khi chết còn một số tài sản trong nước Quan hệ thừa kế giữa người thân (vợ, con) của người đó đối với tài sản trên phát sinh dựa trên cơ
sở pháp lý là cái chết của công dân Việt Nam ở nước ngoài.
Khi một quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài xảy ra do pháp luật của các nước
có những quy định khác nhau về quan hệ thừa kế nên xảy ra xung đột mà không
Trang 33+ Thừa kế theo pháp luật
Theo quy định tại Điều 649 thừa kế theo pháp luật
– Thừa kế theo pháp luật phải tuân theo pháp luật của nước mà ngườithừa kế có quốc tịch trước khi chết Như vậy, theo quy định trên thì di sản thừa
kế là động sản pháp luật Việt Nam đã áp dụng hệ thuộc luật quốc tịch của người
để lại di sản để giải quyết
– Quyền thừa kế đối với bất động sản phải tuân theo pháp luật củanước nơi có bất động sản đó
Đối với việc thừa kế theo di chúc của công dân Việt Nam ở nước ngoài: Điều
660 BLDS quy định những di chúc bằng văn bản dưới đây cũng có giá trị như
di chúc được công chứng, nhà nước chứng nhận hoặc ủy ban nhân dân xã,phường thị trấn chứng thực:
– Di chúc của người đang đi trên tàu bay, máy bay có xác nhận củangười chỉ huy phương tiện đó;
– Di chúc của công dân Việt Nam đang ở nước ngoài có chứng nhậncủa cơ quan lãnh sự, đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước đó
Đối với những trường hợp nếu công dân Việt Nam lập di chúc ở nước ngoàitheo pháp luật của nước ngoài thì các di chúc này được coi là hợp pháp nếupháp luật nước ngoài được áp dụng để lập di chúc không trái với các nguyên tắc
Trang 34cơ bản của PL CHXHCNVN.
c Nguyên tắc giải quyết các vấn đề thừa kế có yếu tố nước ngoài theo các Điềuước quốc tế
Nước CHXHCNVN đã kí kết với nhiều nước hiệp định tương trợ tư pháp về
DS, HNGĐ và HS với các nước: Đức, Nga, Séc, Cu ba, Hungari, Bal an…Nguyên tắc chỉ đạo trong vấn đề thừa kế được ghi nhận trong các HĐ này lànguyên tắc bình đẳng giữa công dân các bên trong quan hệ thừa kế: công dânnước kí kết này bình đẳng với công dân nước kí kết kia trong việc lập, hủy bỏ dichúc đối với tài sản đang có và các quyền cần thực hiện ở nước kí kết kia cũngnhư về khả năng nhận tài sản hoặc các quyền theo cùng những điều kiện mà nhànước kí kết kia dành cho công dân nước mình
Căn cứ vào: Điều 45 Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam – Đức, Điều 25Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam và Nga; Điều 25 Hiệp định tương trợ tưpháp Việt Nam và Séc, Điều 34 Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam và Cuba;Điều 43 Hiệp định tương trợ tư pháp Việt Nam và Bungari; Điều 45 Hiệp địnhtương trợ tư pháp Việt Nam và Hungary quyền thừa kế được xác định như sau:– Đối với động sản: quyền thừa kế động sản được xác định theo phápluật nước kí kết mà người để lại tài sản thừa kế là công dân khi chết
– Đối với bất động sản: quyền thừa kế bất động sản được xác địnhtheo pháp luật của nước kí kết nơi có bất động sản
– Việc phân biệt động sản và bất động sản các hiệp định này ghinhận nguyên tắc: Pháp luật luật các nước kí kết nơi có tài sản thừa kế là phápluật được áp dụng
Về thừa kế theo di chúc các hiệp định trên ghi nhận các nguyên tắc cơ bản sau:– Về hình thức: di chúc của công dân một nước kí kết được coi là cógiá trị về mặt hình thức nếu nó phù hợp với:
● Pháp luật của nước kí kết mà người để lại di chúc là công dân vàothời điểm lập di chúc hoặc vào thời điểm người ấy chết;
Trang 35● Pháp luật của nước kí kết nơi lập di chúc.
