1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế trang trại tại huyện phú lương, tỉnh thái nguyên

79 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế trang trại tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
Tác giả Nguyễn Đình Hoàng
Người hướng dẫn TS. Phạm Thị Lý
Trường học Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Kinh tế Nông Nghiệp
Thể loại Luận văn thạc sỹ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 708,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Trang trại - loại hình kinh tế của sản xuất nông nghiệp đã và đang phát triển mạnh mẽ ở nước ta trong những năm gần đây gắn liền với sự phát tr

Trang 1

1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

-

NGUYỄN ĐÌNH HOÀNG

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI TẠI HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Kinh tế Nông Nghiệp

Mã số: 60 - 31- 10

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học:

TS Phạm Thị Lý Thái Nguyên – 2012

Trang 2

2

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trang trại - loại hình kinh tế của sản xuất nông nghiệp đã và đang phát triển mạnh mẽ ở nước ta trong những năm gần đây gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo Sự phát triển của kinh tế trang trại đã mang lại những thành tựu hết sức quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng tập trung chuyên canh, sản xuất hàng hóa, tạo ra những sản phẩm xuất khẩu có giá trị cao Kinh tế trang trại phát triển mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội, môi sinh, môi trường góp phần phủ xanh đất trống đồi núi trọc, giải quyết việc làm cho một lực lượng lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo ở khu vực nông nghiệp và nông thôn

Tuy nhiên để kinh tế trang trại thực sự trở thành loại hình kinh tế năng động, hiệu quả của nền nông nghiệp hàng hóa mang tính cạnh tranh cao trong những thập niên đầu của thế kỷ 21 thì Nhà nước và nông dân còn phải giải đáp nhiều bài toán, tháo gỡ nhiều khó khăn vướng mắc ở cả tầm vi mô lẫn vĩ

mô liên quan đến nhận thức, cơ chế chính sách và các giải pháp cụ thể như đất đai, vốn, lao động, khoa học công nghệ, tổ chức quản lý, thị trường

Trong những năm trở lại đây, vai trò của kinh tế trang trại mới thực sự được công nhận và được quan tâm chú ý, đặc biệt là sau khi Chính phủ ban hành Nghị quyết số 03/2000/NQ - CP ngày 2/2/2000 về kinh tế trang trại thì kinh tế trang trại mới thực sự được sự trợ giúp của Nhà nước cả về cơ chế và chính sách Sự tăng nhanh về số lượng, gia tăng về giá trị sản lượng đã chứng

tỏ đây là một mô hình tổ chức sản xuất nông nghiệp phù hợp với đặc thù kinh

tế nông nghiệp, nông thôn nước ta, giúp nông dân làm giàu, tăng thu nhập cho bản thân và cho xã hội

Trang 3

3

Thái Nguyên, không có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế trang trại với quy mô đất đai lớn như ở vùng đồng bằng Sông Hồng hay vùng đồng bằng phía nam, nhưng được thiên nhiên ưu đãi về điều kiện tự nhiên, khí hậu…đặc biệt là vùng có truyền thống sản xuất nông nghiệp lâu đời, trình độ thâm canh của người dân tương đối cao

Huyện Phú Lương là một huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên, trong những năm qua sản xuất nông nghiệp của huyện đã đạt được nhiều tiến bộ quan trọng, nhưng để ngành nông nghiệp của huyện đáp ứng được yêu cầu phát triển trong thời kỳ mới thì phải hợp lý hoá, hiệu quả hoá sản xuất nông nghiệp nhằm khai thác một cách triệt để tiềm năng về đất đai cũng như khả năng lao động của con người, thì kinh tế trang trại là một trong những mô hình phù hợp Những năm qua, kinh tế trang trại của huyện đã có nhiều khởi sắc, nhưng thật sự vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của nó Vì vậy, tôi

chọn nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế trang trại tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên”

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung:

Nghiên cứu tìm ra giải pháp phù hợp nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế trang trại tại huyện Phú Lương tỉnh Thái nguyên góp phần vào sự phát triển kinh tế của tỉnh

2.2 Mục tiêu cụ thể:

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển kinh tế trang trại

- Đánh giá đúng thực trạng phát triển kinh tế trang trại và các yếu tố ảnh hưởng đến kinh tế trang trại tại huyện Phú Lương

- Đề xuất giải pháp cụ thể nhằm phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn

huyện Phú Lương

3 Đối tƣợng, nội dung và phạm vi nghiên cứu

Trang 4

- Phạm vi không gian: Đề tài được tiến hành tập trung nghiên cứu toàn

bộ trang trại trên địa bàn huyện Phú Lương

- Phạm vi thời gian: tiến hành thu thập số liệu điều tra từ năm

2009-2011 Tập trung vào năm 2009-2011

4 Ý nghĩa khoa học của luận văn:

Hệ thống hóa và làm rõ một số vấn đề giữa lý luận và thực tiễn về trang trại, để từ đó phân tích đánh giá tình hình hoạt động của trang trại, đưa ra các giải pháp nhằm phát triển kinh tế trang trại tại huyện Phú Lương

5 Bố cục của luận văn:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 4 chương chính:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế trang trại

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng phát triển kinh tế trang trại tại huyện Phú Lương Chương 4: Giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế trang trại tại huyện Phú Lương

Trang 5

5

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN

KINH TẾ TRANG TRẠI 1.1 Một số vấn đề cơ bản về trang trại

1.1.1 Khái niệm trang trại và kinh tế trang trại

1.1.1.1 Khái niệm về trang trại

Hiện nay vẫn có rất nhiều khái niệm về trang trại, có những khái niệm rất dài, rất cụ thể nhưng cũng có những khái niệm lại rất ngắn gọn và cô đọng

Ví như ở Bangladesh, người ta định nghĩa trang trại rất đơn giản, trang trại là một vùng đất dành cho nông nghiệp [10]

Hay như ở Canada trang trại lại được định nghĩa cụ thể hơn, trang trại có nghĩa là đất sử dụng cho mục đích chăn nuôi, sản xuất bơ sữa, nuôi ong, trồng cây ăn trái và những cây khác và toàn bộ đều là đất trồng trọt [11]

Còn theo trang từ điển wordnet thì trang trại là một nơi làm việc gồm các công trình xây dựng lớn nhỏ của trang trại và đơn vị diện tích đất nuôi trồng [12]

Theo PGS - TS Lê Trọng (2000) cho rằng trang trại là cơ sở, là doanh nghiệp kinh doanh nông nghiệp của một hoặc một số nhóm nhà kinh doanh

Qua đó “Trang trại” là thuật ngữ dùng để mô tả, chỉ và gắn liền với hình thức

sản xuất nông nghiệp tập trung trên một diện tích đủ lớn, với quy mô hộ gia đình là chủ yếu, trong điều kiện sản xuất hàng hoá của nền kinh tế thị trường Trang trại là loại hình cơ sở sản xuất nông nghiệp của các hộ gia đình nông dân, hình thành và phát triển chủ yếu trong điều kiện kinh tế thị trường khi phương thức sản xuất tư bản thay thế phương thức sản xuất phong kiến

Một số tác giả khi nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển kinh tế trang trại trên thế giới cho rằng, các trang trại được hình thành từ cơ sở của

Trang 6

1.1.1.2 Khái niệm về kinh tế trang trại

Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thủy sản [5]

Khái niệm trên đã khá đầy đủ, nhưng hiện nay trong nền kinh tế thị trường sản phẩm của trang trại phải mang tính hàng hoá và đáp ứng nhu cầu thị trường vì vậy theo tác giả thì kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông,

lâm, thủy sản nhằm đáp ứng và luôn gắn với yêu cầu của thị trường

1.1.2 Phân loại trang trại

Căn cứ điều 3, chương I thông tư 27/2011/TT-BNNPTNT ngày 13/04/2011 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn thì các trang trại được xác định theo lĩnh vực sản xuất như sau:

- Trang trại trồng trọt;

- Trang trại chăn nuôi;

- Trang trại lâm nghiệp;

- Trang trại nuôi trồng thuỷ sản;

- Trang trại tổng hợp

Trang 7

7

Trang trại chuyên ngành (trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản) là trang trại có tỷ trọng giá trị sản lượng nông sản hàng hóa của ngành chiếm trên 50% cơ cấu giá trị sản lượng hàng hóa của trang trại trong năm

Trường hợp không có ngành nào chiếm trên 50% cơ cấu giá trị sản lượng hàng hóa thì được gọi là trang trại tổng hợp

1.1.3 Những tiêu chí xác định kinh tế trang trại

Căn cứ điều 5, chương II thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT ngày 13/04/2011 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn thì tiêu chí xác định kinh tế trang trại như sau:

1 Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất tổng hợp phải

đạt:

a) Có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu:

- 3,1 ha đối với vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long;

- 2,1 ha đối với các tỉnh còn lại

b) Giá trị sản lượng hàng hóa đạt 700 triệu đồng/năm

2 Đối với cơ sở chăn nuôi phải đạt giá trị sản lượng hàng hóa từ 1.000 triệu đồng/năm trở lên;

