1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận CSVHVN - Ảnh hưởng của Nho giáo đối với văn hóa Việt Nam

20 95 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh hưởng của Nho giáo đối với văn hóa Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Cơ sở văn hóa Việt Nam
Thể loại tiểu luận
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 46,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Nho giáo là một học thuyết chính trị - đạo đức do Khổng Tử đề xướng và tồn tại đến nay đã hơn 2500 năm.Với một lịch sử hình thành phát triển lâu dài như vậy, N

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nho giáo là một học thuyết chính trị - đạo đức do Khổng Tử đề xướng

và tồn tại đến nay đã hơn 2500 năm.Với một lịch sử hình thành phát triển lâu dài như vậy, Nho giáo đã trở thành tư tưởng in đậm dấu ấn của mình lên văn hóa của hàng loạt các quốc gia phương Đông như Triều Tiên, Nhật Bản, và trong đó có cả Việt Nam

Ngay từ trước công nguyên, Nho giáo đã thâm nhập vào Việt Nam theo con đường của quân xâm lược phương Bắc Tại đây Nho giáo đã phát triển hưng thịnh; trở thành hệ tư tưởng, công cụ cai trị của các quốc gia phong kiến

và len lỏi vào mọi lĩnh vực của đời sống người dân Việt Nam Cho đến năm

1945, cách mạng tháng Tám thành công, chấm dứt hoàn toàn chế độ phong kiến ở nước ta, khiến cho tư tưởng Nho giáo cũng sụp đổ, mất đi vai trò là học thuyết chi phối xã hội Song dù có suy tàn thì trong văn hóa, trong phong tục tập quán hay cách ứng xử của người dân Việt Nam, Nho giáo vẫn luôn hiện hữu, tác động và ảnh hưởng theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực cho đến tận ngày nay

Chính vì thế, chúng ta cần phải biết gạn đục khơi trong những ảnh hưởng của Nho giáo đối với văn hóa Việt Nam để khai thác những giá trị tích cực và hạn chế những tiêu cực Từ đó, đưa ra những giải pháp đúng đắn xây dựng nên một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc Với mong muốn góp phần từng bước giải quyết những công việc phức tạp và hệ

trọng nói trên, tác giả lựa chọn vấn đề “Ảnh hưởng của Nho giáo đối với văn hóa Việt Nam” làm đề tài tiểu luận môn Cơ sở văn hóa Việt Nam

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 2

Đối tượng mà tiểu luận tập trung nghiên cứu là Nho giáo và những ảnh hưởng của nó đối với văn hóa của người Việt

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Tiểu luận tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của Nho giáo trên các lĩnh vực cơ bản trong đời sống người Việt Nam như: chính trị, giáo dục, kinh tế,

xã hội, nghệ thuật

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu

Góp phần làm rõ nội dung chính của Nho giáo và ảnh hưởng của nó đến văn hóa của người Việt Nam, từ đó đưa ra phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của Nho giáo trong việc xây dựng đời sống văn hoá của người Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu đã nêu trên, tiểu luận sẽ giải quyết một số nhiệm

vụ sau:

- Khái quát về học thuyết Nho giáo và quá trình du nhập, phát triển của Nho giáo ở Việt Nam

- Phân tích, làm rõ ảnh hưởng tích cực, tiêu cực và sự khúc xạ của Nho giáo đối với một số lĩnh vực chính của văn hóa Việt Nam

- Đề ra một số phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của Nho giáo trong việc xây dựng nền văn hóa mới của người Việt Nam hiện nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Cơ sở lý luận của tiểu luận được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các chủ trương, đường lối của

Trang 3

Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước về và văn hóa, đạo đức, về đời sống tinh thần Đồng thời tiểu luận tiếp thu, kế thừa có chọn lọc và phát triển những giá trị khoa học của một số công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến nội dung của tiểu luận

