1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế trang trại tại huyện văn yên, tỉnh yên bái

95 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế trang trại tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
Tác giả Phạm Thị Thúy
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thanh Minh
Trường học Đại Học Thái Nguyên
Chuyên ngành Quản lý kinh tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ kinh tế
Năm xuất bản 2012
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 737,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặt khác, theo quy định tại Thông tư liên tịch số TCTK ngày 23/6/2000 của Bộ NN&PTNT và Tổng cục Thống kê cho biết: có hai nhóm đối tượng có thể tham gia đầu tư sản xuất theo mô hình tra

Trang 1

PHẠM THỊ THUÝ

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI TẠI HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 60.34.01

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thanh Minh

Thái Nguyên, 2012

Tai ngay!!! Ban co the xoa dong chu nay!!!

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này do tôi thu thập là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ bất kỳ một luận văn, luận án nào

Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ

rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Phạm Thị Thuý

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành bản luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan, các cấp lãnh đạo và các cá nhân Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn và kính trọng tới tất cả tập thể và các cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, khoa Kinh tế, khoa Đào tạo sau đại học Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh; Khoa Khuyến Nông và Phát triển nông thôn, Khoa Lâm nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên - những người đã trang bị cho tôi những kiến thức quý báu để tôi hoàn thành được luận văn

Tôi xin được chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Sở NN&PTNT tỉnh Yên Bái, Phòng Nông nghiệp, Phòng Thống kê huyện Văn Yên - tỉnh Yên Bái, các xã

và các hộ trang trại của huyện đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thu thập số liệu

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, các phòng chức năng của trường phổ thông Vùng Cao Việt Bắc đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thanh Minh, người thầy

đã tận tình dạy bảo, trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu

và hoàn thành luận văn

Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên chia sẻ, giúp đỡ nhiệt tình để tôi hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn!

Ngày tháng năm 2012

HỌC VIÊN

Phạm Thị Thúy

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa……… ……….

Lời cam đoan……… ……….……… i

Lời cảm ơn……… ii

Danh mục chữ viết tắt……… iii

Mục lục……… iv

Danh mục các bảng biểu………. v

Danh mục các hình……… vi

MỞ ĐẦU……….

1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KINH TẾ TRANG TRẠI 5 1.1 Cơ sở lý luận……… 5

1.2 Cơ sở thực tiễn……… ………. 19

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……….

27 2.1 Khung phân tích………. 27

2.2 Phương pháp nghiên cứu……… 28

2.3 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá……….……… 31

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU………

32 3.1 Đặc điểm của địa ban nghiên cứu……… 32

3.2.Thực trạng phát triển kinh tế trang trại của huyện Văn Yên……… … 41

3.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế của các trang trại ở huyên Văn Yên………. 57

Chương 4: GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ PHÁT TRIỂN KTTT Ở VĂN YÊN, YÊN BÁI 77 4.1 Định hướng và mục tiêu phát triển KTTT……… 77

4.2 Giải pháp chủ yếu nhằm phát triển KTTT tại Văn Yên……… 79

KẾT LUẬN ……… 84

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

1 Bảng 2.1: Phương pháp thu thập và phân tích số liệu……… 30

2 Bảng 3.1: Hiện trạng cơ cấu sử dụng đất huyện Văn Yên năm 201………… 36

3 Bảng 3.2: Tổng giá trị sản xuất các ngành kinh tế của huyện Văn Yên trong 3 năm 2009-2011 ……… 39

4 Bảng 3.3: Cơ cấu và giá trị sản lượng ngành nông - lâm nghiệp (theo giá cố định năm 2000).………. 40

5 Bảng 3.4: Số lượng trang trại chia theo đơn vị xã, thị trấn……… 43

6 Bảng 3.5: Cơ cấu trang trại theo hướng kinh doanh chính năm 2011 45 7 Bảng 3.6: Cơ cấu trang trại theo quy mô đất đai………. 46

8 Bảng 3.7: Cơ cấu trang trại theo vốn đầu tư……… 47

9 Bảng 3.8: Nguồn gốc đất đai của các trang trại……… 49

10 Bảng 3.9: Tình hình sử dụng đất đai của các trang trại……… 50

11 Bảng 3.10: Nhân khẩu và tình hình sử dụng LĐ của trang trại năm 2011 51 12 Bảng 3.11: Một số thông tin về chủ trang trại ở huyện Văn Yên……… 53

13 Bảng 3.12: Vốn và cơ cấu nguồn vốn của các trang trại ở Văn Yên 2011 54

14 B 3.13: Cơ cấu tổng thu từ sản xuất của các trang trại tại Văn Yên 2011 57

15 Bảng 3.14: Chi phí của trang trại năm 2011 (tính bình quân ) ……… 59

16 Bảng 3.15: Thu nhập hỗn hợp của các trang trại năm 2011……… 60

17 Bảng 3.16: Hiệu quả 1 đồng chi phí của các trang trại ở huyện Văn Yên ………… 61

18 Bảng 3.17: Hiệu quả trên 1 ha canh tác của các trang trại……… 63

19 Bảng 3.18: Hiệu quả kinh tế của các trang trại trồng trọt năm 2011………… 64

20 Bảng 3.19: Hiệu quả kinh tế của các trang trại chăn nuôi năm 2011……… 65

21 Bảng 3 20: Hiệu quả kinh tế của trang trại nuôi trồng thuỷ sản và kinh doanh tổng hợp năm 2011……… 67

22 Bảng 3.21: Giá trị sản phẩm hàng hoá của các trang trại ở Văn Yên giai đoạn 2009 – 2011 (Tính bình quân cho 1 trang trại)……… 71

23 Bảng 4.1: Phương hướng phát triển NLN huyện Văn Yên đến năm 2015 79

Trang 7

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

1 Sơ đồ 2.1: khung phân tích……… …… 28

2 Biểu đồ 3.1: Cơ cấu kinh tế huyện Văn Yên năm 2011……… 38

3 Biểu đồ 3.2: Cơ cấu trang trại theo hướng kinh doanh chính……… 45

4 Biểu đồ 3.3: Cơ cấu trang trại Nông – Lâm nghiệp theo mức thu

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ở Việt Nam kinh tế trang trại (KTTT) đã manh nha từ rất lâu, nhưng chỉ trong khoảng chục năm trở lại đây vai trò của nó mới thực sự được công nhận

và được quan tâm chú ý, đặc biệt là sau Nghị quyết 03/2000/NQ-CP của Chính phủ, ban hành ngày 02/02/2000 về KTTT mới thực sự được sự hỗ trợ của Nhà nước về cơ chế, chính sách như là hỗ trợ cho các doanh nghiệp thông thường trong nền kinh tế thị trường

Trong tiến trình phát triển nông nghiệp, nông thôn hiện nay ở nước ta, sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa với quy mô ngày càng lớn và mang tính thâm canh, chuyên canh đang là một yêu cầu tất yêu khách quan Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại Quốc tế (WTO) đã tạo ra nhiều

cơ hội và thách thức cho nền kinh tế nói chung và cho nền nông nghiệp nói riêng Thách thức lớn nhất mà nông nghiệp của Việt Nam sẽ phải đối mặt là việc mở cửa cho hàng hóa nông sản của các nước trong WTO lưu thông không bị hàng rào thuế quan ngăn cản Do đó hàng hóa nông sản của ta sẽ bị cạnh tranh khốc liệt Những sản phẩm phẩm sản xuất theo kiểu truyền thống, với mô hình tự cung, tự cấp sẽ không thể cạnh tranh với nông sản ngoại nhập, cho nên cần có những giải pháp để thúc đẩy sản xuất hàng hóa nông sản Việt Nam KTTT là một loại hình sản xuất hàng hóa nông sản đáp ứng được nhu cầu trong giai đoạn hiện nay Việc nghiên cứu, phát triển KTTT sẽ mang lại một khối lượng sản phẩm nông nghiệp phong phú, sử dụng được nguồn lao động nông nghiệp trong sản xuất hàng hóa

Yên Bái là một tỉnh miền núi thuộc vùng Tây Bắc, có lợi thế về đất đai, lao động, thị trường tiêu thụ thuận tiện Cũng như nhiều địa phương khác KTTT của Yên Bái được hình thành từ chủ trương chính sách đổi mới kinh tế của Đảng, chính sách khuyến khích phát triển kinh tế đồi rừng, chương trình khai thác sử dụng đồi núi trọc Chính sách giao đất giao rừng cùng với chính

Trang 9

sách đầu tư, hỗ trợ vốn của Nhà nước đã góp phần hình thành nên các trang trại nông lâm nghiệp Những năm gần đây KTTT của Yên Bái đã có những bước phát triển mạnh ở hầu hết các huyện, thị trong tỉnh

Văn Yên là một huyện, nằm ở phía Bắc của tỉnh Yên Bái, những năm qua KTTT được hình thành, đang có xu hướng phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng, góp phần khai thác tiềm năng lao động tại chỗ, giải quyết công ăn việc làm, xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống của người dân địa phương Hàng năm, tại đây cung cấp một lượng nông, lâm sản hàng hoá lớn cho thị trường địa phương và các vùng lân cận Hình thức này hiện đang mở ra hướng làm ăn mới cho các hộ gia đình ở địa phương và đang được khuyến khích phát triển Tuy mới phát triển, nhưng các trang trại ở vùng này đang phải đương đầu với nhiều khó khăn trở ngại về vốn, về phương hướng sản xuất, về điều kiện tự nhiên và khả năng áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Từ đó dẫn đến hiệu quả và hiệu quả kinh tế còn thấp và đầy rủi ro cần phải được giải quyết Xuất phát từ thực tế khách

quan đó, chúng tôi chọn nội dung "Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm

phát triển KTTT tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái" để thực hiện đề tài luận

văn tốt nghiệp chương trình đào tạo thạc sỹ quản lý kinh tế

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

2.1 Mục tiêu chung

Phân tích thực trạng phát triển KTTT huyện Văn Yên, từ đó đề xuất một

số giải pháp chủ yếu phù hợp nhằm phát triển KTTT trên địa bàn huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái

Trang 10

+ Đưa ra phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy phát triển KTTT ở huyện Văn Yên

