1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luật Dân sự. Đánh giá các quy định về giám hộ theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 (nêu những ưu điểm, hạn chế và định hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật)

13 36 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá các quy định về giám hộ theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 (nêu những ưu điểm, hạn chế và định hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật)
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Dân sự
Thể loại Bài luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 36,67 KB
File đính kèm Đánh giá quy định về giám hộ trong BLDS 2015.rar (33 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC MỞ ĐẦU 2 NỘI DUNG 2 I Cơ sở lí luận 2 1 Khái niệm giám hộ 2 2 Đặc điểm giám hộ 3 3 Ý nghĩa giám hộ 4 II Ưu điểm, hạn chế các quy định về giám hộ trong BLDS 2015 và định hướng hoàn thiện các qu.

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2

NỘI DUNG 2

I Cơ sở lí luận 2

1 Khái niệm giám hộ: 2

2 Đặc điểm giám hộ: 3

3 Ý nghĩa giám hộ: 4

II Ưu điểm, hạn chế các quy định về giám hộ trong BLDS 2015 và định hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật: 5

1 Những ưu điểm của Bộ luật Dân sự 2015 về giám hộ: 5

2 Một số vấn đề bất cập của Bộ luật Dân sự 2015 về giám hộ: 9

3 Một số kiến nghị sửa đổi: 10

KẾT LUẬN 11

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12

Trang 2

ĐỀ BÀI: Đánh giá các quy định về giám hộ theo quy định của

Bộ luật Dân sự năm 2015 (nêu những ưu điểm, hạn chế và định hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật)

MỞ ĐẦU

Giám hộ là một chế định quan trọng trong pháp luật dân sự Việt Nam, các quy định của chế định thể hiện sự quan tâm sâu sắc của nhà nước và xã hội ta đối với người chưa thành niên có hoàn cảnh đặc biệt, người mất năng lực hành vi dân sự Nhìn chung những quy định về chế định giám hộ trong Bộ luật Dân sự đã phần nào đáp ứng những đòi hỏi cấp thiết từ thực tiễn cuộc sống, giải quyết những nhu cầu bức thiết trong nhân dân liên quan đến việc giám hộ Tuy nhiên, việc áp dụng các quy định của chế định này vào các quan hệ xã hội còn gặp nhiều khó khăn, bất cập trên thực tiễn Vì vậy sau đây em xin được trình bày đánh giá của mình về các quy định giám hộ của Bộ luật Dân sự 2015

và đưa ra một số hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật Trong quá trình làm bài có thể có những sai sót, em rất mong các thầy cô có thể bỏ qua cho em và em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô để em học thêm được nhiều kinh nghiệm và sẽ hoàn thiện tốt hơn về nhận thức của mình đối với môn Luật Dân sự Việt Nam Em xin chân thành cảm ơn

NỘI DUNG

I Cơ sở lí luận

1 Khái niệm giám hộ:

Khái niệm giám hộ có thể được xem xét dưới nhiều góc độ:

Trang 3

Về mặt ngôn ngữ đơn thuần, thì từ “giám” được hiểu là sự theo dõi và kiểm tra, đôn đốc và từ “hộ” được hiểu là bảo vệ gìn giữ Giám

hộ là một danh từ có nghĩa rằng người đủ tư cách trông nom một người thanh thiếu niên chưa trưởng thành.1

Về mặt thuật ngữ Luật dân sự thì giám hộ là việc chăm sóc, quản

lý tài sản, thực hiện các quyền dân sự, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ

Bộ luật Dân sự 2015 đã quy định tại Điều 46: Giám hộ là việc cá nhân, pháp nhân được luật quy định, được Ủy ban nhân dân cấp xã cử, được Tòa án chỉ định hoặc được quy định tại khoản 2 Điều 48 của Bộ luật này (sau đây gọi chung là người giám hộ) để thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi (sau đây gọi chung là người được giám hộ)