3 Đối với cơ sở sản xuất lâm nghiệp phải có diện tích tối thiểu 31 ha và giá trị sản lượng hàng hóa bình quân đạt 500 triệu đồng/năm trở lên

1.1.4 Những đặc trưng của trang trại

Qua khảo sát thì các trang trại trên địa bàn huyện Phú Lương đều là trang trại gia đình, vì vậy tác giả tập trung đưa ra những đặc trưng của trang trại gia đình [9]

1.1.4.1 Trang trại gia đình là một đơn vị kinh tế trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp

Trang 8

8

Trang trại gia đình là đơn vị trực tiếp sản xuất ra những sản phẩm vật chất cần thiết cho xã hội, bao gồm nông, lâm, thủy sản, đồng thời quá trình kinh tế trong trang trại gia đình là quá trình khép kín với các khâu của quá trình tái sản xuất luôn kế tiếp nhau, bao gồm : sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng Trang trại gia đình là một đơn vị kinh tế có một cơ cấu thống nhất, đó là dựa trên cơ sở hộ gia đình bao gồm chủ hộ và các thành viên khác trong gia đình Chủ trang trại (thường là chủ hộ) là người đại diện cho trang trại gia đình trong các quan hệ liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại Chủ trang trại là người có kiến thức, có kinh nghiệm kinh doanh, am hiểu thị trường và trực tiếp điều hành sản xuất kinh doanh tại trang trại Đây là những tố chất rất cần thiết cho một nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường và về cơ bản chúng không có ở người chủ hộ nông dân sản xuất tự cung tự cấp

Tài sản và vốn sản xuất kinh doanh của trang trại gia đình thuộc quyền

sở hữu hoặc sử dụng (đối với đất đai) chung của các thành viên trong hộ gia đình Bằng công sức , tài sản và vốn chung các thành viên của hộ gia đình tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh nông, lâm, ngư nghiệp dưới hình thức trang trại gia đình Đồng thời chịu trách nhiệm về các hoạt động sản xuất kinh doanh bằng những tài sản chung đó

Xuất phát từ bản chất kinh tế của trang trại, nên hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại gia đình luôn gắn liền với một vị trí diện tích đất đai nhất định Thực tế cho thấy, đây vừa là địa điểm sản xuất kinh doanh đồng thời cũng là trụ sơ giao dịch của trang trại gia đình trong các quan hệ nhằm phục

vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh Ngoài ra, để thuận lợi hơn trong việc tiếp cận thị trường, không ít trang trại gia đình đã mở thêm các địa điểm giao dịch gần các trung tâm thương mại lớn nhằm tiếp thị và tiêu thụ sản phẩm hàng hoá của mình

Trang 9

9

Theo pháp luật hiện nay, trang trại gia đình bước đầu cũng đã được quy định cho một số quyền và nghĩa vụ trong sản xuất kinh doanh ở một số lĩnh vực như : đất đai, thuế, đầu tư, tín dụng, lao động, khoa học, công nghệ và môi trường, bảo hộ, vv Trên cơ sở những quyền và nghĩa vụ này, trang trại gia đình hoàn toàn tự chủ trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, từ lựa chọn phương hướng sản xuất, quyết định kỹ thuật và công nghệ sản xuất, tổ chức sản xuất, đến tiếp cận thị trường, tiêu thụ sản phẩm,

1.1.4.2 Mục đích chủ yếu của trang trại gia đình là kinh doanh nông sản phẩm hàng hoá theo nhu cầu thị trường

Đây là đặc điểm quan trọng nhất của trang trại gia đình Mục tiêu của trang trại gia đình là sản xuất nông, lâm, thủy sản để bán, khác hẳn với kinh tế

hộ tự cấp tự túc là chính Trang trại gia đình là một hình thức tổ chức sản xuất nông lâm ngư nghiệp được hình thành trên cơ sở kinh tế hộ tự chủ trong cơ chế thị trường mang tính chất sản xuất hàng hoá rõ rệt Vì vậy, đặc trưng cơ bản của trang trại gia đình là sản xuất nông, lâm, thuỷ sản hàng hoá Kinh nghiệm các nước trên thế giới cho thấy tiêu chí giá trị nông sản hàng hoá và

tỷ suất hàng hoá bán ra trong năm luôn luôn được sử dụng làm thước đo chủ yếu của trang trại Ở Việt Nam, thực tiễn sản xuất của các trang trại gia đình trong những năm vừa qua cho thấy, trang trại nào cũng lấy sản xuất hàng hoá

là hướng chính và tỷ suất hàng hoá của các trang trại trại phổ biến từ 70 – 80% đối với những trang trại đã đi vào sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản Theo một kết quả điều tra năm 2001 cho thấy : Ở nước ta trong năm 2000, giá trị hàng hoá của các trang trại trong

cả nước đạt 4.965,9 tỷ đồng, bình quân một trang trại đạt 81,7 triệu đồng, tỷ suất hàng hoá là 92,6% Đặc trưng sản xuất hàng hoá cho phép phân biệt rõ ràng ranh giới giữa trang trại gia đình với kinh tế hộ nông dân, sản xuất tự cấp

tự túc và với hộ phi nông nghiệp ở khu vực nông thôn

Trang 10

10

Kinh tế trang trại chủ yếu là sản xuất ra sản phẩm hàng hoá, dịch vụ nông, lâm và ngư nghiệp ngày càng nhiều đáp ứng nhu cầu của thị trường từ

đó dần phát triển mở rộng quy mô sản xuất

Sản xuất nông nghiệp theo kiểu truyền thống tự cung, tự cấp chỉ giải quyết nhu cầu của chính người sản xuất, lượng sản phẩm dư thừa đem bán trên thị trường chiếm một tỷ trọng rất nhỏ so với khối lượng nông sản mà họ sản xuất ra Các hộ nông dân cũng cố gắng bán bất kỳ thứ nông sản nào do chính bản thân họ sản xuất ra - giai đoạn này gọi là thương mại hóa sản phẩm Sau đó, hộ nông dân sản xuất hàng hóa theo yêu cầu của thị trường - đó là giai đoạn sản xuất hàng hóa của hộ đã đạt tới một trình độ cao để thích ứng với nhu cầu của thị trường Tới khi sản xuất hàng hóa khu vực nông thôn đã đạt đến một cấp độ cao hơn, một bộ phận hộ nông dân đã phát triển đến hình thức sản xuất theo mô hình trang trại Lúc này, số lượng hàng hóa, chất lượng hàng hóa và cơ cấu sản phẩm đều được nâng lên Số lượng hàng hóa được sản xuất nhiều hơn, quá trình sản xuất được phân hóa, một số hộ đã tích tụ ruộng đất, đầu tư mua sắm tư liệu sản xuất Chất lượng hàng hóa cũng tốt hơn, đảm bảo

cả về an toàn, vệ sinh trong nông sản, chất lượng dịch vụ cung cấp nông sản cũng tốt hơn Cơ cấu sản phẩm được cung cấp theo hướng chuyên môn hóa theo vùng sản xuất, bởi vì ngoài tác động của thị trường, sản phẩm nông nghiệp còn chịu ảnh hưởng rất lớn bởi điều kiện tự nhiên của vùng, vì vậy các trang trại cũng phải tuân thủ điều kiện tự nhiên của vùng

1.1.4.3 Trong trang trại gia đình, các yếu tố sản xuất trước hết là ruộng đất

và tiền vốn được tập trung tới quy mô nhất định theo yêu cầu phát triển sản xuất hàng hoá

Trong nông nghiệp cũng như trong các ngành sản xuất vật chất khác, sản xuất hàng hoá chỉ có thể được tiến hành khi các yếu tố sản xuất được tập trung với quy mô nào đó Do đó, ở các trang trại gia đình sản xuất hàng hoá

Trang 11

11

chỉ có thể được thực hiện khi ruộng đất, tiền vốn, tư liệu sản xuất, được tập trung tới quy mô đủ lớn Đặc điểm này được quy định bởi chính đặc điểm về mục đích sản xuất của trang trại Thực tế cho thấy, các trang trại gia đình có quy mô lớn hơn rất nhiều so với kinh tế hộ gia đình nông dân Theo số liệu điều tra năm 1999 của Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội cho thấy: bình quân một trang trại gia đình có số vốn là 291,43 triệu đồng, trong đó 91,03% là vốn tự có, quy mô đất đai bình quân của một trang trại gia đình là 6,338 ha, trong khi đó bình quân đất đai sản xuất nông nghiệp của một hộ gia đình chỉ là 0,68 ha

1.1.4.4 Lao động trong các trang trại gia đình chủ yếu là dựa trên các thành viên trong hộ, ngoài ra có thuê mướn lao động