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hộ đã có đủ tiêu chí trở thành trang trại Những hộ đã có đủ điều kiện là hộ trang trại nhưng chưa được xét

và công nhận

3.2 Phạm vi nghiên cứu

* Về nội dung nghiên cứu

+ Nghiên cứu tình hình cơ bản của các trang trại ở huyện

+ Nghiên cứu nội dung hoạt động của các loại hình KTTT của huyện (loại hình trang trại, quy mô sản xuất, tiêu thụ sản phẩm)

+ Hiệu quả kinh tế của trang trại

+ Những khó khăn, thuận lợi trong quá trình sản xuất và phát triển trang trại (cơ chế chính sách, điều kiện nội tại chủ quan của các trang trại và các điều kiện khách quan tác động hạn chế tới sự phát triển) Những tiềm ẩn chưa được khai thác cần được đưa vào phục vụ cho sự phát triển của các trang trại

* Về không gian

Đề tài nghiên cứu trên phạm vi các xã, các mô hình trang trại trên địa bàn huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái

Trang 11

4 Ý nghĩa khoa học và đóng góp của luận văn

Mặc dù những nghiên cứu về KTTT đã được công bố tương đối nhiều trong những năm gần đây, song với những kiến thức đã và đang có, qua quá trình nghiên cứu điều tra khảo sát tại cơ sở cùng với sự hướng dẫn chỉ bảo của các thầy cô, các chuyên gia trong lĩnh vực Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phân tích được thực trạng phát triển KTTT của huyện Văn Yên, chỉ ra những thách thức, khó khăn, thuận lợi và tiềm năng còn tiềm ẩn đến phát triển KTTT ở huyện

Trên cơ sở đánh giá thực trạng đề tài sẽ đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy phát triển KTTT cho huyện Văn Yên

Các hộ gia đình tại địa phương có được cơ sở và định hướng trong xây dựng và phát triển mô hình KTTT phù hợp với điều kiện địa phương và hoàn cảnh gia đình

5 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 4 chương

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về kinh tế trang trại

Chương 2 Phương pháp và chỉ tiêu nghiên cứu

Chương 3 Kết quả nghiên cứu

Chương 4 Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế trang trại ở Văn Yên

Trang 12

Mặt khác, theo quy định tại Thông tư liên tịch số TCTK ngày 23/6/2000 của Bộ NN&PTNT và Tổng cục Thống kê cho biết: có hai nhóm đối tượng có thể tham gia đầu tư sản xuất theo mô hình trang trại, đó

69/2000/TTLT/BNN-là hộ gia đình (bao gồm: hộ nông dân, hộ công nhân viên chức nhà nước và lực lượng vũ trang đã nghỉ hưu, các loại hộ thành thị) và cá nhân Từ đó, hình thành nên hai loại hình kinh doanh là trang trại gia đình và trang trại cá nhân Nguyễn Văn Tuấn (2002) cho rằng: KTTT là nền kinh tế nông nghiệp sản xuất hàng hóa, khác với nền kinh tế tiểu nông tự cấp tự túc Tác giả đã dẫn lời của Các Mác để phân biệt chủ trang trại (Fermier farmer) với người tiểu nông:

- Người chủ trang trại bán ra thị trường toàn bộ sản phẩm làm ra

- Người tiểu nông tiêu dùng đại bộ phận sản phẩm làm ra và mua bán

càng ít càng tốt

Trần Trác (2000), có định nghĩa về KTTT như sau: KTTT là hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa lớn trong nông, lâm, ngư nghiệp của các thành phần kinh tế khác nhau ở nông thôn, có sức đầu tư lớn, có năng lực quản lý trực

Trang 13

tiếp quá trình sản xuất kinh doanh, có phương pháp tạo ra suất sinh lợi cao hơn bình thường trên đồng vốn bỏ ra; có trình độ đưa những thành tựu khoa học công nghệ mới kết tinh trong hàng hóa tạo ra sức cạnh tranh cao hơn trên thị trường xã hội, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao

Hiện nay hầu hết các trang trại ở nước ta có quy mô đất đai dưới mức hạn điền, có sử dụng lao động làm thuê thường xuyên và thời vụ

Lê Trọng (2000), đưa ra khái niệm về KTTT như: KTTT bao gồm: lâm trại, ngư trại; là hình tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất nông nghiệp xã hội, bao gồm một số người lao động nhất định, được các chủ trang trại trang

bị những tư liệu sản xuất nhất định để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường được Nhà nước bảo hộ Tóm lại: Qua những khái niệm trên, chúng tôi nhận thấy rằng những điểm chung của những khái niệm về trang trại như sau:

- Chủ yếu là kinh tế hộ nông dân sản xuất ra hàng hóa

- Quy mô sản xuất hàng hóa của hộ nông dân phải đạt được mức độ tương đối lớn và đa dạng hóa sản phẩm có mức thu nhập qua bán hàng như thế nào đó để họ có thể tái sản xuất mở rộng sau khi các nhu cầu khác như sinh hoạt, đời sống được bảo đảm

- Phương thức sản xuất của trang trại gia đình gắn bó trực tiếp giữa người lao động với đất đai, tư liệu sản xuất, gắn thu nhập của người lao động với kết quả sản xuất Điều này hoàn toàn phù hợp với sản xuất nông nghiệp dưới góc độ: Đối tượng lao động, tư liệu sản xuất chủ yếu, những thực thể sinh học là

cơ thể sống và phát sinh, phát triển, phát dục và suy thoái (diệt vong)

Ở Việt Nam, trong những năm gần đây trang trại được gọi dưới góc độ chuyên sâu của từng ngành kinh tế, lĩnh vực sản xuất, như:

- Đối với nông nghiệp (trồng trọt) là trang trại

- Đối với lâm nghiệp là lâm trại

- Đối với ngư nghiệp là ngư trại

Trang 14

- Trang trại kinh doanh tổng hợp là trang trại tổng hợp

Dù ở ngành kinh tế nào, lĩnh vực sản xuất nào đi nữa thì loại hình trang trại đều là những cơ sở sản xuất ra hàng hóa trong phạm vi, quy mô hộ gia đình, gia đình là hạt nhân hay gia đình liên kết

- Phát triển KTTT

Ban kinh tế Trung ương nhận định rằng: KTTT ở nước ta đã có từ trước, nhưng chỉ phát triển mạnh trong vài năm gần đây Có thể xem việc thực hiện Chỉ thị 100 của Ban bí thư Trung ương (khóa IV), Nghị quyết 10 của Bộ chính trị (khóa VI) về phát huy vai trò tự chủ của kinh tế hộ nông dân đã đặt nền móng cho sự ra đời của KTTT Cho đến nay, đã có hàng chục vạn trang trại được hình thành, thu hút hàng chục vạn lao động, làm ra khối lượng nông sản hàng hóa ngày càng lớn Điều đó, đã và đang tác động đến diện mạo kinh

tế xã hội ở nhiều vùng nông thôn Sự phát triển nhanh chóng của nền KTTT

và sự hưởng ứng rộng rãi của nông dân ở nhiều vùng làm KTTT chứng tỏ sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn và KTTT có sức sống mạnh mẽ Đây là hiện tượng phù hợp với chủ trương của Đảng ta đưa nông nghiệp lên sản xuất hàng hóa lớn và có thể là sự đột phá của bước phát triển mới trong nông nghiệp và nông thôn nước ta, đặc biệt là ở trung du, miền núi

1.1.1.2 Đặc trưng

Nghiên cứu, tìm hiểu đưa ra đặc trưng chủ yếu của KTTT ở Việt Nam cũng được nhiều tác giả đề cập đến như:

Bùi Minh Vũ (2005) đưa ra những đặc trưng của trang trại:

- Là kinh tế hộ nông dân sản xuất ra hàng hóa

- Hàng hóa được sản xuất ra với mức tương đối lớn và đa dạng

- Phương thức sản xuất: Gắn bó chặt chẽ giữa lao động với đất đai, gắn thu nhập với kết quả sản xuất

- Loại hình: Trang trại, lâm trại, ngư trại

Trang 15

- Lao động: Lao động trong gia đình, một phần thuê mướn hoặc hợp đồng theo thời vụ

- Khai thác và sử dụng đất: Khai thác sử dụng đất đai trực tiếp

- Về quan hệ sở hữu: Quan hệ sở hữu của trang trại được thể hiện bằng

hệ thống pháp luật và tạo nên chế độ sở hữu Chế độ sở hữu đó bao gồm các quyền (quyền sở hữu, quyền quản lý kinh doanh, quyền chi phối và quyền thực hiện lợi ích kinh tế)

Hội khoa học kinh tế Việt Nam cho rằng: Đặc trưng chủ yếu của KTTT

là sản xuất nhiều nông sản hàng hóa để bán ra thị trường C.Mác đã phân biệt

rõ KTTT với kinh tế tiểu nông : “Người chủ trang trại bán toàn bộ sản phẩm

sản xuất ra và mua vào tất cả các loại tư liệu sản xuất, còn người tiểu nông thì sản xuất tự túc là chủ yếu, không bán sản phẩm hoặc bán không đáng kể

và mua vào càng ít càng tốt”

KTTT, không phát triển đồng đều, tỷ suất nông sản hàng hóa khác nhau, nhưng ở mức thấp nhất là 60 - 70%, cao là 80 - 90% Còn với tỷ suất nông sản hàng hóa 50 - 60% trở xuống thì về cơ bản vẫn là kinh tế tiểu nông có xu hướng phát triển dần lên mô hình trang trại

Tóm lại: Còn nhiều tác giả đề cập đến đặc trưng của trang trại, như: Lê Trọng, Nguyễn Sinh Cúc v.v Tuy nhiên sau khi nghiên cứu, đánh giá chúng tôi thấy báo cáo tổng hợp của Hội nghị nghiên cứu KTTT tại thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương do Ban Kinh tế Trung ương tổ chức là tương đối tổng hợp được các đặc trưng về KTTT, chúng tôi trích dẫn như sau:

Ban kinh tế Trung ương sơ bộ có các đặc trưng chủ yếu (để nhận dạng) của KTTT ở nước ta hiện nay:

- Trang trại là một hình thức tổ chức kinh tế trong nông, lâm, ngư nghiệp phổ biến được hình thành trên cơ sở kinh tế hộ, nhưng mang tính sản xuất hàng hóa rõ rệt

Trang 16

- Các trang trại có sự tập trung tích tụ cao hơn rõ rệt so với mức bình quân của các hộ kinh tế gia đình trong xã hội, ở từng vùng về các điều kiện sản xuất (đất đai, vốn, lao động), đạt khối lượng và tỷ lệ sản phẩm hàng hóa lớn hơn và thu được lợi nhuận nhiều hơn

- Nhìn chung, chủ trang trại là những người có ý chí làm giàu, có điều kiện làm giàu và biết làm giàu, có vốn, trình độ kỹ thuật và khả năng quản lý,

có hiểu biết nhất định về thị trường, bản thân và gia đình thường trực tiếp tham gia lao động, quản lý sản xuất của trang trại đồng thời có thuê thêm lao động để sản xuất kinh doanh

- KTTT mang tính chất sản xuất hàng hóa, gắn liền với thị trường, chính

vì vậy có nhu cầu cao hơn hẳn kinh tế hộ mang nặng tính tự cấp, tự túc, về tiếp thị, về sự tác động của khoa học - công nghệ vào sản xuất nông nghiệp,

về sự phát triển của công nghiệp, trực tiếp là công nghiệp bảo quản, chế biến nông lâm thủy sản, chế tạo nông cụ nhằm tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm và đáp ứng được đòi hỏi của khách hàng về quy cách, chất lượng sản phẩm để bảo đảm tiêu thụ hàng hóa, canh tranh trên thị trường

1.1.1.3 Tiêu chuẩn và tiêu chí xác định trang trại

Theo Thông tư số 74/2003/TT-BNN ngày 4/7/2003 hướng dẫn tiêu chí xác định KTTT, nội dung cụ thể như sau:

Một hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản được xác định là trang trại phải đạt được cả hai tiêu chí định lượng sau đây:

a Giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ bình quân 1 năm:

- Đối với các tỉnh phía Bắc và duyên hải miền Trung từ 40 triệu đồng trở lên

- Đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên từ 50 triệu đồng trở lên

b Quy mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế nông hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế

* Đối với trang trại trồng trọt

(1) Trang trại trồng cây hàng năm (CHN)

Trang 17

+ Từ 2 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và duyên hải miền Trung + Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên

(2) Trang trại trồng cây lâu năm (CLN)

+ Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và duyên hải miền Trung + Từ 5 ha trở lên đối với ở các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên

+ Trang trại trồng hồ tiêu 0,5 ha trở lên

(3) Trang trại lâm nghiệp (LN)

+ Từ 10 ha trở lên đối với các vùng trong cả nước

* Đối với trang trại chăn nuôi

(1) Chăn nuôi đại gia súc: trâu, bò, v.v (CNĐGS)

+ Chăn nuôi sinh sản, lấy sữa có thường xuyên từ 10 con trở lên

+ Chăn nuôi lấy thịt có thường xuyên từ 50 con trở lên

(2) Chăn nuôi gia súc: lợn, dê, v.v (CNGS)

+ Chăn nuôi lợn sinh sản có thường xuyên đối với hơn 20 con trở lên, đối với dê, cừu từ 100 con trở lên

+ Chăn nuôi lợn thịt có thường xuyên từ 100 con trở lên (không kể lợn sữa), dê thịt từ 200 con trở lên

(3) Chăn nuôi gia cầm: gà, vịt, ngan, ngỗng, v.v có thường xuyên từ 2.000 con trở lên (không tính số đầu con dưới 7 ngày tuổi)

* Trang trại nuôi trồng thuỷ sản(NTTS)

- Diện tích mặt nước để nuôi trồng thủy sản có từ 2 ha trở lên (riêng đối với nuôi tôm thịt theo kiểu công nghiệp từ 1 ha trở lên)

* Đối với các loại sản phẩm nông lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản có tính chất đặc thù như: Trồng hoa, cây cảnh, trồng nấm, nuôi ong, giống thủy sản và thuỷ đặc sản, thì tiêu chí xác định là giá trị sản lượng hàng hoá (tiêu chí 1)

Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT ngày 13/04/2011 do Bộ NN & PTNT ban hành quy định về tiêu chí và thủ tục cấp Giấy chứng nhận KTTT

Trang 18

Trang trại chuyên ngành (trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản) là trang trại có tỷ trọng giá trị sản lượng nông sản hàng hóa của ngành chiếm trên 50% cơ cấu giá trị sản lượng hàng hóa của trang trại trong năm Trường hợp không có ngành nào chiếm trên 50% cơ cấu giá trị sản lượng hàng hóa thì được gọi là trang trại tổng hợp

Cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất tổng hợp đạt tiêu chuẩn KTTT khi: Có diện tích trên mức hạn điền tối thiểu 3,1ha đối với vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long và mức tối thiểu là 2,1ha đối với các tỉnh còn lại; Giá trị sản lượng hàng hóa đạt 700 triệu đồng/năm Cơ sở chăn nuôi đạt tiêu chuẩn KTTT khi giá trị sản lượng hàng hóa từ 01 tỷ đồng/năm trở lên và cơ sở sản xuất lâm nghiệp đạt tiêu chuẩn KTTT khi có diện tích tối thiểu 31ha và giá trị sản lượng hàng hóa bình quân đạt 500 triệu đồng/năm trở lên

Cá nhân, hộ gia đình có nhu cầu cấp Giấy chứng nhận nộp 01 bộ hồ sơ theo quy định đến Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã; sau khi tiếp nhận hồ sơ, UBND cấp xã phải trao Giấy biên nhận cho người nộp hồ sơ trong đó ghi rõ ngày hẹn trả kết quả Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ

sơ, UBND cấp xã kiểm tra, xác nhận Đơn đề nghị cấp, cấp đổi Giấy chứng nhận KTTT và chuyển hồ sơ đề nghị cấp, cấp đổi Giấy chứng nhận KTTT đến UBND cấp huyện UBND cấp huyện là cơ quan cấp, cấp đổi, cấp lại và thu hồi Giấy chứng nhận KTTT

Giấy chứng nhận KTTT được cấp theo tiêu chí cũ không còn hiệu lực kể

từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành Các trang trại có nhu cầu cấp Giấy chứng nhận kinh tế trang trại phải làm thủ tục đề nghị cấp mới theo quy định tại Thông tư này

Thông tư này có hiệu lực từ ngày 28/05/2011 và thay thế Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK ngày 13/06/2000 và Thông tư số 74/2003/TT-BNN ngày 04/07/2003

Trang 19

1.1.1.4 Các loại hình trang trại

Để biết được các loại hình trang trại ở Việt nam, có nhiều tác giả phân định theo nhiều quan điểm khác nhau, ví dụ như:

Theo Bùi Minh Vũ (2005), cũng như Hội khoa học kinh tế Việt nam (2006) đều cho rằng: Có thể phân biệt các loại hình trang trại ở các vùng khác nhau, như:

- Vùng trung du miền núi: Được hình thành 3 loại hình chủ yếu sau đây:

+ Loại 1: Hộ gia đình nông dân tại địa phương hoặc từ vùng đồng bằng chuyển đến xây dựng kinh tế mới Các hộ này có kiến thức sản xuất kinh doanh đã xin nhận đất lập trang trại trồng rừng, cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc, gia súc gia cầm

+ Loại 2: Các gia đình là thành viên của Nông - Lâm trường sau khi nhận khoán rừng, đàn gia súc, phát triển KTTT

+ Một số dân cư, tư nhân sinh sống ở đô thị, khu công nghiệp có vốn, ham muốn kinh doanh đã đến xin nhận đất hoặc mua lại theo hình thức chuyển nhượng, ở vùng trung du, miền núi, lập trang trại để tiến hành sản xuất kinh doanh (Ví dụ như khu vực lâm trường Sóc Sơn - Hà Nội)

Các mô hình trang trại của vùng này có thể nêu lên một cách khái quát như: + Mô hình trang trại KDTH theo phương thức nông - lâm kết hợp

+ Mô hình trang trại chuyên môn hóa từng mặt: Trang trại chuyên trồng cây

ăn quả; trang trại chuyên chăn nuôi bò sữa; trang trại chuyên trồng cây cà phê

- Vùng ven biển: Tùy thuộc điều kiện riêng biệt của từng vùng, các nông -

ngư trường nuôi trồng thủy sản phát triển theo quy mô và đặc điểm khác nhau: + Vùng ven biển miền Bắc các hộ kinh doanh quy mô lớn thường chuyên

về nuôi trồng thủy sản Các hộ gia đình ít vốn, diện tích nhỏ thường kết hợp nuôi trồng thủy sản gắn với sản xuất nông nghiệp

+ Vùng ven biển miền Trung do có diện tích vùng cửa sông, thủy triều nhỏ nên quy mô ngư trại không lớn

Trang 20

+ Vùng ven biển các tỉnh miền đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long do điều kiện môi trường thuận lợi nên năng suất nuôi trồng thủy sản ở đây cao hơn các vùng ven biển Bắc Bộ từ 2 đến 3 lần

- Vùng đồng bằng (đồng bằng sông Hồng và khu vực miền Trung, vùng đồng bằng sông Cửu Long) các trang trại thường có quy mô nhỏ, thường đi vào kinh doanh tổng hợp đa dạng cả nông nghiệp và phi nông nghiệp Việc lựa chọn các sản phẩm có giá trị cao thường được áp dụng ở vùng này

Ngoài ra người ta còn chia loại hình trang trại theo chủ trang trại, như Hội Khoa học kinh tế Việt Nam (2006) có phân định như sau:

- Trang trại cá thể: Chủ trang trại là cá thể trực tiếp quản lý và trực tiếp sản xuất, không thuê hoặc ít thuê lao động, dịch vụ khi thời vụ khẩn trương