2 Đặc điểm giám hộ:

Về chủ thể: chủ thể của quan hệ giám hộ được giới hạn theo quy định của pháp luật, nói cách khác không phải ai cũng là chủ thể của quan hệ pháp luật về giám hộ Chủ thể của giám hộ được chia làm 3 nhóm chính: người giám hộ, người được giám hộ và người giám sát Đối với từng nhóm này pháp luật đều có những quy định cụ thể về từng đối tượng, điều kiện cũng như cách thức hình thành, thay đổi, chấm dứt

Về mục đích giám hộ: giám hộ là chế định nhằm khắc phục tình trạng của người có năng lực pháp luật dân sự nhưng không thể bằng

1 Nguyễn Như Ý (2013), Đại từ điển tiếng Việt, Bộ GD&ĐT- trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, Nxb Văn

hóa - Thông tin.

Trang 4

hành vi của mình xác lập, thực hiện được quyền, nghĩa vụ của họ vì họ

là những người chưa thành niên mà không có sự chăm sóc, giáo dục của cha mẹ; người có khó khăn trong nhận thức và điều khiển hành vi; người mất năng lực hành vi dân sự.2

Về các cơ chế giám hộ theo Bộ luật Dân sự 2015 được hình thành theo hai cơ chế chế: giám hộ đương nhiên, giám hộ cử Mỗi cơ chế giám hộ này đều có những nội dung về chủ thể, điều kiện, cách thức hình thành, thay đổi, chấm dứt khác nhau Tùy theo đó quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể trong từng quan hệ giám hộ cũng có sự khác nhau

Ngoài ra, trong quan hệ giám hộ thì một người có thể giám hộ cho nhiều người nhưng một người chỉ có thể được một người giám hộ trừ trường hợp người giám hộ là cha mẹ, ông bà

3 Ý nghĩa giám hộ:

 Về mặt pháp lý:

Chế định giám hộ tạo ra cơ sở để người được giám hộ có thể thực hiện các quyền mà pháp luật quy định cho mình:

- Chế định giám hộ nhằm khắc phục tình trạng của người có năng lực pháp luật dân sự nhưng không thể bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện được quyền và nghĩa vụ của họ vì họ là những người không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ hoặc bị mất năng lực hành

vi dân sự

- Chế định giám hộ đảm bảo sự bình đẳng giữa các công dân trong xã hội trong việc được hưởng các quyền do luật định và việc thực thi

2 Đinh Văn Thanh, Nguyễn Minh Tuấn, Phạm Công Lạc (2019), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, Trường Đại học

Luật Hà Nội, tập 1, Nxb Công an nhân dân Hà Nội.

Trang 5

các quyền đó trên thực tế.

- Ngoài ra, chế định giám hộ tạo ra cơ sở pháp lý cho việc nâng cao trách nhiệm của người giám hộ đối với người được giám hộ Quyền

và nghĩa vụ được quy định cụ thể trong chế định này sẽ là khuôn khổ pháp lý cần thiết cho việc thực hiện của người được giám hộ

 Về mặt xã hội:

- Chế định giám hộ góp phần phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc ta là truyền thống tương thân tương ái, xây dựng và củng cố tình cảm gắn bó tốt đẹp giữa các thành viên trong gia đình và trong cộng đồng xã hội

- Thông qua các quy định về giám hộ còn thể hiện sự quan tâm, trách nhiệm của Nhà nước đối với những người có hoàn cảnh đặc biệt nói trên 3

II Ưu điểm, hạn chế các quy định về giám hộ trong BLDS 2015

và định hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật:

1 Những ưu điểm của Bộ luật Dân sự 2015 về giám hộ:

 Chế định giám hộ được BLDS 2015 quy định từ Điều 46 đến Điều 63, theo quy định của BLDS năm 2015, giám hộ bao gồm giám hộ đương nhiên, giám hộ được cử Đặc biệt, việc giám hộ phải được đăng ký tại

cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về hộ tịch Quy định này là cần thiết để hợp thức hóa quan hệ giám hộ giữa người giám hộ và người được giám hộ, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của không chỉ người được giám hộ, người giám hộ và cả người thứ ba trong quan hệ dân sự Nếu như việc giám hộ không ghi

3 Phạm Thị Trinh (2017), Giám hộ theo Bộ luật Dân sự năm 2015, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật

Hà Nội, Hà Nội.