Lực lượng lao động trong trang trại chủ yếu là chủ trang trại và các thành viên trong gia đình, đây là những người có quan hệ huyết thống, gần gũi như: Cha mẹ, vợ chồng, anh em Lao động được tổ chức gọn nhẹ, đơn giản, quản

lý điều hành linh hoạt, dễ dàng, hiệu quả lao động cao Ngoài ra, để phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh, trang trại gia đình còn phải thuê mướn lao động bên ngoài nhất là vào thời vụ gieo trồng, thu hoạch Quy mô thuê muớn lao động trong trang trại tuỳ thuộc vào quy mô sản xuất kinh doanh của trang trại Có hai hình thức thuê mướn lao động trong các trang trại gia đình, đó là: thuê lao động thường xuyên và thuê lao động theo thời vụ Theo thống kê của

Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, bình quân 1 trang trại sử dụng 6 lao động (quy ra thường xuyên), lao động trong gia đình chiếm 45%; hầu hết trang trại đều có sử dụng lao động thuê ngoài, số lượng lao động thuê ngoài trong các trang trại chiếm khoảng 55% tổng số lao động trong các trang trại, trong đó chủ yếu là lao động thời vụ (khoảng 70%) Trang trại chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản do tính chất sản xuất khá ổn định nên sử dụng lao động thời vụ ít hơn (từ 10 - 20%)

Trang 12

12

1.1.4.5 Cách thức tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh trong trang trại gia đình ngày càng mang tính khoa học, chuyên nghiệp

Trong kinh tế hộ gia đình nông dân do tính chất sản xuất đơn giản và quy

mô sản xuất nhỏ với mục đích tự cung tự cấp là chính do vậy việc điều hành sản xuất của chủ hộ vẫn còn mang nặng tính gia trưởng, người chủ hộ chỉ cần

có kinh nghiệm sản xuất và cần cù lao động theo kinh nghiệm cha truyền con nối Nhưng đối với trang trại gia đình, với mục đích chính là sản xuất hàng hoá và bị các yếu tố lợi nhuận, giá cả, cạnh tranh chi phối ngày càng nhiều thì cách quản lý theo kiểu gia trưởng không còn phù hợp nữa Sản xuất đòi hỏi phải có phương án hợp lý lựa chọn cây trồng, vật nuôi, quy hoạch ruộng đất, xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật sản xuất, áp dụng các công nghệ và quy trình sản xuất thâm canh, kế hoạch tài chính, hạch toán giá thành, lợi nhuận, phân tích kinh doanh… Do vậy việc quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại đòi hỏi phải dựa trên cơ sở những kiến thức khoa học và ngày càng mang tính chuyên nghiệp, đi vào chiều sâu

Như vậy, mặc dù cũng dựa trên cơ sở hộ gia đình, nhưng trang trại gia đình có sự khác biệt rất lớn so với hộ gia đình thể hiện ở mục đích, quy mô và trình độ sản xuất Trang trại gia đình đã và đang ngày càng thể hiện rõ tính chất của một loại hình doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn ở nước ta

1.1.4.6 Chủ trang trại là người có ý chí, có năng lực tổ chức quản lý, có kiến thức và kinh nghiệm sản xuất, đồng thời có hiểu biết nhất định về kinh doanh

Trước hết, xin nói về công tác điều hành, kế hoạch hóa, tổ chức kiểm tra, đánh giá hoạt động sản xuất được các chủ trang trại chú ý, hoạt động sản xuất hàng hóa của trang trại không thể theo một tư duy sản xuất theo kiểu tự cung,

tự cấp Do đó, trang trại phải đặt ra cho mình câu hỏi sản xuất nông sản gì để

Trang 13

13

đáp ứng nhu cầu thị trường; kỹ thuật canh tác nào sẽ được lựa chọn áp dụng cho công việc sản xuất tại trang trại; việc phân bố nguồn lực lao động vào hoạt động sản xuất ra sao, số lượng cần bao nhiêu? Hoặc là phân phối lượng vốn của trang trại được đầu tư cho tài sản lưu động là bao nhiêu? … là công việc của người chủ trang trại, nó đòi hỏi phải có hạch toán một cách đầy đủ, bởi mọi chi phí phát sinh không ghi chép, theo dõi sẽ không thể kiểm soát, và như vậy, công việc hạch toán không tốt có thể dẫn đến kết quả sản xuất kinh doanh của trang trại được đánh giá một cách sai lệch, thiếu khách quan

1.1.5 Những yếu tố ảnh hưởng tới phát triển trang trại và kinh tế trang trại 1.1.5.1 Những nhân tố khách quan

- Thị trường tiêu thụ sản phẩm:

Sản phẩm nông nghiệp và thị trường nông sản mang tính chất vùng và khu vực Đặc điểm này xuất phát từ đặc điểm của sản xuất nông nghiệp gắn chặt với điều kiện tự nhiên mang tính chất vùng Lợi thế so sánh và lợi thế tuyệt đối của các vùng là yếu tố rất quan trọng trong việc lựa chọn hướng sản xuất kinh doanh của cơ sở sản xuất kinh doanh và tổ chức hợp lý quá trình tiêu thụ sản phẩm Có sản phẩm chỉ thích ứng với một vùng, thậm chí tiểu vùng và lợi thế tuyệt đối có được coi như là những đặc điểm mà ở các vùng khác, khu vực khác không có Đối với những sản phẩm loại này có thể có những hình thức và phương pháp tiêu thụ đặc biệt Đối với những loại sản phẩm khá phổ biến mà vùng nào cũng có thì phải có những hình thức tiêu thụ thích hợp

Tính chất mùa vụ của sản xuất nông nghiệp có tác động mạnh mẽ đến cung - cầu của thị trường nông sản và giá cả nông sản Sự khan hiếm dẫn đến giá cả cao vào đầu vụ, cuối vụ và sự dư thừa làm cho giá cả giảm vào chính

vụ là một biểu hiện của đặc điểm này Việc chế biến, bảo quản và dự trữ sản

Trang 14

sử dụng các phương tiên chuyên dùng riêng khi vận chuyển, bảo quản

Một bộ phận lớn như nông sản, lương thực, thực phẩm được tiêu dùng nội bộ hoặc với tư cách là tư liệu sản xuất, vì vậy phải tính đến những nhu cầu

đó một cách cụ thể để tổ chức tốt việc tiêu thụ đối với nông sản được coi là hàng hóa vượt ra ngoài phạm vi tiêu dùng của gia đình, của cơ sở sản xuất kinh doanh

- Cơ sở hạ tầng: Với tất cả các ngành kinh tế thì cơ sở hạ tầng luôn đóng một vai trò hết sức quan trọng và trong kinh tế trang trại thì vai trò của cơ sở

hạ tầng còn có ý nghĩa quan trọng hơn nữa, vì sản phẩm của kinh tế trang trại

là cây, con - những sinh vật có chu kỳ sống nên nếu không được vận chuyển kịp thời, đúng thời điểm thì có thể sẽ ảnh hưởng rất nhiều tới chất lượng cũng như số lượng của sản phẩm

- Khoa học kỹ thuật: Việc khoa học kỹ thuật có những bước tiến mới cũng sẽ tạo ra những đổi khác rất lớn với kinh tế trang trại Khi công nghệ sinh học (di truyền, lai tạo, chọn giống) tạo ra giống mới năng suất cao, kháng bệnh, chất lượng sản phẩm tốt thì chắc chắn sẽ là những tin vui đối với việc phát triển kinh tế trang trại Hay như, nếu công nghệ bảo quản, chế biến được nâng cao thì sản phẩm của trang trại sẽ hạn chế được việc “mất mùa trong nhà kho” (tức là sản phẩm thu hoạch về nhưng do công nghệ bảo quản chế biến

Trang 15

- Chính sách về đất đai: Chính phủ đã có những chỉ đạo trong công tác đất đai nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế trang trại như chính sách giao đất, giao rừng, dồn điền, đổi thửa, ví dụ như Chính phủ đã có Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 1999 về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp, điều này đã kích thích và là nền tảng cho kinh

tế trang trại phát triển một cách chắc chắn và lâu dài

- Chính sách về tín dụng: Trong nhiều năm qua nhà nước luôn quan tâm

và có những chính sách ưu tiên về tín dụng đối với hoạt động nông nghiệp nói chung cũng như của trang trại nói riêng Các trang trại khi vay vốn thì luôn được ưu tiên cả về thời hạn cho vay cũng như lãi suất cho vay … Điều này đã được cụ thể hóa tại quyết định số 67/1999/QĐ-TTg ngày 30 tháng 3 năm

1999 của Thủ tướng chính phủ về một số chính sách tín dụng ngân hàng phục

vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn hay gần đây nhất là tại Nghị định 41/2010/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn

- Các chính sách khác: Bên cạnh những chính sách về đất đai, tín dụng thì những chính sách khác như: chính sách thuế, chính sách về việc hỗ trợ phụ

nữ nông thôn phát triển sản xuất nâng cao chất lượng cuộc sống, chính sách

Trang 16

độ chuyên môn thì chủ trang trại cũng cần phải có kinh nghiệm thực tế, điều này là hết sức cần thiết vì có nhiều trang trại, chủ trang trại mặc dù không được học hành, đào tạo bài bản, chính quy nhưng với kinh nghiệm “thất bại là

mẹ thành công” mà vẫn có thể vươn lên trở thành những ông chủ, những trang trại lớn Có thể nói, chủ trang trại như là “hạt nhân” của trang trại, nếu