- Trang trại tiểu chủ: Nông nghiệp tiểu chủ nước ta đã hình thành và đang phát triển theo mô hình KTTT quy mô nhỏ, vừa và lớn Nông nghiệp tiểu chủ làm trang trại khác với nông nghiệp cá thể ở chỗ sản xuất sản phẩm hàng hóa là chủ yếu, với tỷ suất hàng hóa cao hơn, trang trại tiểu chủ do tiểu chủ vừa trực tiếp quản lý và trực tiếp sản xuất, có thuê thêm lao động thường xuyên và không thường xuyên

- Trang trại tư bản tư nhân: Loại hình trang trại này hoàn toàn sản xuất ra sản phẩm hàng hóa, hoàn toàn thuê lao động bên ngoài để sản xuất, có khi thuê cả lao động để quản lý, quy mô sản xuất (đất đai, lao động, vốn, sản lượng, thu nhập) đều lớn hơn nông nghiệp tiểu chủ và cá thể

Người ta còn có thể phân loại trang trại theo quy mô diện tích (cụ thể xem phần tiêu chí xác định trang trại)

Theo Lâm Quang Huyên (2005) về phân loại trang trại, tác giả phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau, như:

Phân loại theo cơ cấu sản xuất: Ở những nước mà nông nghiệp đã phát

triển đến trình độ cao như Hoa Kỳ, Canada, Tây Âu thì cơ cấu sản xuất theo hướng chuyên môn hóa như: Chuyên nuôi bò thịt hay bò sữa, chuyên nuôi gà

Trang 21

hay lợn, chuyên trồng cây ăn quả hoặc hoa, rau, cây cảnh Có những trang trại chuyên sản xuất nông nghiệp hay lâm sản làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, có khi kết hợp vừa sản xuất vừa chế biến ở trình độ sơ chế hay tinh chế Nhiều trang trại kinh doanh tổng hợp kết hợp giữa nông nghiệp và lâm nghiệp như các nước Bắc Âu, kết hợp nông nghiệp với tiểu thủ công nghiệp như các nước Châu Á

Phân loại theo hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất: Trường hợp phổ

biến là người chủ trang trại sở hữu toàn bộ tư liệu sản xuất (đất đai, công cụ, máy móc đến chuồng trại, kho bãi) Riêng về ruộng đất ở nhiều nước, 70 - 80% chủ trang trại có ruộng đất riêng Ở Hoa Kỳ, số chủ trang trại sở hữu hoàn toàn ruộng đất chiếm 59%, sở hữu một phần 29,3% và thuê hoàn toàn 11,7% (số liệu 1999) Có nước như Thụy Điển chỉ có 30% chủ trang trại có ruộng đất riêng

Chủ trang trại chỉ sở hữu một phân nhỏ tư liệu sản xuất, còn phải thuê của người khác Trường hợp khá phổ biến là trang trại có đất đai nhưng phải thuê máy móc, chuồng trại, kho tàng

Có trang trại hoàn toàn không có tư liệu sản xuất mà đi thuê toàn bộ cơ

sở của một trang trại hoặc của nhà nước để sản xuất, không chỉ máy móc thiết

bị, kho tàng, chuồng trại mà cả đất đai, mặt nước, rừng cây

Về quy mô đất đai: Quy mô trang trại gia đình ở các nước, các khu vực

rất khác nhau:

Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT ngày 13/04/2011 do Bộ NN &

PTNT ban hành quy định về tiêu chí và thủ tục cấp Giấy chứng nhận KTTT

Theo lĩnh vực sản xuất thì trang trại được xác định thành 05 loại hình là: trang trại trồng trọt; trang trại chăn nuôi; trang trại lâm nghiệp; trang trại nuôi trồng thuỷ sản; trang trại tổng hợp

Trang 22

1.1.1.5 Vai trò và triển vọng phát triển kinh tế trang trại

- KTTT đã có từ lâu và trải qua nhiều bước thăng trầm khác nhau Được

sự cổ vũ, động viên quan tâm của Đảng và Nhà nước, các cấp các ngành thông qua các Nghị Định, Chỉ thị, Quyết định v.v của Nhà nước, các luật như: Luật Đất đai (1993, 2003), Luật Lao động v.v mô hình KTTT hình thành và phát triển Sự phát triển của KTTT đã đáp ứng được yêu cầu khách quan của nền kinh tế thị trường KTTT đã đóng góp vai trò quan trọng trên các lĩnh vực:

- KTTT đang góp phần chuyển nhanh nền kinh tế sang sản xuất hàng hóa, tạo điều kiện cho công nghiệp và dịch vụ phát triển, chuyển dịch cơ cấu ngành (nhất là cây, con trong nông nghiệp) và vùng lãnh thổ theo hướng khai thác sử dụng đất, tiềm năng và thế mạnh ngày càng có hiệu quả Kết quả kinh

tế rõ nét nhất là các chủ trang trại đã biến những vùng đất hoang hóa, khô cằn hoặc ngập úng quanh năm thành những vùng kinh tế trù phú, mang đậm tính chất sản xuất hàng hóa quy mô lớn, đầu tư cao

- Tạo ra nhiều việc làm, có điều kiện tích tụ vốn, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghiệp vào sản xuất kinh doanh Góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng Trang trại phát triển, đã thu hút một lượng lao động đáng kể vào làm việc, nhất là ở vùng nông thôn, miền núi

Nếu như năm 2001, các trang trại đã thu hút được 374.701 lao động vào làm việc, thì đến năm 2007 số lượng này tăng lên là 488.277; và đầu năm

2009 đạt con số trên 510.000 lao động, trong đó lao động của chủ trang trại chiếm khoảng 40%, còn lại là lao động thuê ngoài Với nhiều địa phương khi đất sản xuất nông nghiệp bị chuyển đổi mục đích sử dụng, thì các trang trại đã góp phần tạo thêm nhiều công ăn, việc làm cho người dân, đặc biệt là ở khu vực Đồng bằng sông Hồng, duyên hải Nam Trung Bộ, Bắc Trung Bộ Lao động làm thuê được trả công trung bình là 70.000 đồng/ngày Ở những trang

Trang 23

trại cao su, hồ tiêu, cà phê hay nuôi trồng thủy sản còn được trả cao hơn và được thưởng thêm

- Tăng thêm của cải vật chất cho xã hội, tăng thu nhập và cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho các hộ nông dân trong vùng Góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao trình độ học vấn, văn hóa, dân trí và đào tạo tay nghề cho nông dân, từng bước rút ngắn khoảng cách về thu nhập, trình độ nhận thức về mọi mặt giữa nông thôn và thành thị

- Tạo nhu cầu phát triển các hình thức hợp tác và có sự liên kết với kinh tế hợp tác, sự liên kết với kinh tế Nhà nước, tăng cường khối liên minh công - nông

Theo Đặng Kim Sơn, (2009), cho rằng, KTTT là bước phát triển mới của kinh tế hộ chuyển từ sản xuất tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hoá với quy

mô lớn gắn với thị trường vì vậy đã góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi

cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn sang sản xuất hàng hoá mũi nhọn, tập trung quy mô lớn

- Phát triển KTTT chính là tiền đề cho việc phát triển ngành công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản, thực phẩm và là động lực thúc đẩy các loại hình dịch vụ cùng phát triển Thực tế cho thấy, phần lớn các trang trại đã khai thác triệt để, có hiệu quả rất nhiều diện tích đất trống đồi núi trọc, bãi bồi ven biển đưa vào sản xuất kinh doanh Do đó đất đai được sử dụng hợp lý hơn, nhiều vườn tạp đất trống, đồi trọc hoang hoá được chuyển đổi thành vườn rừng, vườn quả trù phú; nhiều ao hồ đầm lầy, bãi bồi được đầu tư cải tạo thành khu nuôi trồng thuỷ sản đạt giá trị cao

Ngoài ra mô hình trang trại các loại cũng đã thu hút và tạo việc làm ổn định cho nhiều lao động tại chỗ, đồng thời huy động được nguồn vốn nhàn rỗi

ít sinh lời để đầu tư cho phát triển trang trại mang lại hiệu quả cao

Sự phát triển của KTTT thời gian qua đã tạo động lực thúc đẩy các ngành nghề nông thôn cùng phát triển, việc đưa tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất như

Trang 24

lai tạo giống, cung ứng giống cây trồng, vật nuôi được hình thành và có xu thế phát triển mạnh Các loại hình dịch vụ như cung ứng thuốc trừ sâu, phân bón, các cơ sở chế biến nông - lâm sản vừa và nhỏ đã bước đầu hình thành

Việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, cách tổ chức quản

lý phát triển KTTT đã góp phần làm thay đổi phương thức sản xuất cũ của người dân Sự xuất hiện của các ngành nghề theo phát triển KTTT đã góp phần phân bố lại lao động ở nông thôn, thu nhập người nông dân có xu hướng tăng trưởng theo cơ cấu tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ

Phát triển KTTT là chủ trương nhất quán và lâu dài của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Kể từ khi có Nghị quyết 03/2000/NQ-CP ngày 2-2-2000 của Chính phủ

về phát triển KTTT, nước ta đã xuất hiện ngày càng nhiều mô hình trang trại mang lại hiệu quả kinh tế cao, tạo công ăn việc làm cho hàng trăm ngàn lao động, tận dụng tốt diện tích mặt nước và đất đai, góp phần tích cực vào quá trình hội nhập của đất nước

Trong 5 năm qua, tốc độ tăng trưởng bình quân của KTTT là 13,8% Năm 2009, tổng vốn sản xuất của hệ thống trang trại đạt 29.320,1 tỉ đồng, vốn sản xuất bình quân của một trang trại là 257,8 triệu đồng Nhiều trang trại ở các tỉnh phía Nam như: Lâm Đồng, Bình Phước, Tây Ninh, Bình Dương, Bà Rịa-Vũng Tàu có quy mô vốn bình quân hơn 500 triệu đồng Lợi nhuận bình quân từ KTTT đạt gần 120 triệu đồng/trang trại, cao gấp 15 lần

so với lợi nhuận bình quân của nông hộ Giá trị sản phẩm hàng hóa của các trang trại cao hơn mức bình quân chung của cả nước từ 7-10% Tỉ lệ hàng hóa của nhiều trang trại đạt hơn 90% như cà phê, cao su… Một số trang trại

đã kết hợp sản xuất và chế biến, nên đạt hiệu quả kinh tế cao.