● Những nguyên tắc trên cũng được thừa nhận với việc hủy bỏ dichúc
– Về năng lực lập và hủy bỏ di chúc: khi giải quyết vấn đề này cáchiệp định áp dụng nguyên tắc luật quốc tịch, cụ thể: năng lực lập hoặc hủy bỏ dichúc và hậu quả pháp lý của những thiếu sót về sự thể hiện ý chí của người đểlại di chúc được xác định theo pháp luật của nước kí kết mà người để lại di chúc
là công dân khi lập hoặc hủy bỏ di chúc
Câu 2: Di sản không có người thừa kế.
Không có người hưởng số di sản mà người đó để lại
Ở một số nước như Nga, Hungary, Tây Ban Nha, Italia… nhà nước hưởng một
số di sản thừa kế với tư cách là người thừa kế Ở một số nước khác như Anh,
Mỹ, Pháp nhà nước hưởng số di sản như là tài sản vô chủ trên cơ sở thực thiquyền chiếm hữu các tài sản vô chủ đó
Trong TPQT Việt Nam thì theo quy định tại Điều 622 BLDS 2015:
“Trường hợp không có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản thì tài sản còn lại sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhận thừa kế thuộc
về Nhà nước.”
Không có người thừa kế có thể rơi vào một trong ba trường hợp sau:
– Người được hưởng truất quyền thừa kế;
– Không có người hưởng;
– Từ chối hưởng.
Đối với người không quốc tịch áp dụng nơi mà người đó cư trú, nếu cư trú trên lãnh thổ nước ta thì áp dụng pháp luật VN;
Đối với người hai quốc tịch: áp dụng nguyên tắc quốc tịch hữu hiệu;
Vấn đề di sản không có người thừa có còn được giải quyết thông qua các HIỆPĐỊNH TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP Trong 7 HĐ đều ghi nhận: Nếu theo pháp luật
Trang 36về thừa kế của nước ký kết mà không còn người nào thừa kế thì động sản sẽđược giao lại cho nước kí kết mà người để lại di sản là công dân khi chết, còncác bất động sản thì thuộc về nước nơi có bất động sản.
1 Khái niệm về thừa kế theo quy định pháp luật Việt Nam
Theo quy định tại Bộ luật Dân sự, thừa kế là việc chuyển dịch tài sản của người đã chết cho người còn sống, tài sản để lại được gọi là di sản
Thừa kế được chia thành thừa kế theo pháp luật và thừa kế theo di chúc.
Thừa kế theo di chúc được quy định tại chương XXII của Bộ luật dân sự năm
2015 là việc chuyển dịch tài sản thừa kế của người đã chết cho người còn sốngtheo sự định đoạt của người đó khi còn sống
Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình chongười khác sau khi chết Theo quy định tại Điều 659 Bộ luật Dân sự năm 2015
về phân chia di sản theo di chúc được thực hiện như sau:
Việc phân chia di sản được thực hiện theo ý chí của người để lại di chúc; nếu
di chúc không xác định rõ phần của từng người thừa kế thì di sản được chiađều cho những người được chỉ định trong di chúc, trừ trường hợp có thỏathuận khác
Về nguyên tắc, di sản thừa kế sẽ được phân chia theo ý chí của người để lại dichúc Tuy nhiên, những trường hợp được quy định tại Điều 644 Bộ luật dân sựnăm 2015 lại được hưởng di sản thừa kế mà không phụ thuộc vào nội dung dichúc - tức là không phụ thuộc vào việc di chúc có nhắc đến họ hay không Cụthể
Điều 644 Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
1 Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật,
Trang 37trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:
a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.