Trang 6

nhận rõ tư cách pháp lý của người được giám hộ và người giám hộ sẽ dẫn đến sự thiếu chính xác trong việc xác định trách nhiệm của người giám hộ đối với người được giám hộ Về giám sát người giám hộ: trên tinh thần chủ động, tôn trọng ý chí của những người thân thích của người được giám hộ, việc giám sát người giám hộ trước hết được ghi nhận dựa trên sự thỏa thuận của những người thân thích của người được giám hộ để cử ra người giám sát việc giám hộ Điều này bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của những chủ thể này cũng như bảo đảm việc giám hộ được thực hiện bằng sự thiện chí, tự nguyện của các chủ thể.4

 Điều 46 Bộ luật Dân sự 2015 đã quy định cụ thể về việc giám hộ và thay cụm từ “tổ chức” thành “pháp nhân” Trước đây, BLDS 2005 quy định ngoài cá nhân thì cơ quan tổ chức có thể làm người giám hộ Tuy nhiên trong Bộ luật này lại không nêu điều kiện của cơ quan tổ chức khi làm giám hộ; cơ quan tổ chức này có cần thiết phải là pháp nhân hay không hay cụ thể là cơ quan tổ chức cụ thể nào Vì pháp luật không có quy định nên chúng ta có thể suy đoán bất cứ cơ quan tổ chức hợp pháp nào cũng có thể là người giám hộ mà không cần phải

có tư cách pháp nhân Tuy nhiên theo quy định về chủ thể của quan hệ dân sự, tổ chức phải có tư cách pháp nhân thì mới tham gia quan hệ dân sự với tư cách là người giám hộ được Để khắc phục sự thiếu sót

đó thì Bộ luật Dân sự 2015 đã quy định pháp nhân là người giám hộ tại Khoản 1 Điều 46 BLDS 2015 và điều kiện của pháp nhân làm người giám hộ tại Điều 50 BLDS 2015

4 Th.S Trần Thị Diệu Hương, “Bảo vệ người yếu thế trong pháp luật dân sự Việt Nam”, Viện Nghiên cứu lập pháp

thuộc ủy ban thường vụ quốc hội.

Trang 7

 Theo quy định của khoản 3 Điều 58 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì được giám hộ chỉ buộc phải đặt ra nếu người chưa thành niên chưa đủ

15 tuổi Do đó, đó có thể hiểu được giám hộ không bắt buộc phải đặt

ra đối với người chưa thành niên ở độ tuổi từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ

18 tuổi Quy định này của Bộ luật Dân sự năm 2005 đã phần nào hạn chế quyền được chăm sóc, bảo vệ, giáo dục của người chưa thành niên Căn cứ Điều 47 Bộ luật Dân sự 2015 đã bổ sung thêm đối tượng được giám hộ Để người chưa thành niên có thể được chăm sóc, bảo

vệ, giáo dục tốt hơn, Bộ luật dân sự năm 2015 đã bỏ quy định giới hạn

độ tuổi cho người chưa thành niên thuộc trường hợp phải có người giám hộ Theo quy định của khoản 1 Điều 47 Bộ luật Dân sự năm