1.1.2 Điều kiện hình thành và phát triển kinh tế trang trại của một quốc gia

- Ruộng đất và quy mô ruộng đất

Ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu trong nông - lâm nghiệp và là điều

Trang 25

kiện cơ bản nhất để thành lập và phát triển trang trại Để hình thành các trang trại, đất đai phải đảm bảo các yêu cầu sau:

+ Ruộng đất phải được trao quyền sử dụng trong một thời gian tương đối dài cho một người chủ độc lập, đó là người chủ trang trại

+ Quy mô ruộng đất phải được tích tụ, tập trung ở mức độ nhất định, phải vượt trội hơn hẳn so với quy mô của các nông hộ trong khu vực

- Hệ thống chính sách đồng bộ của Nhà nước

Hệ thống các chính sách của Nhà nước đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối với sự ra đời và phát triển của các trang trại Để khuyến khích sự hình thành và phát triển trang trại, các chính sách Nhà nước cần phải đảm bảo một

số vấn đề sau:

+ Phải công nhận về mặt pháp lý quyền sử dụng lâu dài và một số quyền

cơ bản đối với đất đai của các chủ trang trại, phải tạo những tiền đề pháp lý cho việc tích tụ đất đai vào các trang trại

+ Phải bảo hộ quyền hưởng kết quả đầu tư cho các chủ trang trại

+ Phải công nhận, bảo hộ tài sản đã đầu tư: tài sản không bị quốc hữu hoá, không bị tịch thu, nếu Nhà nước sử dụng thì phải bồi thưuờng thoả đáng

và khuyến khích phát triển KTTT

+ Phải có chính sách đầu tư và tín dụng phù hợp đối với các trang trại + Phải có chính sách phát triển thị trường, đặc biệt là thị trường nông lâm sản như: tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình lưu thông tiêu thụ sản phẩm nông lâm nghiệp trong và ngoài nước, mở rộng nghiên cứu, xúc tiến thương mại và cung cấp thông tin thị trường đối với các chủ trang trại, áp dụng chính sách giá và thuế thích hợp bởi KTTT mới ra đời và phát triển, kinh doanh trong lĩnh vực nông lâm nghiệp có độ rủi ro cao, hiệu quả thấp, chu kỳ kinh doanh dài, để khuyến khích sự phát triển của trang trại

+ Phải tạo môi trường thuận lợi cho việc truyền bá, phổ cập và áp dụng khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất kinh doanh của trang trại

Trang 26

- Phải có sự phát triển của hệ thống thị trường ở một mức độ nhất định

Mục đích chủ yếu của các trang trại là sản xuất hàng hoá để thu lợi nhuận,

vì thế để hình thành và phát triển trang trại, nhất thiết phải có một thị trường phát triển ở một trình độ nhất định nhằm tạo môi trường hoạt động của các trang trại Sự phát triển của thị trường được thể hiện trên các khía cạnh sau: + Hệ thống giao thông vận tải, bao gồm: đường xá, phương tiện vận chuyển, bốc dỡ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho lưu thông hàng hoá

+ Hệ thống các kênh thu mua, phân phối, bán buôn, bán lẻ nông sản phẩm + Hệ thống các cơ sở chế biến, bảo quản nông lâm sản

+ Hệ cơ sở hạ tầng có liên quan đến tiêu thụ nông lâm sản

+ Hệ thống thanh toán phục vụ tiêu thụ hàng hoá nông lâm sản

- Sự hình thành của chủ trang trại mới, đáp ứng được yêu cầu của kinh

tế thị trường

KTTT chỉ có thể ra đời và phát triển khi có một đội ngũ những con người trực tiếp tạo lập và vận hành trang trại Đội ngũ những người chủ trang trại phải đáp ứng được những yêu cầu nghiêm khắc của kinh tế thị trường như: + Có chí làm giàu

+ Dám mạo hiểm và chấp nhận rủi ro trong kinh doanh

+ Có kiến thức và khả năng kinh doanh trong kinh tế thị trường

+ Có năng lực tổ chức và điều hành trang trại

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Sự hình thành và phát triển trang trại ở một số nước trên thế giới

Trong lịch sử phát triển KTTT ở các nước đã diễn ra sự biến động về số lượng và quy mô trang trại, theo quy luật tăng về số lượng trong thời kỳ bắt đầu công nghiệp hóa và giảm dần về số lượng trong thời kỳ hình thành công nghiệp hóa, còn quy mô trang trại thì biến động theo chiều hướng ngược lại

sự biến động của số lượng trang trại

1.2.1.1 Kinh tế trang trại ở một số nước công nghiệp phát triển

Trang 27

Cuộc cách mạng công nghiệp đã diễn ra ở châu Âu từ thế kỷ XVIII và

ở đây cũng là nơi đầu tiên xuất hiện hình thức tổ chức trang trại trong nông nghiệp sản xuất hàng hoá thay thế cho hình thức sản xuất tiểu nông của những người nông dân và hình thức điền trang của các thế lực phong kiến quý tộc

- Vương quốc Anh: Cho rằng nông nghiệp cũng phải xây dựng các xí nghiệp lớn như trong công nghiệp Vì vậy từ đầu thế kỷ XIX họ đã thúc đẩy tập trung ruộng đất để lập các xí nghiệp nông nghiệp quy mô lớn Giữa thế kỷ XIX các trang trại gia đình quy mô nhỏ chiếm tỷ lệ cao Cuối thế kỷ XIX loại hình này phát triển mạnh Năm 1950 nước Anh có 453.000 trang trại, đến năm 1987 giảm xuống 254.000 trang trại Tốc độ giảm bình quân hàng năm là 2,1%

- Pháp: Từ cuối thế kỷ thứ XIX (giai đoạn đầu của công nghiệp hoá),

số trang trại ở Pháp tăng từ 5 triệu lên 5,6 triệu với quy mô về đất đai bình quân mỗi trang trại là 11 ha Cuối thế kỷ XX, khi nước Pháp đã có nền công nghiệp hiện đại, số trang trại giảm xuống còn 980 nghìn, song quy mô của mỗi trang trại đã lớn hơn nhiều so với trước đây, khoảng từ 25 - 30 ha/trang trại Chỉ với gần 1 triệu trang trại đã sản xuất ra số lượng nông sản thực phẩm gấp 2,2 lần nhu cầu trong nước, tỷ suất hàng hoá về hạt ngũ cốc là 95%, thịt, sữa là 70-80% và rau quả trên 70%

- Mỹ: Tình hình phát triển trang trại ở Mỹ cũng theo xu thế các nước châu Âu nhưng chậm hơn 3-4 thập kỷ Năm 1900 số lượng trang trại ở Mỹ là 5.737.000 cơ sở, năm 1950 là 2.548.000 cơ sở, năm 1990: 2.140.000 cơ sở

1.2.1.2 Kinh tế trang trại ở một số nước châu Á

ở châu Á, nhiều nước thuộc vùng Đông Bắc Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, đã đi tiên phong trong sự nghiệp công nghiệp hoá đất nước

và cũng chính ở các nước này KTTT đã sớm hình thành và ngày càng phát triển cao

Ở Nhật Bản năm 1886 có 3,8 triệu trang trại, đến năm 1950 có 6,17 triệu trang trại và đến năm 1995 chỉ cũn 4,2 triệu trang trại Số lượng trang

Trang 28

trại giảm bình quân hàng năm là 1,2% Diện tích trang trại bình quân năm

1950 là 0,8 ha, năm 1993 là 1,38 ha Tốc độ tăng diện tích bình quân là 1,3% Hàn Quốc: Năm 1953 có 2.249.000 trang trại, năm 1979 giảm xuống 1.172.000 trang trại Số lượng trang trại giảm bình quân hàng năm 0,7% Diện tích bình quân của trang trại năm 1953 là 0,86 ha, năm 1979 là 1,2 ha Diện tích bình quân trang trại tăng 0,9% hàng năm

Đài Loan: Trong thời kỳ 1952-1970 (thời kỳ đầu công nghiệp hoá), trang

trại ở Đài Loan cũng phát triển theo quy luật chung đó là số lượng tăng lên liên tục, còn quy mô mỗi trang trại thì nhỏ Khi công nghiệp đã phát triển thì ngược lại, số lượng trang trại giảm và quy mô diện tích của một trang trại tăng Năm 1952 số lượng trang trại ở Đài Loan là 679.000 trang trại, quy mô 1,29 ha/trang trại, năm 1960 có 714.000 trang trại với quy mô 1,12 ha/trang trại, năm 1988 có 739.000 trang trại với quy mô 1,2 ha/trang trại

Thái Lan: ở Thái Lan số lượng trang trại và bình quân diện tích mỗi trang trại đều lớn hơn ở Đài Loan Năm 1963 có 3.214.000 trang trại, diện tích bình quân 3,5 ha/trang trại, năm 1988 có 5.245.000 trang trại, diện tích bình quân 4,52 ha/trang trại Bình quân sử dụng lao động ở Thái Lan là 3,7 người/trang trại Sự đóng góp to lớn của các trang trại được thể hiện rõ nhất trong lĩnh vực sản xuất hàng nông sản, Thái lan đã trở thành một trong những nước xuất khẩu trái cây đứng đầu thế giới và hàng năm xuất khẩu 6- 7 triệu tấn gạo

1.2.1.3 Một số nhận xét về tình hình phát triển kinh tế trang trại trên thế giới

- Quá trình phát triển trang trại ở hầu hết các nước trên thế giới đều có

xu hướng chung là: thời kỳ đầu công nghiệp hoá, số lượng trang trại nhiều, quy mô nhỏ Khi công nghiệp phát triển đạt trình độ cao thì số lượng giảm, quy mô tăng

- Trang trại là loại hình tổ chức sản xuất nông nghiệp phù hợp gắn liền với quá trình công nghiệp hoá từ thấp đến cao KTTT là sự phát triển tất yếu của nền nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hoá

Trang 29

- KTTT là kết quả tất yếu của kinh tế hộ gắn với sản xuất hàng hoá là bước tiến bộ mới về tổ chức sản xuất của nhân loại