“hạt nhân” mà tích cực thì trang trại sẽ ngày càng phát huy

- Quy mô diện tích trang trại: Đất đai là sản phẩm tự nhiên và có trước lao động, trong quá trình lao động con người tác động vào đất đai để tạo ra các sản phẩm Đất đai giữ một vai trò đặc biệt quan trọng, là tài nguyên quý giá của quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt Đất đai tham gia vào tất cả các ngành kinh tế của xã hội và trong nông nghiệp thì đất đai chiếm một vị trí đặc biệt vì nó vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu sản xuất Không giống như những tài sản khác, đất đai là một tư liệu hết sức đặc biệt, nếu được đầu tư và sử dụng một cách hợp lý thì không những không bị hao mòn mà càng ngày càng tăng giá trị, tăng độ phì nhiêu

Trang 17

17

- Lao động của trang trại: Lực lượng lao động của nước ta rất dồi dào, rất cần cù và chịu khó nhưng do tác phong nông nghiệp lúa nước từ lâu đời nay nền tính kỷ luật chưa được cao, hơn nữa lao động chủ yếu làm các công việc tay chân là nhiều, những lao động làm việc đòi hỏi chất xám và trình độ, được đào tạo bài bản chính quy thì chưa có nhiều

- Vốn của trang trại: Để bắt đầu quá trình sản xuất kinh doanh, các trang trại luôn cần phải có vốn - toàn bộ những giá trị ứng ban đầu của trang trại

để có các quá trình sản xuất kinh doanh tiếp theo.Vốn của trang trại có thể được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau: vốn tự có, vốn vay ngân hàng, vốn vay của người thân …

1.1.6 Ý nghĩa kinh tế - xã hội - môi trường của trang trại

Theo đánh giá của Chính phủ tại Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 2 tháng 2 năm 2000 về Kinh tế trang trại: kinh tế trang trại đã đóng góp phần to lớn, tạo sức mạnh mới trong sự nghiệp phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, đồng thời góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho lao động của các hộ nông nghiệp và nông thôn Sự phát triển của kinh tế trang trại đã góp phần khai thác thêm nguồn vốn trong dân, mở mang thêm diện tích đất trồng, đồi núi mọc, đất hoang hóa, nhất là ở các vùng trung du, miền núi và ven biển; tạo thêm nông sản hàng hóa Một số trang trại đã góp phần sản xuất và cung ứng giống tốt, làm dịch vụ, kỹ thuật tiêu thụ sản phẩm cho nông dân trong vùng Sự phát triển của kinh tế trang trại là động lực mới cho phát triển kinh tế hộ nông dân, bên cạnh đó đã tạo ra các vùng sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hàng hoá tập trung, làm tăng khối lượng và giá trị hàng hoá, tạo tiền

đề cho công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản và thực phẩm phát triển, mở rộng các ngành nghề dịch vụ ở nông thôn Các trang trại góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khắc phục dần tình trạng phân tán, tạo nên những vùng chuyên môn hóa cao, góp phần vào việc phát triển công nghiệp đặc biệt là

Trang 18

18

công nghiệp chế biến và dịch vụ sản xuất ở nông thôn Bên cạnh đó, trang trại còn có khả năng thu hút lao động, điều này sẽ làm hạn chế bớt sự di cư ra thành phố, làm giảm áp lực đối với xã hội, đảm bảo an ninh trật tự, hạn chế tệ nạn cho xã hội

Có thể nói, sự phát triển kinh tế trang trại đã góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, thay đổi cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng CNH, HĐH

Theo ủy ban Quốc gia về Trang trại nhỏ (NCFS) của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) cũng đã công bố một bản báo cáo, trong đó USDA thừa nhận “những giá trị công cộng” của trang trại gia đình bao gồm:

- Tính đa dạng: Các trang trại nhỏ chứa đựng tính đa dạng của quan hệ

sở hữu, của hệ thống canh tác, của cảnh quan môi trường, của sự đa dạng sinh học, của văn hoá và các giá trị truyền thống Sự phát triển của các trang trại nhỏ góp phần làm tăng tính đa dạng sinh học, làm tăng sự hấp dẫn của phong cảnh nông thôn và làm mở rộng không gian sống

- Những lợi ích về môi trường: Trang trại gia đình có vai trò rất quan

trọng trong việc tạo ra những lợi ích môi trường cho xã hội Việc đầu tư vào các trang trại này sẽ cung cấp cho chính phủ một sự chia sẻ trong cương vị quản lý hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên của quốc gia

- Trao quyền hợp pháp và chịu trách nhiệm cộng đồng: Các trang trại

nhỏ đã mang lại cho người nông dân một ý nghĩa lớn hơn đối với trách nhiệm

cá nhân và cảm giác được kiểm soát cuộc sống của chính mình, đặc điểm này không dễ có được đối với công nhân trong các nhà máy Những chủ trang trại hoạt động dựa vào những doanh nghiệp và các cơ sở cung cấp dịch vụ tại địa phương để đáp ứng các nhu cầu của mình Điều này có tác dụng rất lớn trong việc tạo ra cơ hội để mang lại lợi ích lớn hơn đối với cộng đồng và hạnh phúc của bản thân những người trong trang trại Ngược lại, những chủ trang trại

Trang 19

19

nhỏ ở địa phương sẽ tự cảm thấy phải có trách nhiệm cao hơn trong việc kiểm soát bất cứ hoạt động tiêu cực nào mà nó có thể gây ra tác hại đối với cộng đồng

- Bổn phận của gia đình: Trang trại gia đình có bổn phận nuôi dưỡng

những đứa trẻ lớn lên và thu nhận những giá trị truyền thống Những kỹ năng canh tác đã trải qua từ thế hệ này đến thế hệ khác dưới cấu trúc sở hữu gia đình Khi những đứa trẻ không tiếp tục làm nông, những kiến thức, kỹ năng

và kinh nghiệm canh tác có thể sẽ bị mất

Một hình mẫu tương tự ở các nước đang phát triển, trong những cộng đồng canh tác truyền thống, trang trại gia đình là trung tâm để duy trì cộng đồng và để tăng cường khả năng chịu đựng của nền sản xuất nông nghiệp Trong các trang trại gia đình, hoạt động sản xuất, động viên lao động, hình thức tiêu thụ, kiến thức về sinh thái và những mối quan tâm chung trong việc duy trì sự tồn tại lâu dài của trang trại được xem như là một thứ tài nguyên, nó đóng góp cho sự ổn định và phát triển bền vững của toàn bộ nền kinh tế cũng như với mỗi đơn vị kinh tế cơ sở là gia đình

1.2 Phát triển kinh tế trang trại của một số nước và ở Việt Nam

1.2.1 Tình hình phát triển kinh tế trang trại của một số nước trên thế giới

Tại nước Mỹ và các nước Tây Âu kinh tế trang trại đã xuất hiện từ những năm 1950, tuy nhiên ngày càng số lượng trang trại ngày càng ít đi, tại

Mỹ năm 1950 có 5.648.000 trang trại đến năm 1992 còn 1.920.000 trang trại, diện tích trang trại bình quân của các trang trại ngày càng tăng, tại Mỹ diện tích bình quân năm 1950 là 86 ha, đến năm 1992 là 198,7 ha [8] Tại Anh năm

1950 diện tích bình quân trang trại là 36 ha, đến năm 1987 là 71 ha [3] Tại các nước Châu Á kinh tế trang trại chịu sự chi phối của điều kiện tự nhiên, dân số nên có những đặc điểm khác với trang trại ở các nước Châu Âu về quy

mô và số lượng trang trại Tại các nước Châu Á do đất canh tác trên đầu

Trang 20

20

người vào loại thấp trên thế giới như Đài Loan: 0,47 ha; Malaixia: 0,25 ha; Hàn Quốc: 0,53ha…, trong khi đó ở các quốc gia Châu á đều có dân số đông nên có ảnh hưởng đến quy mô trang trại Chính vì vậy ở các nước Châu Á nói chung, hiện tượng tích tụ ruộng đất diễn ra chậm nên tình trạng manh mún, phân tán ruộng đất cũng là một trong trở ngại trong vấn đề phát triển kinh tế trang trại