2015 thì tất cả những người chưa thành niên khi thuộc trường hợp phải có người giám hộ thì đều được giám hộ kể cả người chưa thành niên có độ tuổi từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi Quy định của Bộ luật Dân sự 2015 là hợp lý, đáp ứng được nhu cầu thực tiễn của cuộc sống vì cho dù người chưa thành niên có độ tuổi từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi đã có sự phát triển nhất định về thể chất, tinh thần và

có thể tự mình tham gia một số giao dịch dân sự tuy nhiên họ vẫn cần phải có người đại diện để tham gia các giao dịch dân sự có giá trị lớn đặc biệt là các giao dịch dân sự có phát sinh tranh chấp

Khoản 1 điều 52 BLDS 2015 quy định “anh ruột là anh cả hoặc chị

ruột là chị cả là người giám hộ, nếu anh cả hoặc chị cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì anh ruột hoặc chị ruột tiếp theo là người giám hộ, trừ trường hợp có thỏa thuận anh ruột hoặc Chị ruột khác làm người giám hộ” Theo quy định này thì anh cả hoặc chị cả là

người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên nếu anh cả hoặc chị cả có đủ điều kiện làm người giám hộ Những anh ruột và chị

Trang 8

ruột tiếp theo của người chưa thành niên chỉ có thể thỏa thuận ai là người giám hộ cho người chưa thành niên khi anh ruột là anh cả hoặc chị ruột là chị cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ Quy định này của BLDS 2015 đã khắc phục những bất cập trong thực tiễn áp dụng của BLDS 2005 Vì trong thực tiễn cho thấy không phải lúc nào anh ruột là anh cả hoặc chị ruột là chị cả cũng sẵn lòng làm người giám hộ cho người em chưa thành niên Mặc dù họ có đủ điều kiện làm người giám hộ nhưng vì lý do khác nhau thường thỏa thuận cho anh ruột hoặc chị ruột tiếp theo là người giám hộ Chẳng hạn như họ lấy cớ là họ đã có gia đình riêng không còn ở chung với người em chưa thành niên được giám hộ sẽ khó khăn cho họ nên họ thường thỏa thuận với anh ruột chị ruột tiếp theo làm người giám hộ

 BLDS 1995 quy định người được giám hộ là người bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức làm chủ được hành

vi của mình Ngược lại, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định người được giám hộ là người mất năng lực hành vi dân sự Quy định như vậy sẽ mang tính bao quát hơn, toàn diện hơn, bảo vệ tốt hơn quyền

và lợi ích hợp pháp của những người cần được giám hộ Bởi lẽ người mất năng lực hành vi dân sự sẽ có thể không chỉ bao gồm người mắc bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức làm chủ được hành vi

 Căn cứ Điều 48 Bộ luật Dân sự 2015, quy định cụ thể hơn về người giám hộ so với Bộ luật Dân sự 2005: Trường hợp người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ lựa chọn người giám hộ cho mình thì khi họ ở tình trạng cần được giám hộ, cá nhân, pháp nhân được lựa chọn là người giám hộ nếu người này đồng ý Việc lựa chọn người giám hộ phải được lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực; Việc

Trang 9

giám hộ không chỉ được thực hiện bởi cá nhân: “Một cá nhân, pháp nhân có thể giám hộ cho nhiều người.” 5

2 Một số vấn đề bất cập của Bộ luật Dân sự 2015 về giám hộ:

Qua nghiên cứu các quy định về chế định người giám hộ trong

Bộ luật Dân sự 2015, em nhận thấy có một số vướng mắc sau:

 Bộ luật chưa quy định cụ thể về trình tự, thủ tục Tòa án chỉ định người giám hộ khi có tranh chấp giữa những người giám hộ quy định tại Điều 52 và Điều 53 của Bộ luật này về người giám hộ hoặc khi có tranh chấp về việc cử người giám hộ

 Bên cạnh đó, cũng chưa có quy định cụ thể Tòa án nơi người được giám hộ đăng ký thường trú hay Tòa án nơi người được giám hộ đang sinh sống có thẩm quyền chỉ định người giám hộ nếu như người được giám hộ đăng ký thường trú một nơi nhưng sinh sống một nơi