- KTTT có thể phát triển với nhiều hình thức đa dạng khác nhau (tư bản

tư nhân, cổ phần, liên doanh, uỷ thác ) nhưng trang trại gia đình là loại hình

thích hợp, phổ biến nhất Trên thế giới, trang trại gia đình chiếm khoảng 90% tổng số trang trại

80 Hiệu quả sản xuất 80 Kinh doanh của trang trại không hoàn toàn phụ thuộc vào quy mô đất đai, lao động vì năng suất, chất lượng sản phẩm còn chịu ảnh hưởng rất lớn của việc áp dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ mới cũng như trình độ tổ chức quản lý của chủ trang trại

- Sự phát triển của KTTT gắn liền với công nghiệp hoá, với sự phát triển của kinh tế thị trường

- Công nghiệp chế biến và dịch vụ cho trang trại là điều kiện hết sức quan trọng để thúc đẩy trang trại hoạt động có hiệu quả

- Vai trò của Chính phủ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển KTTT thông qua các chủ trương, chính sách vĩ mô Các nước đang phát triển ở châu Á, số lượng trang trại đang có chiều hướng tăng lên chứ chưa đến thời kỳ giảm, vì các nước này đang trong thời

kỳ thực hiện công nghiệp hóa Như ở Ấn Độ số lượng trang trại tăng từ 44,35 triệu (năm 1953) lên 97,720 triệu (năm 1985) Ở Philippin số lượng trang trại tăng từ 1,64 triệu (1948) lên 3,42 triệu trang trại (1980)

1.2.2 Sự hình thành và phát triển trang trại ở Việt Nam

Các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả về KTTT đều khẳng định trang trại ở nước ta đã xuất hiện nhiều thế kỷ Trải qua trong thời kỳ lịch sử của đất nước, quá trình hình thành và phát triển của trang trại cũng có sự khác nhau

Trang 30

Lê Trọng (2000) cho rằng: Nhìn lại lịch sử cho thấy trang trại ở nước ta đã

hình thành từ thời nhà Trần, lúc bấy giờ được gọi là điền trang Nhưng theo từ điển tiếng việt thì điền trang là trang trại của quý tộc, thời phong kiến

Đến đời nhà Hậu Lê, Nhà nước chủ trương mở rộng khẩn hoang lập đồn

điền Đồn điền cũng đồng nghĩa với trang trại Người nước ngoài gọi là Farm

và cũng được dịch là trang trại, là đồn điền Lực lượng lao động khai hoang lập đồn điền chủ yếu là phạm nhân, tù binh và một số binh lính đóng đồn ở các địa phương Đến đời nhà Nguyễn: Từ năm 1802 - 1855 triều đình đã ban hành 25 quyết định về khẩn hoang với hình thức chủ yếu chiêu mộ dân phiêu tán để khẩn hoang lập ấp trại hoặc xã Đồng thời, Nhà nước dùng binh lính và

tù nhân bị lưu đầy để khẩn hoang; hoặc giao cho tư nhân chiêu mộ dân khai

phá đất hoang để lập đồn điền - trang trại - phát canh thu tô Năm 1888 Toàn

quyền Đông Dương ra nghị định cho bọn địa chủ thực dân được quyền lập các đồn điền (trang trại)

- Về số lượng: Theo số liệu của Ban kinh tế Trung ương, hiện có 31 tỉnh thành trong cả nước có mô hình KTTT Theo con số thống kê, tính đến 1/7/2009 trên phạm vi cả nước có khoảng trên 100 nghìn trang trại, với tổng số vốn khoảng 58.821.400.000 đồng

Gồm các loại trang trại trồng cây hàng năm (chiếm 35,9%), trang trại trồng cây lâu năm (27,3%), trang trại nuôi trồng thuỷ sản (27,9%), các trang trại chăn nuôi, trang trại lâm nghiệp, trang trại kinh doanh tổng hợp tỷ lệ còn thấp

Vùng Tây nguyên từ 2-5 ha còn trên 30 ha chiếm tỷ lệ 12%

Miền Đông Nam bộ phần lớn từ 5-10 ha, còn trên 30 ha chiếm 10%

Trang 31

Vùng Đồng Bằng Nam bộ 15-18 ha và trên 30 ha chiếm tỷ lệ lớn 18% Tuy nhiên ở mỗi vùng vẫn có những trang trại cá biệt có quy mô lớn hàng trăm ha như một số trang trại ở vùng Tây Nguyên, Hoà Bình, Bình Phước, miền Đông Nam bộ

- Về lao động: Hầu hết các lao động sử dụng lao động trong gia đình là chủ yếu, một số loại hình trang trại do quy mô và tính chất sản xuất phải thường xuyên thuê mướn lao động, hoặc thuê thời vụ để đáp ứng yêu cầu của sản xuất kinh doanh

- Vốn đầu tư: Bình quân vốn đầu tư cho trồng trọt từ 15-50 triệu đồng cho 1 trang trại, nuôi trồng thuỷ sản thì cần từ 50-150 triệu đồng, ở khu vực nam Bộ vốn đầu tư thường lớn hơn từ 300 triệu - 1 tỷ đồng

- Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các trang trại:

Bình quân mỗi trang trại có giá trị sản xuất đạt hơn 109 triệu đồng, giá trị sản phẩm hàng hoá đạt gần 82 triệu đồng và thu nhập đạt trên 35 triệu đồng/năm

Khối lượng sản phẩm tuy chưa nhiều nhưng chỉ với một số ít trang trại, bằng những nguồn tài nguyên đất đai, lao động sẵn có, sản xuất có hiệu quả

đã thể hiện xu thế và vai trò vị trí trang trại trong sản xuất nông lâm nghiệp Điều đặc biệt là tỷ suất hàng hoá các trang trại chiếm tỷ lệ cao, bình quân đạt trên 80%

KTTT ở nước ta mới phát triển, việc thu thập các số liệu và đánh giá về

nó còn nhiều hạn chế cho nên chưa thể đánh giá hết tác dụng của nó đối với

sự phát triển KT - XH của đất nước Tuy nhiên, chúng ta đều nhận thấy rằng ở những nơi KTTT phát triển thì ở đó bộ mặt nông thôn ngày càng thay đổi theo chiều hướng tốt, đời sống vật chất, tinh thần của nông dân được nâng cao

Từ thực tế trên có thể rút ra một số kết luận:

- Lịch sử tạo lập trang trại ở nước ta đã có rải rác từ lâu ở nhiều nơi,

nhưng mới chỉ được phát triển “tự phát” từ khi có chủ trương đổi mới về tổ

Trang 32

chức và quản lý nền kinh tế theo tinh thần Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (12/1986) và được phát triển nhanh, mạnh từ 1993 đến nay

- Tốc độ và quy mô phát triển của trang trại theo hướng “tự phát” của cơ

chế thị trường nhưng không đồng đều giữa các vùng, miền trên phạm vi cả nước

- Quy mô về đất đai: tuỳ điều kiện từng vùng, tuỳ vào hướng kinh doanh mà các trang trại có quy mô diện tích đất đai khác nhau, có thể trên dưới 2 ha, phổ biến từ 5-10 ha, hoặc có những trang trại hàng trăm, nghìn ha

- Trong quá trình phát triển, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn những tồn tại trong lĩnh vực nhận thức lý luận và thực tiễn cần được nghiên cứu, rút ra những bài học cần thiết để có giải pháp phát triển và quản lý tốt hơn

1.2.3 Những bài học rút ra từ nghiên cứu lý luận và thực tiễn

Kinh tế trang trại đã bắt đầu phát triển mạnh mẽ từ những năm 1990 đến nay, từ khi Đảng và Nhà nước có những chủ trương, biện pháp nhất quán theo hướng tạo điều kiện cho KTTT phát triển Việc thừa nhận chính sách kinh tế nhiều thành phần khẳng định chính sách khuyến khích sản xuất tiểu thủ công và kinh tế tư bản tư nhân Bằng các chủ trương biện pháp thích hợp Đảng ta đã khuyến khích kinh tế trang trại phát triển như trước hết là thay đổi các mối quan hệ kinh tế liên quan đến quyền sử dụng đất đại vì đất đai là yếu

tố đầu vào quan trọng nhất cho sản xuất nông nghiệp Giao quyền sử dụng đất cho người dân là bước đầu thúc đẩy kinh tế hộ và kinh tế trang trại phát triển Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị và nghị quyết hội nghị lần thứ 6 ban chấp hành trung ương Đảng khóa VI tháng 3/1989 đã thừa nhận hộ gia đình là kinh

tế tự chủ ở nông thôn đồng thời khuyến khích kinh tế gia đình, kinh tế cá thể, kinh tế tư nhân trong nông ngư nghiệp Từ khi bất đầu công nghiệp hóa kinh

tế trang trại ở phía Bắc đã hình thành và phát triển, đến khi trình độ công nghiệp hóa đã ở mức cao KTTT và giữ được vai trò trong lực lượng sản xuất hàng hóa nông sản, KTTT là loại hình sản xuất nông nghiệp phù hợp với yêu cầu công nghiệp hóa

Trang 33

Để KTTT tiếp tục phát triển và thực sự vững mạnh cần có một số giải pháp trước mắt như: quy hoạch xác định một số khu vực phát triển kinh tế trang trại tập trung nhằm hình thành vùng sản xuất tập trung, đáp ứng nhu cầu thị trường Định hướng phát triển cây trông vật nuôi cho phù hợp vùng quy hoạch Phát huy thế mạnh từng vùng, đầu tư vốn, khoa học kỹ thuật phù hợp với từng huyện Giải quyết vấn đề chuyển dịch đất đại, tạo điều kiện cho các gia đình có quy mô đất đai lớn để tập trung sản xuất phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương tạo mối liên doanh, liên kết với kinh

tế hợp tác xã và kinh tế nhà nước

Văn Yên là một huyện miền núi nằm ở phía Bắc tỉnh Yên Bái với diện tích tự nhiên là 139.154,11 ha có nhiều lợi thế để phát triển KTTT, đặc biệt là các trang trại nông lâm nghiệp Cũng như nhiều nơi khác trên cả nước, sau hơn hai mươi năm đổi mới, KTTT ở huyện Văn Yên đã phát triển mạnh cả vế

số lượng và chất lượng KTTT ở địa phương được hình thành từ chủ trương chính sách đổi mới kinh tế của Đảng, chính sách khuyến khích phát triển kinh

tế đồi rừng, chính sách giao đất giao rừng cùng với những chính sách đầu tư,

hỗ trợ vốn của Nhà nước

Trên thực tế những năm qua ở địa phương đã có một số đề tài nghiên cứu về KT - XH hàng năm một số cơ quan, ban ngành địa phương như Sở NN&PTNT, phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Thống kê của huyện Các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc thống kê khảo sát số lượng, diện tích, vốn của trang trại với mục đích tổng kết, báo cáo tình hình Trên cơ sở kế thừa và phát triển các kết quả nghiên cứu đã được công bố, để góp phần đánh giá đúng vai trò và tác động của KTTT đối với việc phát triển nông nghiệp và nông thôn, chúng tôi tiến hành đánh giá hiệu quả kinh tế của một số mô hình trang trại ở huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái làm cơ sở đề xuất một số giải pháp

cơ bản phát triển KTTT của huyện Văn Yên giai đoạn 2012 - 2015

Trang 34

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Khung phân tích

Sơ đồ 2.1: Khung phân tích

Tên đề tài Mục tiêu nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Cơ sở

khoa học

Thực trạng KTTT huyện Văn Yên Yên Bái

Đề xuất giải pháp

Trang 35

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Các câu hỏi đặt ra đề tài cần giải quyết

- Đặc điểm điều kiện tự nhiên, KTXH của huyện Văn Yên có ảnh hưởng đến KTTT thế nào?