Đối với các nước Châu Âu, nước Mỹ thì trang trại bao gồm: Trang trại gia đình; trang trại liên doanh, trang trại liên doanh cổ phần và trang trại uỷ thác cho người nhà, bạn bè quản lý, sản xuất Trong đó trang trại gia đình là loại hình trang trại mà mỗi gia đình có tư cách pháp nhân riêng do người chủ

hộ hay một người có năng lực và uy tín trong gia đình đứng ra quản lý, ở nhiều nước phát triển, những chủ trang trại muốn được nhà nước công nhận thì trình độ quản lý và tư cách pháp nhân phải tốt nghiệp các trường kỹ thuật

và quản lý nông nghiệp, đồng thời có kinh nghiệm qua thực tập lao động sản xuất kinh doanh một năm ở các trang trại khác Các chủ trang trại họ đều là những chuyên gia trong lĩnh vực nông nghiệp, có trình độ học vấn, họ thường xuyên liên hệ đối với các cơ quan khoa học để thu thập thông tin kinh tế kỹ thuật, tham gia hội thảo khoa học, đây là loại hình trang trại phổ biến còn các loại hình trang trại liên doanh, trang trại liên doanh cổ phần thì đây là loại hình trang trại có quy mô lớn, được chuyên môn hoá sản xuất, sử dụng lao động làm thuê là chủ yếu Ở Mỹ và các nước Châu Âu thì nguồn vốn và lao động của họ có những thuận lợi hơn so với các nước Châu Á, các trang trại được mua chịu tư liệu sản xuất, được hỗ trợ vay vốn với lãi xuất thấp để mua

tư liệu sản xuất Về lao động và kỹ thuật, các trang trại ở Châu Âu và các nước phát triển tăng cường sử dụng máy móc hiện đại và mức độ cơ giới ngày càng từng bước tiến tới tự động hoá, tin học hoá, hoá học hoá trong sản xuất,

Trang 21

- Kinh tế trang trại có nhiều loại hình khác nhau như: trang trại gia đình; trang trại liên doanh; trang trại hợp doanh theo cổ phần; trang trại ủy thác cho người nhà, bạn bè quản lý sản xuất từng việc theo từng vụ hay liên tục nhiều

vụ nhưng phổ biến nhất là trang trại gia đình, có nguồn gốc từ hộ gia đình vì thế phát huy được thế mạnh vốn có của hộ gia đinh trong sản xuất nông nghiệp

Trang trại gia đình là mô hình phổ biến nhất của nông nghiệp thế giới, nó chiếm tỷ trọng lớn tuyệt đối về đất đai canh tác và số lượng nông sản phẩm làm ra Quá trình phát triển kinh tế trang trại gia đình có sự biến đổi về số lượng cũng như quy mô Thực tế ở nhiều nước cho thấy, trong thời kỳ đầu công nghiệp hóa do lao động nông nghiệp còn đông, khả năng phân công lao động xã hội còn hạn chế thì số lượng trang trại gia đình tăng lên Đến thời kỳ công nghiệp hóa phát triển, khả năng thu hút lao động của công nghiệp, dịch

vụ tăng lên nhanh chóng thì số lượng trang trại nông nghiệp bắt đầu giảm đi Quy mô trang trại gia đình biến động theo chiều ngược lại với số lượng trang trại của mỗi quốc gia, tùy điều kiện của mỗi nước mà quy mô trang trại

có thể rất khác nhau, Trang trại ở các nước Châu Á có diện tích nhỏ nhưng ở

Trang 22

- Thưc tế phát triển trang trại tại nhiều quốc gia cho thấy: chính các trang trại quy mô nhỏ mới thực sự là chìa khóa để phát triển một nền nông nghiệp bền vững, lâu dài

- Trong quá trình ban đầu, kinh tế trang trại phát triển theo hướng kinh doanh tổng hợp bằng cách đa dạng hóa sản phẩm, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường thì kinh tế trang trại dần dần từng bước đi vào chuyên môn hóa

- Hiệu quả sản xuất kinh doanh của trang trại không hoàn toàn phụ thuộc vào quy mô đất đai, ở các nước châu Á như Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản diện tích các trang trại nhỏ nhưng hiệu lại rất lớn

Thực tiễn phát triển nông nghiệp của các nước trên thế giới cho thấy điều kiện cần và đủ để phát triển kinh tế trang trại là sự hình thành nền kinh tế hàng hóa theo cơ chế thị trường và đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa đất nước Ngoài ra các trang trại cũng rất cần sự tác động trực tiếp và gián tiếp của Nhà nước thông qua các chính sách và công cụ quản lý vĩ mô như: Chính sách tài chính tín dụng, chính sách thuế, chính sách về đào tạo giáo dục, chính sách về bao tiêu và bán sản phẩm …

1.2.2 Tình hình phát triển kinh tế trang trại của Việt Nam

1.2.2.1 Tình hình phát triển kinh tế trang trại của Việt Nam qua các thời kỳ

Trang 23

23

Nhìn lại lịch sử ta thấy trang trại ở nước ta đã hình thành từ thời nhà Trần, thời đó gọi là điền trang - nhưng điền trang lúc này chủ yếu là trang trại của quý tộc phong kiến [4]

Trong sách “Lịch sử nông nghiệp Việt Nam” có ghi: “Năm 1266, triều đình nhà Trần cho phép các vương hầu, công chúa, phò mã, cung phi… triệu tập dân nghèo khổ không có đất làm nô tỳ đi khai hoang miền ven biển, đắp

đê ngăn mặn, khai phá đất bồi sông Hồng lập thành điền trang rộng lớn” Khác với thái ấp thời nhà Lý và điền trang thời nhà Lý, điền trang thời nhà Trần thuộc sở hữu của quý tộc Nô tỳ bị bóc lột như nông nô Tức là như những người nông dân bị phụ thuộc vào ruộng đất - điền trang rộng lớn của bọn địa chủ quý tộc Họ bị bóc lột bằng địa tô và lao dịch, có thể bị bán theo ruộng đất dưới chế độ phong kiến Đến thời nhà hậu Lê, nhà nước phong kiến chủ trương mở rộng khai hoang lập đồn điền (đồn điền cũng đồng nghĩa với trang trại) Lượng lao động khai hoang lập đồn điền chủ yếu là phạm nhân, tù binh và một số binh lính đóng đồn ở các địa phương Đến năm 1481, cả nước

có 43 sở đồn điền để cấp cho họ hàng nhà vua và quan lại từ tứ phẩm trở lên (gọi là cấp lộc điền) Lực lượng sản xuất trong các đồn điền - trang trại - vừa

áp dụng chế độ nô tỳ, vừa chủ yếu là bóc lột trực tiếp bởi phong kiến và phụ thuộc trực tiếp bởi nhà nước vì luật pháp cấm nông dân bỏ làng ra đi để bắt nông dân không ruộng phải cày ruộng, nộp thuế, lao dịch và binh dịch

Đến đời nhà Nguyễn từ năm 1802 - 1855 triều đình đã ban hành 25 quyết định về khai hoang với hình thức chủ yếu là chiêu mộ dân phiêu tán để khai hoang lập ấp trại hoặc xã Đồng thời, nhà nước dùng binh lính và tù nhân

bị lưu đày để khai hoang, hoặc giao cho tư nhân chiêu mộ dân khai phá đất hoang để lập đồn điền - trang trại - phát canh - thu tô Đặc biệt thời kỳ thực dân Pháp đô hộ, họ đã thực hiện chính sách khai thác thuộc địa làm giàu cho chính quốc Họ thấy ngành nông nghiệp là ngành đấu tư ít vốn mà dễ dàng

Trang 24

24

thu được lợi nhuận cao vì vừa có thể bóc lột được độ phì nhiêu của đất vừa bóc lột được sức lao động làm thuê đến cùng tận Năm 1888, Toàn quyền Đông Dương ra các Nghị định cho địa chủ thực dân được quyền lập các đồn điền, Nghị định còn cho phép địa chủ thực dân được quyền lập các đồn điền rộng lớn mà họ gọi là đất vô chủ Chỉ sau 2 năm, năm 1890, số đồn điền trại

ấp khắp ba miền Bắc - Trung - Nam được họ thành lập đã lên tới 108 cái, với diện tích 10.898 ha, quy mô bình quân 100 ha/ 1 đồn điền Đến giữa những năm 20, tổng diện tích mà họ chiếm đoạt dưới nhiều thủ đoạn đã lên đến 270.000 ha (trong đó ở Nam kỳ 308.000; ở Trung kỳ 26.000 và ở Bắc kỳ 136.000 ha) Tổng số trang trại (đồn điền) đã lên tới 2.350 cái chuyên trồng cao su, chè, hồ tiêu, dừa, lúa, mía, bông … quy mô vừa, lớn, nhỏ khác nhau

Có cái ở Bắc kỳ lên đến 8.515ha Nhưng bình quân chung ước chừng 200 ha/cái Kết quả lợi nhuận siêu gạch họ vơ vét ngày càng nhiều, họ càng thi nhau phát triển trang trại cả về số lượng và quy mô diện tích đất đai kinh doanh Tính đến năm 1930, thực dân Pháp đã chiếm đoạt 1,2 triệu ha, bằng 1/7 trong tổng diện tích đất canh tác của nước ta lúc bấy giờ để lập trên dưới 4.000 đồn điền - trang trại với quy mô bình quân chừng 300 ha/cái

Phương thức kinh doanh của các chủ đồn điền - trang trại như sau:

- Từ đầu đến giữa những năm 1920 là phát canh thu tô theo lối phong kiến

- Từ sau những năm 1920 đến trước cách mạng tháng Tám 1945 họ cưỡng mộ công nhân vào làm các đồn điền - trang trại và bóc lột người lao động hết sức tàn nhẫn, vô nhân đạo, thậm chí họ còn dùng xác chết của công nhân ở các đồn điền để bón cho cây cao su…