 Trong thực tế áp dụng pháp luật, tuy rằng kết quả giám định của cơ quan có thẩm quyền là căn cứ cần phải có để Tòa tuyên bố hoặc không tuyên bố người bị mất năng lực hành vi dân sự Nhưng quá trình một người bị mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác được giám định để kết luận họ không có khả năng nhận thức, làm chủ hành

vi đến tuyên bố của tòa án là một quá trình dài và phức tạp

 Bên cạnh đó, BLDS 2015 quy định việc giám sát việc giám hộ cũng cần phải được xác lập theo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã và việc giám hộ giám sát phải được đăng ký theo quy định của pháp luật

về hộ tịch Những thay đổi này làm cho việc giám hộ phải trải qua những thủ tục hành chính quá rườm rà mà những người yếu thế khó

Trang 10

có thể thực hiện được, việc xác lập giám hộ trở nên khó khăn hơn 6 từ

đó càng làm cho cơ chế giám hộ bị hạn chế thực hiện trên thực tế

3 Một số kiến nghị sửa đổi:

Từ những bất cập trong quy định về giám hộ của Bộ luật Dân sự hiện hành đã nêu ở trên và thực tiễn thi hành pháp luật, em xin đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về giám hộ như sau:

 Nâng cao nghiệp vụ pháp luật cho cán bộ tư pháp đặc biệt là cán bộ

tư pháp xã phường thị trấn, cần đẩy mạnh công tác tập huấn, phổ biến, bồi dưỡng kiến thức pháp luật đồng thời nâng cao trách nhiệm

cá nhân đối với mỗi cán bộ công chức Tăng cường đội ngũ cán bộ

và nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ thực thi pháp luật qua các lớp huấn luyện chuyên môn nghiệp vụ, tổ chức các hội thảo, nghiên cứu các vấn đề liên quan đến giám hộ,…

 Kiến nghị nghiên cứu bổ sung thêm chế định đồng giám hộ: Bộ luật Dân sự 2015 quy định một người chỉ có thể được một người giám

hộ, trừ trường hợp là cha mẹ, ông bà cùng giám hộ Tuy nhiên, tại tọa đàm cho Bộ tư pháp tổ chức về góp ý dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi), nhiều chuyên gia Pháp Luật Dân sự cho rằng việc quy định một người chỉ có thể được quy định một người giám hộ có phần cứng nhắc, hiện nay có nhiều nước trên thế giới có quy định về chế định đồng giám hộ Theo kinh nghiệm tham khảo từ Pháp, người chưa thành niên có thể có hai người giám hộ, một người giám hộ về nhân thân và một người giám hộ về tài sản Trong chế độ đồng quyết định sẽ phân công phạm vi giám hộ của từng người đến đâu, nếu bất

6 PGS.TS Bùi Đăng Hiếu (2015), “Cần xử lí bất cập quy định về cơ chế giám hộ”

Trang 11

đồng ý kiến thì theo sự phân công hoặc cuối cùng là do Tòa án phán quyết

 Đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành chính để đơn giản hóa các thủ tục giám hộ, tránh rườm rà, rắc rối, làm trở ngại cho người dân

 Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật nói chung và pháp luật dân sự liên quan đến giám hộ nói riêng cũng như

là quyền bình đẳng, nhu cầu được bảo vệ và chăm sóc của những người yếu thế, trách nhiệm của các cơ quan tổ chức, gia đình và cá nhân đối với việc giám hộ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người vốn đã bị thiệt thòi trong xã hội Đặc biệt việc tuyên truyền này cần được chú trọng ở các vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, nâng cao nhận thức pháp luật cũng như là ý thức tôn trọng và chủ động thực hiện pháp luật

 Cơ quan quản lý được giám hộ cần quy định rõ các cơ chế về kiểm tra thanh tra giám sát việc thực hiện vấn đề giám hộ cũng như có sự thống kê chi tiết phân loại về các vấn đề liên quan đến giám hộ cho người được giám hộ từ đó có những giải pháp phù hợp, kịp thời