- Chính sách của Nhà nước và địa phương về ưu tiên phát triển KTTT như thế nào?

- Thực trạng phát triển KTTT tại Văn Yên:

+ Số lượng trang trại?

+ Các loại hình trang trại?

+ Hiệu quả kinh tế của các loại hình KTTT?

+ Các yếu tố khách quan và các yếu tố bên trong trang trại ảnh hưởng đến phát triển KTTT, giải pháp thúc đẩy phát triển KTTT ở Văn Yên là gì?

2.2.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

Văn Yên là một trong những huyện của tỉnh Yên Bái có phong trào làm KTTT, các mô hình KTTT đã xuất hiện từ nhiều năm trước đây Chính vì vậy, đề tài đã chọn huyện Văn Yên làm địa bàn nghiên cứu Trong huyện Văn Yên sẽ tập trung điều tra tìm hiểu tất cả 47 trang trại ở tất các mô hình KTTT ở các loại hình trang trại khác nhau

2.2.3 Phương pháp thu thập thông tin

* Thu thập các tài liệu thứ cấp

Thu thập các tài liệu có liên quan đến khu vực nghiên cứu bao gồm: các tài liệu về điều kiện tự nhiên, KT - XH của huyện, các báo cáo hàng năm của huyện về tình hình phát triển KTTT, quy hoạch phát triển KT - XH của huyện giai đoạn 2011-2015 Bên cạnh đó thu thập tổng hợp các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu như các báo cáo nghiên cứu khoa học, báo cáo hội thảo, tạp chí, các văn bản chính sách về KTTT Các tài liệu được kế thừa, phân tích và tổng hợp có chọn lọc

Trang 36

Bảng 2.1: Phương pháp thu thập và phân tích số liệu

về trang trại, Phòng

NN & PTNT, Phòng Thống kê huyện

Tổng quan tài liệu nghiên cứu

- Điều kiện tự nhiên, KT XH của địa bàn nghiên cứu

- Tình hình chung về phát triển Nông – Lâm nghiệp của huyện

- Định hướng của huyện về phát triển nông lâm nghiệp những năm tới

2 Phỏng vấn thông tin

viên

Lãnh đạo xã, thôn, huyện

- Thuận lợi, khó khăn trong việc phát triển TT ở địa phương

- Tình hình phát triển trang trại ở địa phương

3 Phỏng vấn các chủ

trang trại

Chủ trang trại - Tình hình cụ thể các trang trại ở

địa phương theo nội dung của mẫu phiếu điều tra

4 Quan sát hiện

trường

- Tình hình sử dụng đất đai, thực trạng các trang trại

Trang 37

* Thu thập các tài liệu sơ cấp

- Đối tượng thu thập: Tất cả lãnh đạo thôn, xóm cá trang trại, chủ các trang trại

- Nội dung thu thập: Phỏng vấn theo bảng câu hỏi soạn sẵn nhằm thu thập các thông tin đáp ứng yêu cầu của đề tài

- Phương pháp thu thập: Sử dụng phương pháp điều tra nhanh nông thôn (PRA); phỏng vấn bằng bảng hỏi (xây dựng bộ phiếu điều tra)

+ Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế (các chỉ tiêu định lượng): lấy kết quả từ tổng hợp tính toán qua số liệu điều tra Như các chỉ tiêu VA/IC; GO/IC; v.v

2.2.4 Phương pháp tổng hợp thông tin

Các thông tin thu thập được tổng hợp theo mẫu biểu phần phụ lục Sử dụng phần mềm Excell để tính toán các chỉ tiêu nghiên cứu, sử dụng các bảng thống kê mô tả, biểu đồ để phân tích số liệu

2.2.5 Phương pháp phân tích

* Phương pháp thống kê mô tả: Được sử dụng trong điều tra cơ bản về

điều kiện địa lý khí hậu thủy văn của huyện, điều tra cơ bản về các đặc điểm của trang trại của huyện Văn Yên Các số liệu thu được sẽ mô tả trực tiếp

* Phương pháp đối chiếu, so sánh: dùng trong đánh giá hiệu quả giữa các trang trại với các loại hình sản xuất khác nhau, hoặc dùng trong đánh giá các chỉ số của cùng một trang trại như các nguồn nhân lực, các nguồn vốn, nguồn đất đại

* Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất: dùng các công thức toán kinh tế để đánh giá chi phí sản suất, hiệu quả của từng trang trại, từng loại hình sản xuất hoặc kinh doanh như chi phí sản xuất, năng suất lao động, chi phí trên một đơn vị diện tích, chi phí trung gian

Trang 38

2.3 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá

2.3.1 Chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh

- Chi phí trung gian: IC (Intermediate Cost) là toàn bộ chi phí vật chất

thường xuyên và dịch vụ được sử dụng trong quá trình sản xuất như các khoản chi phí: giống, phân bón, thuốc trừ sâu

IC = Σ CiTrong đó: Ci là khoản chi phí thứ i

- Chi phí trên đơn vị diện tích: Chỉ tiêu này cho thấy mức độ đầu tư của trang trại trên một đơn vị diện tích là bao nhiêu Chỉ tiêu này được tính như sau:

Chi phí trên đơn vị diện tích = Chi phí trung gian/diện tích

- Giá trị sản xuất: GO (Gross output) là toàn bộ của cải vật chất và dịch

vụ được tạo ra trong một thời kỳ nhất định (thường là 1 năm), đây là tổng thu của trang trại

GO = Σ PiQiTrong đó Pi là giá trị sản phẩm thứ i

Qi là sản phẩm thứ i

- Năng suất lao động: Là chỉ tiêu phản ánh giá trị sản xuất được tạo ra

do lao động trong một năm Chỉ tiêu này cho thấy một lao động trong một năm tạo ra bao nhiêu đồng giá trị sản xuất hoặc thu nhập

Năng suất lao động = GO/lao động hoặc VA/lao động

2.3.2 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh

- Sức sản xuất của 1 đồng chi phí trung gian: Chỉ tiêu này phản ánh với mức độ đầu tư 1 đồng ( hay 1 triệu đồng) chi phí thì tạo ra giá trị sản xuất là bao nhiêu lần

Tỷ suất chi phí = GO/IC

- Hiệu quả trên 1 ha canh tác:

Hiệu quả trên 1 ha canh tác = GO/ha

Trang 39

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu

3.1.1 Điều kiện tự nhiên của huyện Văn Yên

3.1.1.2 Điều kiện địa hình

Văn Yên là huyện thuộc địa hình núi cao trung bình, có độ cao trung bình khoảng 400 m, địa hình nghiêng dần từ Tây Bắc xuống Đông nam Có 3/4 diện tích là đồi núi

3.1.1.3 Điều kiện khí hậu

Văn Yên chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa với mùa Đông lạnh, ít mưa (tháng 11 đến tháng 3) và mùa hè nóng, mưa nhiều (từ tháng 4 đến tháng 10) Theo số liệu quan trắc tại trạm Lâm Giang trên địa bàn huyện cho thấy:

- Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm là 230C, trong năm chỉ có 1 tháng có nhiệt độ trung bình năm < 15 0C (tháng 12) còn hầu hết các tháng đều có nhiệt độ trung bình > 17 0C Số giờ nắng trung bình 1.624 giờ/năm

- Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình năm đạt 1.769mm trong đó tập trung tới 1.442mm trong các tháng mùa mưa (chiếm 81,5%) Số ngày mưa trong năm là 153 ngày, tháng 1 là tháng có số ngày mưa ít nhất trong các tháng (02 ngày/tháng)

Trang 40

- Độ ẩm không khí: Độ ẩm trung bình năm là 84,5% Nhìn chung độ

ẩm trong các tháng mùa mưa cao, song trong mùa khô (tháng 11-1) có ngày

độ ẩm xuống dưới 50%

Với điều kiện khí hậu của huyện như trên tương đối thuận lợi cho việc phát triển nông lâm nghiệp, chế độ nhiệt đảm bảo đủ để gieo trồng 2-3 vụ trong năm, do có nhiều tiểu vùng khí hậu khác nhau nên có thể phát triển một tập đoàn cây trồng, vật nuôi phong phú, đa dạng Tuy nhiên, do mưa phân bố không đều nên thường gây ra những yếu tố bất thường về thời tiết như lũ quét, xói mòn và hạn hán lâu làm ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống sinh hoạt của nhân dân

3.1.1.4 Điều kiện thổ nhưỡng

Theo tài liệu của phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Văn Yên, trên địa bàn huyện có các loại đất:

- Đất phù sa không được bồi: Diện tích 160 ha, chiếm khoảng 0,12% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện Hiện nay loại đất này chủ yếu được trồng lúa nước thâm canh