- Từ cách mạng tháng 8 năm 1945 đến năm 1975

+ Ở miền Nam: các loại đồn điền tư bản, thực dân ở những vùng địch tạm chiến vẫn tồn tại và phát triển

Trang 25

25

+ Ở miền Bắc: Nhà nước tiến hành tịch thu các đồn điền của thực dân Pháp và địa chủ phản động đem chia cho nông dân không ruộng và chuyển một số thành cơ sở sản xuất nông nghiệp của nhà nước Đến năm 1957, nhà nước đã chính thức thành lập các nông, lâm trường quốc doanh Từ những năm 1958 đến năm 1960 các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp bậc thấp, quy

mô thôn đã được thành lập, rồi lên bậc cao, quy mô liên thôn, đến quy mô xã

có tính phổ biến trên toàn miền Bắc Các hình thức đó đã có tác dụng lớn trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cũng như xây dựng hệ thống thủy lợi, cải tạo đồng ruộng… nên sau năm 1975 cũng được áp dụng ở miền Nam đã được quốc hữu hóa như ở miền Bắc trước đây

- Từ 1975 đến 1986:

Như trên đã nói, sau khi giải phóng miền nam những đồn điền - trang trại kiểu Tư bản chủ nghĩa đã được Nhà nước tịch thu và chuyển thành những nông trường quốc doanh Nói chung, thời kì hòa bình, khôi phục và phát triển nền kinh tế cả nước theo hướng quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội và vẫn áp dụng

mô hình cũ - xây dựng nền kinh tế nông nghiệp mang nặng tính kế hoạch, tập trung Chỉ có 2 hình thức kinh tế chủ yếu (trong thành phần kinh tế Xã hội chủ nghĩa) là nông trường quốc doanh và hợp tác xã nông nghiệp đã bộc lộ nhiều khuyết tật cần được đổi mới

+ Luật đất đai năm 1993 khẳng định ruộng đất là của Nhà nước, Nhà nước giao cho hộ nông dân và các tổ chức kinh tế sử dụng ổn định, lâu dài

Trang 26

26

+ Nghị định 02/CP (1994) quy định giao đất lâm nghiệp cho các tổ chức

và cá nhân, hộ gia đình thời hạn 50 năm

+ Nghị định 03/CP (1994) quy định giao khoán kinh doanh rừng và đất rừng lâu dài cho các cá nhân, hộ gia đình

+ Nghị định 64/CP (1999) quy định giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình và các cá nhân ổn định lâu dài, thời hạn 20 năm

+ Nghị quyết số: 03/2000/NQ-CP ngày 02 /02/2000 của Chính phủ về kinh tế trang trại;

+ Thông tư số: 82/2000/TT-BTC ngày 14/8/2000 của Bộ Tài chính hướng dẫn chính sách tài chính nhằm phát triển kinh tế trang trại;

+ Thông tư số: 23/2000/TT-BLĐTBXH ngày 28/9/2000 của Bộ Lao động thương binh và xã hội hướng dẫn áp dụng một số chế độ đối với người lao động làm việc trong các trang trại;

+ Các Thông tư Liên tịch số: 69/2000/TTLT/BNN-TCTK ngày 23/6/2000 và 62/TTLT/BNN-TCTK ngày 20/5/2003 của liên Bộ Nông nghiệp

và PTNT, Tổng cục Thống kê và hướng dẫn tiêu chí để xác định kinh tế trang trại;

+ Nghị quyết số 09/2000/NQ-CP ngày 15/6/2000 của Chính phủ về một

số chủ trương và chính sách về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp;

+ Thông tư số 05/2000/TT-BTS ngày 03/11/2000 của Bộ Thủy sản hướng dẫn thực hiện Nghị quyết số 09/2000/NQ-CP ngày 15/6/2000 của Chính phủ về một số chủ trương và chính sách về chuyển dịch cơ cấu kinh tế

và tiêu dùng sản phẩm nông nghiệp;

+ Quyết định số 103/2000/QĐ-TTg ngày 25/8/2000 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách khuyến khích phát triển giống thủy sản;

Trang 27

27

+ Thông tư số 04/2000/TT-BTS ngày 03/11/2000 của Bộ Thủy sản hướng dẫn thực hiện một số điều trong Quyết định số 103/2000/QĐ-TTg; + Quyết định số 67/1999/QĐ-TTg ngày 30/3/1999 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp

và nông thôn;

+ Quyết định số 148/1999/QĐ-TTg ngày 07/7/1999 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi đoạn đầu của điểm b, khoản 1, mục II, điều 1 của Quyết định số 67/1999/QĐ-TTg;

+ Chỉ thị số 19/1999/CT-TTg ngày 16/7/1999 của Thủ tướng Chính phủ

về việc thực hiện các biện pháp đẩy mạnh tiêu thụ gỗ rừng trồng;

+ Quyết định số 182/1999/QĐ-TTg ngày 03/9/1999 của Thủ tướng Chính phủ

về việc phê duyệt đề án phát triển rau, quả và hoa, cây cảnh thời kỳ 1999 - 2010; + Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính phủ về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng

ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp;

+ Thông tư liên tịch số 62/2000/TTLT-BNN-TCĐC ngày 06/6/2000 của

Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và Tổng cục địa chính hướng dẫn việc giao đất, cho thuê đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp;

+ Thông tư số 117/1999/TT-BTC ngày 27/9/1999 của Bộ tài chính hướng dẫn chế độ tài chính đối với hoạt động thu thuế sử dụng đất nông nghiệp;

+ Quyết định số 140/1999/QĐ-BNN-ĐCĐC ngày 14/10/1999 của Bộ trưởng nông nghiệp và phát triển nông thôn về nội dung tiêu chí định canh định cư;

+ Nghị quyết liên tịch số 47/2000/NQLT/HLHPN-BNN ngày 25/4/2000 của

Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam về việc

hỗ trợ phụ nữ nông thôn phát triển sản xuất nâng cao chất lượng cuộc sống;

Trang 28

Tháng 12/1986 tại Đại Hội Đảng lần thứ VI đã đề ra được các chủ trương chính sách mới đặc biệt là cơ chế khoán gọn tới từng hộ gia đình, tiếp đến là Nghị Quyết 10 của bộ chính trị cùng nhiều văn bản khác của Chính phủ

đã giải phóng sức lao động và các tư liệu sản xuất đặc biệt là đất đai Việc đổi mới cơ chế chính sách này đã tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế trang trại phát triển Theo số liệu của các địa phương dựa vào hướng dẫn về khái niệm

và tiêu chí nhận dạng kinh tế trang trại của Bộ Nông Nghiệp và phát triển nông thôn, đến 07/2006 nước ta có 11.730 trang trại, so với năm 2001 là 61.017 trang trại tăng 86,4%, đến năm 2010 số trang trại là 145.880 trang trại

Có thể thấy, các chính sách trên đã đi vào cuộc sống làm chuyển biến nền nông nghiệp nước ta Trong quá trình phát triển này, một loại hình tổ chức sản xuất mới trong nông nghiệp ra đời: Một số hộ nông dân, cá nhân đã tích luỹ kinh nghiệm sản xuất, tích tụ đất đai, đầu tư thâm canh chuyển sang sản xuất hàng hoá hình thành nên các trang trại đóng góp ngày càng lớn vào sự nghiệp phát triển kinh tế nước ta

1.2.2.2 Tình hình phát triển kinh tế trang trại của tỉnh Thái Nguyên

Đối với tỉnh Thái Nguyên kinh tế trang trại bắt đầu hình thành từ những năm đầu của thập kỷ 90 của thế kỷ 20 sau khi có các chính sách phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước Song trong những năm đầu mới hình thành kinh tế trang trại trên địa bàn tỉnh phát triển không ổn định, hiệu quả kinh tế chưa cao, chưa cải thiện được đời sống của người nông dân ở khu vực nông thôn

Trang 29

29

Tuy nhiên bước sang thế kỷ 21, từ khi Nghị quyết số 03 ngày 02 tháng

02 năm 2000 của Chính phủ được ban hành, tỉnh Thái Nguyên cũng đã có nhiều cơ chế chính sách khuyến khích phát triển kinh tế trang trại Nhờ đó đến nay, kinh tế trang trại đã có những bước phát triển do sự quan tâm của các cấp chính quyền của các địa phương trên địa bàn tỉnh

Tỉnh Thái Nguyên là tỉnh có nhiều đất đai rộng lớn với nhiều loại địa hình và vùng khí hậu khác nhau: đồng bằng, trung du, miền núi, vùng cao Thực tế cho thấy mô hình kinh tế trang trại ở Thái Nguyên trong những năm qua sản xuất có hiệu quả Các trang trại của tỉnh Thái Nguyên có quy

mô nhỏ, phổ biến quy mô bình quân trên dưới 1ha Nhưng các trang trại của tỉnh Thái Nguyên vẫn còn những tính chất cơ bản của kinh tế, như đảm bảo tỷ suất hàng hoá cao, khối lượng nông sản nhiều (khi các trang trại sản xuất chuyên môn hoá từng mặt hàng ở vùng tập trung), vẫn thường xuyên được nâng cao trình độ khoa học công nghệ nông nghiệp Kinh tế trang trại