KẾT LUẬN

Chế định giám hộ là chế định mang nhiều ý nghĩa cả về mặt lập pháp và về mặt xã hội Những chế định đó trong BLDS 2015 đã thể hiện được điểm mới tiến bộ phù hợp với tình hình phát triển của đất nước và hội nhập với tinh thần chung của các nước trên thế giới Những điểm mới này không những đưa các quy định về giám hộ gần gũi hơn với thực tiễn mà còn giải quyết những vướng mắc mà quy định về giám hộ trước đó mang lại Tuy nhiên, khi áp dụng các quy định về giám hộ trên thực tiễn đã phát sinh những bất cập, hạn chế làm

Ngày đăng: 25/05/2023, 16:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Như Ý (2013), Đại từ điển tiếng Việt, Bộ GD&ĐT- trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, Nxb Văn hóa - Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ điển tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Như Ý
Nhà XB: Bộ GD&ĐT- trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam
Năm: 2013
2. Trịnh Minh Hiền (2015), Giám hộ - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giám hộ - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Trịnh Minh Hiền
Nhà XB: Trường Đại học Luật Hà Nội
Năm: 2015
3. Phạm Thị Trinh (2017), Giám hộ theo Bộ luật Dân sự năm 2015, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giám hộ theo Bộ luật Dân sự năm 2015
Tác giả: Phạm Thị Trinh
Nhà XB: Trường Đại học Luật Hà Nội
Năm: 2017
4. Đinh Văn Thanh, Nguyễn Minh Tuấn, Phạm Công Lạc (2019), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, tập 1, Nxb Công an nhân dân Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam
Tác giả: Đinh Văn Thanh, Nguyễn Minh Tuấn, Phạm Công Lạc
Nhà XB: Trường Đại học Luật Hà Nội
Năm: 2019
5. Th.s Trần Thị Diệu Hương, “Bảo vệ người yếu thế trong pháp luật dân sự Việt Nam”, Viện Nghiên cứu lập pháp thuộc ủy ban thường vụ quốc hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ người yếu thế trong pháp luật dân sự Việt Nam
Tác giả: Th.s Trần Thị Diệu Hương
Nhà XB: Viện Nghiên cứu lập pháp thuộc ủy ban thường vụ quốc hội
6. Hứa Văn Nghiệp (2018), “Những vấn đề pháp lý về giám hộ - thực tiễn áp dụng trong việc giải quyết vụ án dân sự tại tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn”, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề pháp lý về giám hộ - thực tiễn áp dụng trong việc giải quyết vụ án dân sự tại tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn
Tác giả: Hứa Văn Nghiệp
Nhà XB: Trường Đại học Luật Hà Nội
Năm: 2018
10.Vương Thanh Thúy (2017), Phần bình luận Điều 47, Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2015, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr 121 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2015
Tác giả: Vương Thanh Thúy
Nhà XB: Nxb. Công an nhân dân
Năm: 2017
11.Phạm Văn Tuyết (2018), “Quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 về giám hộ và vướng mắc cần khắc phục”, tạp chí Luật học, (6), tr 72-81 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 về giám hộ và vướng mắc cần khắc phục
Tác giả: Phạm Văn Tuyết
Nhà XB: tạp chí Luật học
Năm: 2018
12.PGS.TS Bùi Đăng Hiếu (2015), “cần xử lí bất cập quy định về cơ chế giám hộ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: cần xử lí bất cập quy định về cơ chế giám hộ
Tác giả: PGS.TS Bùi Đăng Hiếu
Năm: 2015
13.Https://www.bqllang.gov.vn/tin-tuc/tin-tong-hop/5006-nhung-diem-moi-cua-boluat-dan-su-2015.html. Truy cập ngày 4/4/2020 Link
14.Https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?Itemid=2425 , truy cập ngày 4/4/2020 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w