- Đất phù sa ngòi suối: diện tích 150 ha, chiếm 0,11% tổng diện tích tự nhiên của huyện, phân bố dọc ven sông Thia và những dòng suối lớn trong huyện Đây là loại đất tương đối tốt, hiện chủ yếu được sử dụng vào SXNN

- Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ: diện tích 1.386 ha, chiếm 1% tổng diện tích tự nhiên của huyện Loại đất này chủ yếu phân bố ở khu vực phía nam của huyện Hiện nay loại đất này chủ yếu được sử dụng vào trồng các loại rau, màu

- Đất đỏ vàng trên đá sét: Đây là loại đất có diện tích tương đối lớn trong các loại đất ở huyện, diện tích 17.556 ha, chiếm 46,8% tổng diện tích tự nhiên của huyện Loại đất này được phân bổ ở hầu hết các xã trên địa bàn huyện Trên loại đất này ở những nơi có độ dốc thấp rất thích hợp với việc trồng các loại cây ăn quả và chè

Ngày đăng: 18/10/2023, 14:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh, Trần Thị Vân Anh (1997), "Kinh tế hộ lịch sử và triển vọng phát triển", NXB Khoa học XH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế hộ lịch sử và triển vọng phát triển
Tác giả: Vũ Tuấn Anh, Trần Thị Vân Anh
Nhà XB: NXB Khoa học XH
Năm: 1997
2. Nguyễn Như Ất, Phan Thị Nguyệt Minh (2001), "Tuổi trẻ lập nghiệp từ TT", NXB Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuổi trẻ lập nghiệp từ TT
Tác giả: Nguyễn Như Ất, Phan Thị Nguyệt Minh
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2001
3. Ngô Đức Cát (2003), "KTTT với việc phát triển nền nông nghiệp hàng hoá", Tạp chí NN &amp; PTNT, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: KTTT với việc phát triển nền nông nghiệp hàng hoá
Tác giả: Ngô Đức Cát
Năm: 2003
6. Nguyễn Sinh Cúc (2003), "NN và NT Việt Nam thời kỳ đổi mới", NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: NN và NT Việt Nam thời kỳ đổi mới
Tác giả: Nguyễn Sinh Cúc
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2003
7. Đặng Đức Đạm (1997), "Đổi mới KT Việt nam thực trạng và triển vọng", NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới KT Việt nam thực trạng và triển vọng
Tác giả: Đặng Đức Đạm
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 1997
8. Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung (1997), "Giáo trình KT NN", NXB NN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình KT NN
Tác giả: Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung
Nhà XB: NXB NN
Năm: 1997
10. Trần Văn Hà, Nguyễn Khắc Quách (1999), "KT NN gia đình nông trại", NXB NN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: KT NN gia đình nông trại
Tác giả: Trần Văn Hà, Nguyễn Khắc Quách
Nhà XB: NXB NN
Năm: 1999
11. Đinh Văn Hải (2003), “Phát triển KT TT ở các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc”, Tạp chí NN &amp; PTNT, số 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phát triển KT TT ở các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc”
Tác giả: Đinh Văn Hải
Năm: 2003
12. Tô Đức Hạnh, Phạm Văn Linh (2000), "Phát triển KT hàng hoá trong NT các tỉnh vùng núi phía Bắc Việt Nam thực trạng và giải pháp", NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển KT hàng hoá trong NT các tỉnh vùng núi phía Bắc Việt Nam thực trạng và giải pháp
Tác giả: Tô Đức Hạnh, Phạm Văn Linh
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2000
13. Trần Thị Thu Hằng (2003), “Đánh giá HQ KT các mô hình rừng trồng”, Tạp chí NN &amp; PTNT, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đánh giá HQ KT các mô hình rừng trồng”
Tác giả: Trần Thị Thu Hằng
Năm: 2003
14. Nguyễn Đình Hương (2009), Thực trạng và giải pháp phát triển Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp phát triển
Tác giả: Nguyễn Đình Hương
Năm: 2009
16. Trần Văn Lợi (2000), "KT TT tỉnh Bình Dương thực trạng và giải pháp phát triển", Ban KT tỉnh uỷ tỉnh Bình Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: KT TT tỉnh Bình Dương thực trạng và giải pháp phát triển
Tác giả: Trần Văn Lợi
Năm: 2000
25. Trương Thị Minh Sâm (2002), "KT TT ở khu vực Nam bộ thực trạng và giải pháp", NXB Khoa học XH Sách, tạp chí
Tiêu đề: KT TT ở khu vực Nam bộ thực trạng và giải pháp
Tác giả: Trương Thị Minh Sâm
Nhà XB: NXB Khoa học XH
Năm: 2002
26.Đặng Kim Sơn (2009), “KTTT nước ta những vấn đề đặt ra và giải pháp khắc phục”, Tạp chí KT và Phát triển, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “KTTT nước ta những vấn đề đặt ra và giải pháp khắc phục”
Tác giả: Đặng Kim Sơn
Năm: 2009
27. Bùi Văn Ten (2001), “Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nông nghiệp Nhà nước”, tạp chí NN&amp;PTNT, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nông nghiệp Nhà nước”
Tác giả: Bùi Văn Ten
Năm: 2001
28. Nguyễn Đức Thịnh (2001), "KT TT các tỉnh trung du, miền núi Sách, tạp chí
Tiêu đề: KT TT các tỉnh trung du, miền núi
Tác giả: Nguyễn Đức Thịnh
Năm: 2001
31. Trần Trác (2000), “Mấy ý kiến về xác định rõ khái niệm và tiêu chí để có chính sách đối với TT”, Báo ND 5/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Mấy ý kiến về xác định rõ khái niệm và tiêu chí để có chính sách đối với TT”
Tác giả: Trần Trác
Năm: 2000
32. Lê Trọng (2000), Phát triển và quản lý trang trại trong nền kinh tế thị trường, NXB NN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển và quản lý trang trại trong nền kinh tế thị trường
Tác giả: Lê Trọng
Nhà XB: NXB NN
Năm: 2000
33. Đào Thế Tuấn (1997), "Kinh tế hộ nông dân", NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế hộ nông dân
Tác giả: Đào Thế Tuấn
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1997
34. Nguyễn Văn Tuấn (2002), "Quản lý trang trại nông lâm nghiệp", Giáo trình ĐH Lâm nghiệp, NXB NN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý trang trại nông lâm nghiệp
Tác giả: Nguyễn Văn Tuấn
Nhà XB: NXB NN
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1: Khung phân tích - Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế trang trại tại huyện văn yên, tỉnh yên bái
Sơ đồ 2.1 Khung phân tích (Trang 34)
Bảng 2.1: Phương pháp thu thập và phân tích số liệu - Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế trang trại tại huyện văn yên, tỉnh yên bái
Bảng 2.1 Phương pháp thu thập và phân tích số liệu (Trang 36)
Bảng 3.1: Hiện trạng cơ cấu sử dụng đất huyện Văn Yên năm 2011 - Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế trang trại tại huyện văn yên, tỉnh yên bái
Bảng 3.1 Hiện trạng cơ cấu sử dụng đất huyện Văn Yên năm 2011 (Trang 42)
Bảng 3.2: Tổng giá trị sản xuất các ngành kinh tế của huyện Văn - Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế trang trại tại huyện văn yên, tỉnh yên bái
Bảng 3.2 Tổng giá trị sản xuất các ngành kinh tế của huyện Văn (Trang 45)
Bảng 3.4: Số lượng trang trại chia theo đơn vị xã, thị trấn - Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế trang trại tại huyện văn yên, tỉnh yên bái
Bảng 3.4 Số lượng trang trại chia theo đơn vị xã, thị trấn (Trang 49)
Bảng 3.5: Cơ cấu trang trại theo hướng kinh doanh chính năm 2011 - Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế trang trại tại huyện văn yên, tỉnh yên bái
Bảng 3.5 Cơ cấu trang trại theo hướng kinh doanh chính năm 2011 (Trang 51)
Bảng 3.6: Cơ cấu trang trại theo quy mô đất đai - Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế trang trại tại huyện văn yên, tỉnh yên bái
Bảng 3.6 Cơ cấu trang trại theo quy mô đất đai (Trang 52)
Bảng 3.7: Cơ cấu trang trại  theo vốn đầu tư - Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế trang trại tại huyện văn yên, tỉnh yên bái
Bảng 3.7 Cơ cấu trang trại theo vốn đầu tư (Trang 53)
Bảng 3.9: Tình hình sử dụng đất đai của các trang trại - Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế trang trại tại huyện văn yên, tỉnh yên bái
Bảng 3.9 Tình hình sử dụng đất đai của các trang trại (Trang 56)
Bảng 3.10: Một số thông tin về chủ trang trại ở huyện Văn Yên - Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế trang trại tại huyện văn yên, tỉnh yên bái
Bảng 3.10 Một số thông tin về chủ trang trại ở huyện Văn Yên (Trang 59)
Bảng 3.12: Vốn và cơ cấu nguồn vốn của các trang trại ở huyện Văn - Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế trang trại tại huyện văn yên, tỉnh yên bái
Bảng 3.12 Vốn và cơ cấu nguồn vốn của các trang trại ở huyện Văn (Trang 60)
Bảng 3.13: Cơ cấu tổng thu từ sản xuất của các trang trại tại huyện                                      Văn Yên (năm 2011) - Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế trang trại tại huyện văn yên, tỉnh yên bái
Bảng 3.13 Cơ cấu tổng thu từ sản xuất của các trang trại tại huyện Văn Yên (năm 2011) (Trang 63)
Bảng 3.14: Chi phí của trang trại năm 2011 - Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế trang trại tại huyện văn yên, tỉnh yên bái
Bảng 3.14 Chi phí của trang trại năm 2011 (Trang 65)
Bảng 3.16: Hiệu quả 1 đồng chi phí của các trang trại ở huyện Văn Yên - Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế trang trại tại huyện văn yên, tỉnh yên bái
Bảng 3.16 Hiệu quả 1 đồng chi phí của các trang trại ở huyện Văn Yên (Trang 68)
Hình trang trại. - Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế trang trại tại huyện văn yên, tỉnh yên bái
Hình trang trại (Trang 69)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w