ở Thái Nguyên chủ yếu vẫn sản xuất theo phương thức gia đình Trong những năm qua kinh tế trang trại ở tỉnh Thái Nguyên phát triển ở tất cả các vùng kinh tế: đồi núi, đồng bằng, hàng năm tỉnh Thái Nguyên đã dành một nguồn kinh phí không nhỏ để phát triển kinh tế trang trại, tạo cơ chế, chính sách về vốn, đất đai và các điều kiện khác để thúc đẩy trang trại phát triển

Để phát triển trang trại trong năm qua tỉnh Thái Nguyên đã thực hiện một

số giải pháp như: Quy hoạch xác định các khu vực phát triển kinh tế trang trại tập trung nhằm hình thành vùng sản xuất tập trung, đáp ứng nhu cầu thị trường Định hướng phát triển cây trồng, vật nuôi chính, phát huy thế mạnh của từng vùng, đầu tư vốn, khoa học kỹ thuật … phù hợp với điều kiện của từng huyện Giải quyết các vấn đề chuyển dịch đất đai tạo điều kiện cho các gia đình có quy mô đất đai lớn để tập trung sản xuất Đầu tư xây dựng

Trang 30

30

cơ sở hạ tầng phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, tạo mối liên doanh, liên kết với kinh tế hợp tác xã và kinh tế nhà nước

Bài học kinh nghiệm cho phát triển kinh tế trang trại ở huyện Phú Lương

- Mô hình trang trại gia đình đang và sẽ là loại hình trang trại phổ biến

và thích hợp với huyện Phú Lương Trang trại gia đình vừa sử dụng lao động gia đình vừa thuê thêm lao động thường xuyên và thời vụ, mô hình trang trại gia đình này có nhiều ưu điểm nổi bật như có khả năng thích ứng với nhiều trình độ sản xuất nông nghiệp, quy mô sản xuất, áp dụng các công nghệ khác nhau

- Không nên quan niệm kinh tế trang trại là phải sản xuất trên những diện tích đất đai rộng lớn mà nên xem xét kinh tế trang trại từ tính chất sản xuất hàng hóa của nó

- Phải nhanh chóng nâng cao trình độ cơ giới hóa trong các trang trại để sản xuất không bị lạc hậu

- Trong giai đoạn đầu, cơ cấu sản xuất của các trang trại nên ở trạng thái hỗn hợp để tận dụng mọi năng lực sản xuất hiện có, nhưng sau dần chuyển sang cơ cấu mang tính chuyên canh một số loại nông, lâm, đặc sản nhất định

- Có nhiều ý kiến cho rằng kinh tế trang trại là “Lối làm ăn của người giàu”, bởi những nông dân nghèo thì khó có đủ vốn để làm trang trại, đồng thời cho rằng không nên khuyến khích loại hình trang trại tư bản tư nhân vì nó

có thể dẫn đến sự tư bản hóa sản xuất nông nghiệp Nhưng sự thực không phải như vậy, nhờ kinh tế trang trại một bộ phận dân cư đã có mức thu nhập cao hơn hẳn nhưng thực tế là việc tăng thu nhập của họ không làm cho những người nghèo nghèo đi và cũng không làm tăng số người nghèo, trái lại kinh tế trang trại còn giải quyết việc làm cho một phần đáng kể lực lượng lao động, cũng như góp phần làm tăng thu nhập cho lực lượng lao động này

Trang 31

31

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Các câu hỏi nghiên cứu

1/ Trong những năm qua, mô hình kinh tế trang trại tại huyện Phú Lương

đã phát triển như thế nào?

2/ Yếu tố nào ảnh hưởng tới sự phát triển của mô hình kinh tế trang trại của huyện Phú Lương?

3/ Hiệu quả kinh tế của các mô hình kinh tế trang trại như thế nào?

4/ Để nâng cao hiệu quả của mô hình, các trang trại của huyện Phú Lương nên phát triển theo hướng nào?

5/ Giải pháp nào có thể thúc đẩy sự phát triển kinh tế trang trại ở huyện Phú Lương?

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

Mô hình kinh tế trang trại ở Thái Nguyên đã phát triển ở tất cả 9 huyện, thị trong toàn tỉnh Mỗi huyện, thị, mô hình này phát triển theo những hướng khác nhau Phú Lương cũng giống như một số huyện khác: Đồng Hỷ, Đại Từ, Phú Bình gần trung tâm thành phố, có điều kiện tự nhiên phong phú Tuy nhiên, mô hình kinh tế trang trại ở đây cũng phát triển theo hướng tự phát Từ năm 2001, Phú lương đã có 13 trang trại, đến năm 2010 thì số trang trại tiếp tục tăng lên là 43 trang trại, với các loại hình khác nhau: Chăn nuôi, trồng trọt, dịch vụ hỗn hợp…nhưng đến năm 2011 thì số trang trại lại quay về con

số 13 trang trại, nhưng không phải là 13 trang trại của năm 2001 mà lúc này

13 trang trại hoàn toàn là chăn nuôi Nguyên nhân, do ngày 13 tháng 4 năm

2011, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT quy định về tiêu chí và thủ tục cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại, thay thế thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT-BNN-TCTK

Trang 32

32

ngày 23 tháng 06 năm 2000 của Bộ nông nghiệp và Tổng Cục thông kê về việc hướng dẫn tiêu chí để xác định kinh tế trang trại Theo đó, rất nhiều trang trại không còn đủ tiêu chí là trang trại theo quy định của thông tư 27, vì vậy một trong những thay đổi khá đặc biệt là số trang trại chỉ còn là các trang trại chăn nuôi Bên cạnh đó, trong những năm qua tại huyện Phú Lương cũng chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về vấn đề phát triển kinh tế trang trại, từ đó tôi chọn điểm nghiên cứu là huyện Phú Lương

2.2.2 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu

Do qui định của thông tư 27/2011/TT-BNNPTNT, số trang trại của huyện Phú Lương đã giảm từ 43 xuống còn 13 trang trại Vì vậy, để đánh giá toàn diện được sự phát triển của các trang trại, từ đó có những khuyến cáo phù hợp, tác giả đã tiến hành điều tra toàn bộ 13 trang trại trên địa bàn 10 xã

và thị trấn của huyện Phú Lương

2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu

- Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp: thông tin tứ cấp được thu

thập qua sách, báo, tạp chí đã công bố hoặc thông qua các báo cáo của phòng thống kê, phòng nông nghiệp huyện, Cục thống kê, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên

- Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp: Thông tin sơ cấp được tác giả

thu thập qua quan sát thực địa và phỏng vấn trực tiếp các chủ trang trại bằng phiếu điều tra được soạn trước Khi đến trang trại điều tra, kết hợp quan sát

mô hình của trang trại để có những nhận xét, đánh giá sát với thực tiễn hơn Bên cạnh những câu hỏi đã được soạn sẵn, cá biệt có những chỉ tiêu cần làm

rõ hơn, tác giả tiến hành phỏng vấn sâu thêm, để xoáy sâu vào những vấn đề

mà tác giả thấy cần thiết phải thu thập thêm, do phiếu điều tra không lượng hóa được hết

Trang 33

33

Bên cạnh những trang trại điều tra trực tiếp, cá biệt còn 2 trang trại (trang trại và Nguyễn Thị Chiến và trang trại ông Hoàng Văn Thời), do đến nhiều lần không gặp được chủ trang trại, tác giả gửi phiếu điều tra và thu lại kết quả sau trả lời Tuy nhiên, theo cách này, số liệu thu thập được chưa thỏa mãn được yêu cầu Vì vậy một số thông tin cần thiết đã được tác giả kiểm chứng lại bằng cách phỏng vấn qua điện thoại, và kết hợp với việc quan sát thực tế, chính vì vậy nên thông tin vẫn đảm bảo về độ chính xác

2.2.5 Phương pháp phân tổ thống kê

- Sử dụng phương pháp phân tổ thống kê để phân chia các trang trại có các đặc tính giống nhau, hoặc gần giống nhau vào cùng một nhóm, từ đó tiện cho việc so sánh, đánh giá, rút ra được xu hướng vận động, phát triển của các trang trại Phương pháp này được sử dụng trước hết làm cơ sở cho so sánh và

các phương pháp phân tích khác

2.2.6 Phương pháp so sánh

Phương pháp so sánh: so sánh quy mô về vốn, quy mô về đất đai của các trang trại, từ đó để xác định được xu hướng vận động của các trang trại Phương pháp này còn được dùng để nghiên cứu các mối quan hệ giữa các yếu

tố đầu vào, đầu ra, qua đó đánh giá, so sánh và rút ra những kết nhằm đưa ra các giải pháp có tính thực tiễn và khoa học trong việc phát triển kinh tế trang trại