2 Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng
di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này
Thừa kế theo pháp luật là việc dịch chuyển tài sản thừa kế của người đã chết
cho người sống theo quy định của pháp luật nếu người chết không để lại di chúchoặc để lại di chúc nhưng di chúc không hợp pháp Thừa kế theo pháp luật đượcquy định tại chương XXIII của Bộ luật dân sự năm 2015 Cụ thể, các trườnghợp sau đây sẽ thực hiện phân chia di sản thừa kế theo pháp luật:
Điều 650 Những trường hợp thừa kế theo pháp luật
1 Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:
a) Không có di chúc;
b) Di chúc không hợp pháp;
c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm vớingười lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc khôngcòn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;
d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không cóquyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản
Trang 382 Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:
a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;
b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;
c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họkhông có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùngthời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng disản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế
Việc phân chia di sản thừa kế theo pháp luật căn cứ theo thứ tự hàng thừa kếtheo nguyên tắc: Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằngnhau Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn
ai ở hàng thừa kế trước đó đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyềnhưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản
- Hàng thừa kế thứ nhất bao gồm những người sau: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ,cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
- Hàng thừa kế thứ hai bao gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột,chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ôngnội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
- Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột,cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà ngườichết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết màngười chết là cụ nội, cụ ngoại
2 Khái niệm về thừa kế trong tư pháp quốc tế
Trong tư pháp quốc tế, khái niệm thừa kế cũng được hiểu với nghĩa tương tựquy định pháp luật Dân sự (vì đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế cũng làcác quan hệ dân sự) tuy nhiên, điểm khác là quan hệ thừa kế trong tư pháp quốc
Trang 39tế là quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài Trong khoa học TPQT, một quan hệthừa kế có yếu tố nước ngoài khi có một trong các dấu hiệu sau
- Chủ thể có yếu tố nước ngoài: Người để lại thừa kế và người thừa kế mang quốc tịch khác nhau hoặc một bên mang quốc tịch của một nước này
và bên kia là người quốc tịch.
- Di sản thừa kế đang ở nước ngoài.
- Sự kiện pháp lý làm phát sinh thay đổi, chấm dứt quan hệ thừa kế xảy ra
ở nước ngoài: một công dân Việt Nam sống và chết ở nước ngoài, khi chết còn một số tài sản trong nước Quan hệ thừa kế giữa người thân (vợ, con) của người đó đối với tài sản trên phát sinh dựa trên cơ sở pháp lý là cái chết của công dân Việt Nam ở nước ngoài.
3 Xung đột pháp luật về thừa kế là gì ?
Tương tự khái niệm chung về xung đột pháp luật trong tư pháp quốc tế, xungđột pháp luật về thừa kế trong tư pháp quốc tế là hiện tượng hai hay nhiều hệthống pháp luật khác nhau cùng có thể được áp dụng để điều chỉnh quan hệ thừa
kế mà nếu áp dụng một trong các hệ thống pháp luật thể sẽ xảy ra các kết quảkhông giống nhau
Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng xung đột pháp luật:
Hiện tượng xung đột pháp luật về thừa kế nói trên có thể xuất phát từ những nguyên nhân sau đây:
- Trên thực tế, mỗi nước có điều kiện cơ sở hạ tầng khác nhau, bởi vậy pháp luật của các nước được xây dựng trên các nền tảng đó cũng có sự khác nhau.
- Các điều kiện khác nhau về chính trị, kinh tế – xã hội phong tục tập quán, truyền thống lịch sử thậm chí là sự khác nhau về đặc điểm thể chất, tâm lý của công dân cũng dẫn đến sự khác nhau trong các quy định pháp luật cùng điều chỉnh một vấn đề.
Trang 404 Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế theo quy định pháp luật Việt Nam
Thừa kế có yếu tố nước ngoài cũng được sếp vào nhóm quan hệ dân sự có yếu
tố nước ngoài Quan hệ này đã xuất hiện từ lâu và được xem như là một hiệntượng tất yếu khách quan của giao lưu dân sự quốc tế và đồng thời các quốc giacũng phải thừa nhận về tình trạng có thể xảy ra hiện tượng xung đột pháp luậtgiữa các nước trong việc điều chỉnh vấn đề này Nguyên tắc giải quyết tìnhtrạng xung đột pháp luật trong quan hệ thừa kế theo pháp luật Việt Nam dựatrên hại hệ thuộc luật chính là Luật nơi có tài sản và Luật quốc tích Cụ thể,Điều 680 và Điều 681 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định như sau:
Điều 680 Thừa kế
1 Thừa kế được xác định theo pháp luật của nước mà người để lại di sản thừa
kế có quốc tịch ngay trước khi chết.
2 Việc thực hiện quyền thừa kế đối với bất động sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó.
hợp với pháp luật của một trong các nước sau đây:
a) Nước nơi người lập di chúc cư trú tại thời điểm lập di chúc hoặc tại thờiđiểm người lập di chúc chết;