2.2.7 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo

Trang 34

34

Để có kết quả nghiên cứu như mong muốn, ngay từ đầu, tác giả đã sử dụng phương pháp chuyên gia, chuyên khảo nhằm lấy ý kiến của các chuyên gia từ việc chọn điểm nghiên cứu, đến việc xây dựng phiếu điều tra, cũng như lựa chọn phương pháp nghiên cứu phù hợp

Các chuyên gia được tác giả lựa chọn là những thầy, cô ở trường Đại học

đã và đang giảng dạy và nghiên cứu về mô hình kinh tế trang tại hoặc các chuyên gia có nhiều kinh nghiệm thực tiễn trong phát triển kinh tế trang trại ở Thái Nguyên và đặc biệt hơn nữa là các chủ trang trại giàu kinh nghiệm thực

tế

Ngoài ra, tác giả còn thu thập và lựa chọn các thông tin, tài liệu, kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài Thông qua việc nghiên cứu để lựa chọn, kế thừa những gì tiến bộ vận dụng vào vẫn đề nghiên cứu để tìm ra tính quy luật

2.2.8 Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (PRA)

Đây là phương pháp được rất nhiều người nghiên cứu về phát triển nông

thôn biết đến, với sự giúp đỡ của các chuyên gia, tác giả đã sử dụng rất hiệu quả phương pháp này, mỗi khi đi đến các trang trại để phỏng vẫn Ngoài việc quan sát toàn bộ hoạt động của trang trại, tác giả còn đánh giá nhanh được sự phát triển của địa bàn xã, nơi có mô hình trang trại mà tác giả cần điều tra Với phương pháp này, giúp cho tác giả có những giải pháp phát triển kinh tế trang trại phù hợp hơn với địa bàn hoạt động của các mô hình kinh tế trang trại

2.2.9 Phương pháp toán kinh tế (sử dụng hàm sản xuất Cobb-Douglas)

Phương pháp này nhằm phân tích tác động cụ thể của các yếu tố ảnh hưởng đến doanh thu của trang trại và để đánh giá sự thay đổi của các nhân tố lao động, diện tích đất, vốn sản xuất …

Hàm sản xuất có dạng là: Y = AX1b1X2b2 Xibi…Xnbn

Trang 35

35

Trong đó:

- Y là doanh thu (Biến phụ thuộc)

- Xi là các yếu tố nguyên nhân (Biến độc lập)

Để đưa hàm về dạng tuyến tính bằng cách lôgarit hóa hai vế Ta có hàm

số là: LnY = LnA + b1LnX1 + b2LnX2 + … + bnLnXn Sau đó dùng phần mềm EXCEL để giải bài toán Bài toán chạy được cần phân tích các kết quả, mối liên quan giữa chúng để chỉ ra mối quan hệ giữa các biến số trong mô hình

Cụ thể

Bảng tóm tắt kết quả (SUMMARY OUTPUT) gồm

- Regression Statistics: Các thông số của mô hình hồi quy

- Multiple R: Hệ số tương quan bội (0 ≤ R ≤ 1) Cho thấy mức độ chặt

chẽ của mối liên hệ tương quan bội

- R Square: Hệ số xác định, trong 100% sự biến động của biến phụ

thuộc Y thì sẽ có bao nhiêu % sự biến động do các biến độc lập Xi ảnh hưởng, còn lại là do sai số ngẫu nhiên trong mô hình

- Adjusted R: Hệ số xác định mẫu điều chỉnh, là hệ số xác định có tính

đến độ lớn hay nhỏ của bậc tự do được chọn đưa vào mô hình df

- Standard Eurror: Sai số chuẩn của biến phụ thuộc Y do hồi quy

trong mô hình

- Observation: Số quan sát hay dung lượng mẫu

Bảng phân tích phương sai ANOVA (Analysis of variance)

- Regression: Do hồi quy

- Residual: Do ngẫu nhiên

- Total: Tổng cộng

- Df (Degree of freedom): Số bậc tự do

- SS (Sum of Square): Tổng bình phương của mức động (sai lệch) giữa

các giá trị quan sát của Y (ký hiệu là Yi) và giá trị bình quân của chúng

Trang 36

36

- MS (Mean of Square): Phương sai hay số bình quân của tổng bình

phương sai lệch kể trên

- F-stat: Tiêu chuẩn F dùng làm căn cứ để kiểm định độ tin cậy về mặt

khoa học (thống kê) của toàn bộ phương trình hồi quy

- Significance F: F lý thuyết (mức ý nghĩa)

Bảng phân tích hồi quy

- Coefficients: Cột giá trị của các hệ số hàm hồi quy

- Intercept: Hệ số tự do, hệ số này cho thấy xuất phát điểm của đường

hồi quy (Giá trị trung bình của Y không phụ thuộc vào các yếu tố Xi)

- X Variable 1, X Variable 2, X Variable 3 … là các hệ số góc của các

biến tương ứng x1, x2, x3 …(Nếu Xi tăng lên một đơn vị và các yếu tố khác không đổi thì biến Y tăng lên Xi đơn vị tương ứng)

- Standard Error (se): độ lệch chuẩn của mẫu theo biến xi

- t-stat: Tiêu chuẩn t dùng làm căn cứ để kiểm định độ tin cậy về mặt

khoa học (thông kê) của độ co giãn ai (i = 1, 2, 3, …, n) tức là mối liên hệ giữa các biến độc lập Xi và biến phụ thuộc Y

- P-value: Xác xuất để t > t-stat, dùng kiểm định độ tin cậy về mặt khoa

học (thống kê) của độ co giãn ai (i = 1, 2, 3, …, n) tức là mối liên hệ giữa các biến độc lập Xi và biến phụ thuộc Y

- Lower 95%; Upper 95%; Lower 98%; Upper 98%: là cận dưới và cận

trên của khoảng ước lượng cho các tham số với độ tin cậy đạt 95% và độ tin cậy đạt 98%

Kiểm định sự phù hợp của mô hình

Để có kết luận chính xác về sự phù hợp của mô hình (tồn tại hay không tồn tại mối quan hệ (sự tương quan giữa các biến) ta tiến hành kiểm định một trong các cặp giả thuyết sau:

- H0: R2 = 0 (không có mối quan hệ giữa các biến)

Trang 37

37

- H1: R2 ≠ 0 (có mối quan hệ giữa các biến)

Tiêu chuẩn kiểm định được dùng là:

Nếu H0 đúng thì F có phân phối fα(k – 1;n – k) cho nên miền bác bỏ đối với giả thiết H0 là:

Nếu F qs < fα : với mức ý nghĩa α chấp nhận H0 và bác bỏ H1 tức là không có sự tương quan hay không tồn tại mối quan hệ giữa các biến của mô hình (mô hình hồi quy này là không phù hợp)

Kiểm định giả thuyết với các hệ số hồi quy

R 2 /(k – 1)

F =

(1 – R 2) /(n – k)

Trang 38

38

Sau khi tiến hành kiểm định sự phù hợp của mô hình, giả sử chúng ta

đã có được mô hình phù hợp Với R2

> 0 ta khẳng định được các biến Xi giải thích được R2

% sự thay đổi của biến Y, nhưng trong sự thay đổi của Y thì biến Xi nào thực sự tác động đến sự thay đổi của biến Y Vì vậy ta cũng cần phải kiểm tra từng hệ số β cụ thể trong mô hình hồi quy để khẳng định biến Xi nào thực sự tác động đến sự thay đổi của biến Y:

Kiểm định cặp giả thuyết:

- H0: βi = 0

- H1: βi ≠ 0

Tiêu chuẩn kiểm định được dùng là:

Nếu H0 đúng thì T có phân phối tα/2 (n-k) cho nên miền bác bỏ đối với giả thiết H0 là:

Trang 39

39

- De_freedom: là hệ số bậc tự do (n-k)

Nếu │T qs │ > tα/2 (n-k): với mức ý nghĩa α bác bỏ H0 và chấp nhận H1

tức là βi thực sự có ảnh hưởng tới sự thay đổi của Y

Nếu │T qs │ < tα/2 (n-k): với mức ý nghĩa α chấp nhận H0 và bác bỏ H1tức là βi thực sự không có ảnh hưởng tới sự thay đổi của Y (Có thể loại biến

Xi này ra khỏi mô hình)

2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu

2.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả sản xuất

2.3.1.1 Tổng giá trị sản phẩm sản xuất ra trong năm: GO (Gross Output)

2.3.1.2 Giá trị gia tăng: VA (Value Added)

VA = GO - IC

Trong đó: - IC là chi phí trung gian và được tính bằng công thức:

IC =

Trong đó: - Ci là khoản chi phí thứ i

- IC (Inter - Cost) là toàn bộ chi phí vật chất thường xuyên

và các dịch vụ được sử dụng trong tất cả quá trình sản xuất của trang trại như: chi phí về Giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, …

- VA là chênh lệch giữa giá trị sản xuất với chi phí trung gian, nó phản ánh phần giá trị mới tăng thêm do kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại trong một thời gian hay một chu kỳ sản xuất

Ngày đăng: 18/10/2023, 14:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w