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Tiểu luận dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, sử dụng các phương pháp: phương pháp lịch sử và logic, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp quy nạp và diễn dịch, phương pháp đối chiếu, so sánh… để thực hiện mục tiêu và nhiệm

vụ đã đặt ra

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của tiểu luận

Tiểu luận góp phần vào việc tìm hiểu Nho giáo và ảnh hưởng của nó với văn hóa của Việt Nam, từ đó đề ra các giải pháp nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của Nho giáo trong việc xây dựng văn hóa mới của người Việt Nam hiện nay

6 Kết cấu của tiểu luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, tiểu luận gồm 3 chương, 6 tiết

Trang 4

NỘI DUNG CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ HỌC THUYẾT NHO GIÁO VÀ QUÁ TRÌNH DU NHẬP, PHÁT TRIỂN CỦA NHO GIÁO Ở VIỆT NAM

1.1 Khái quát về học thuyết Nho giáo

Nho giáo là một trong những trường phái triết học chính của Trung Quốc thời cổ đại Đó là những tư tưởng triết lý, đạo đức, thể chế cai trị vốn đã

có cơ sở hình thành từ thời Tây Chuvới sự đóng góp của Chu Công Đán Đến cuối thời Xuân Thu thì được Khổng Tử hệ thống hóa lại, phát triển và tích cực truyền bá vì thế nên ông được xem là người sáng lập ra Nho giáo

Sách kinh điển của Nho giáo gồm 2 bộ Bộ thứ nhất là Ngũ kinh gồm năm cuốn, phần lớn có từ trước Khổng Tử đã gia công san định, hiệu đính và giải thích Năm cuốn đó là: Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu Đúng ra, bộ sách này còn một cuốn thứ sáu là Kinh Nhạc, nhưng

về sau bị thất lạc, chỉ còn lại một ít làm thành một thiên ghép chung vào Kinh

Lễ gọi là Nhạc kí cho nên chỉ còn Ngũ kinh Bộ thứ hai là Tứ Thư gồm: Luận ngữ, Đại học, Trung Dung và Mạnh Tử Bộ sách này do các học trò của Khổng Tử đã tập hợp những lời dạy của thầy mà soạn ra “Mạnh Tử” đã khép lại một giai đoạn quan trọng – giai đoạn hình thành Nho giáo Đó là Nho giáo nguyên thủy, Nho giáo tiên Tần (trước thời Tần) hay còn được gọi là tư tưởng Khổng – Mạnh

Năm 221 TCN Tần Thuỷ Hoàng thống nhất Trung Quốc và áp dụng chính sách cai trị bằng pháp luật độc đoán khắc nghiệt đã dùng bạo lực tiêu diệt Nho giáo Đến khi Hán Vũ Đế lên ngôi đã thực hiện khôi phục và đưa Nho giáo lên địa vị quốc giáo Nho giáo đời Hán (Hán Nho) đã được cải tạo, biến đổi, nhằm mục đích phục vụ vương triều Do đó từ đời Hán Nho giáo đã trở thành hệ tư tưởng chính thống chi phối văn hoá Trung Quốc và làm nền

Trang 5

tảng cho việc xây dựng và bảo vệ chế độ phong kiến Trung Quốc suốt hai ngàn năm lịch sử

Nho giáo có ba cương lĩnh cơ bản (Tam cương) là:vua tôi (quân thần), cha con (phụ tử), vợ chồng (phu phụ) Năm phép ứng xử luân lý và đạo đức (Ngũ thường ): Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín Cùng với hạt nhân tư tưởng là Nhân và Lễ

Trên cơ sở những tư tưởng triết học,Nho giáo đã hình thành mẫu người

là người quân tử mà lý tưởng sống được thể hiện tập trung trong một hệ thống quan niệm về tu thân, tề gia trị quốc, bình thiên hạ Và để trở thành người quân tử, trước hết là phải tu thân Có ba tiêu chuẩn chính:

Thứ nhất là đạt “đạo” Đạo là con đường, là những mối quan hệ mà

con người phải biết cách ứng xử trong cuộc sống Có 5 đạo: vua tôi, cha con,

vợ chồng, anh em, bè bạn (quân thần, phụ tử, phu phụ, huynh đệ, bằng hữu) Năm đạo đó gọi là Ngũ luân Trong xã hội, cách ứng xử hợp lí hơn cả là Trung dung Tuy nhiên, đến Hán nho thì Ngũ luân được tập chung lại chỉ còn

ba mối quan hệ quan trọng nhất được gọi là Tam thường hay còn gọi là Tam tòng

Thứ hai là đạt “đức” Người quân tử, theo Khổng Tử, nếu có ba điều

Nhân - Trí - Dũng thì gọi là đạt đức Về sau, Mạnh Tử bỏ “Dũng” mà thay bằng “Lễ, Nghĩa” thành 4 đức: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí Đến đời Hán thêm Tín thành 5 đức gọi là ngũ thường

Thứ ba, ngoài các tiêu chuẩn về “đạo” và “đức”, người quân tử còn

phải biết Thi - Thư - Lễ - Nhạc Như vậy theo quan niệm của Khổng Tử, người cai trị không thể là dân võ biền, mà phải có một vốn văn hóa, tài năng toàn diện

Trang 6

Tu thân rồi, bổn phận của người quân tử là hành động; phải tề gia, trị quốc, bình thiên hạ Kim chỉ nam cho mọi hành động trong công việc cai trị là hai phương châm:

Phương châm thứ nhất là Nhân trị Nhân trị là cai trị bằng tình người, coi người như bản thân mình Sách Luận ngữ kể rằng khi học trò hỏi về Nhân, Không Tử đáp: “Yêu người”; còn khi hỏi thế nào là Nhân, ông trả lời: “Điều

gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác”, “Mình muốn lập thân thì phải giúp người khác lập thân, mình muốn thành đạt thì phải giúp người khác thành đạt”

Phương châm thứ hai là Chính danh Chính danh tức là sự vật phải ứng với tên gọi, mỗi người phải làm đúng với chức phận của mình Chính danh trong cai trị là phải làm sao để “Vua ra vừa, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con”

1.2 Quá trình du nhập, phát triển của Nho giáo ở Việt Nam

Việt Nam là nước có quan hệ lâu đời với Trung Quốc Trong hơn 1000 năm Bắc thuộc, nền văn hoá Trung Quốc đặc biệt là Nho giáo đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống, văn hóa và xã hội của người dân Việt

Năm 179 TCN, Triệu Đà đem quân sang xâm chiếm Âu Lạc (Bắc bộ Việt Nam), chia Âu Lạc thành hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân, sáp nhập vào nước Nam Việt Đến năm 111 TCN, nhà Hán thôn tính Nam Việt và biến Âu Lạc thành quận Giao Chỉ (sau phân thành ba quận là Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam).Chính thức từ đây, người Việt đã bắt đầu tiếp xúc với Nho giáo Quan lại Trung Hoa dùng Nho giáo làm hệ tư tưởng xã hội chính nhằm phục

vụ mục đích cai trị và đồng hóa Cũng bởi lẽ đó mà ngày từ đầu, nhân dân ta

đã căm ghét, xa lánh Nho giáo Cùng du nhập vào Việt Nam thời bấy giờ còn

có Phật giáo và Đạo giáo, dân gian Việt Nam lại tin hơn vào Phật và Đạo, sử dụng hai hệ tư tưởng này để chống lại Nho giáo Dù vậy, Nho giáo đã ít nhiều được giới trí thức và quan lại người Việt tiếp nhận

Trang 7

Năm 938, Ngô Quyền với chiến thắng Bạch Đằng đã giúp nước ta giành lại độc lập, chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc kéo dài hơn 1000 năm Lúc này, Nho giáo mới có điều kiện phát triển tuy nhiên hơn nửa thế kỷ sau đó dưới các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, nước ta vẫn chưa thực sự ổn định nên Nho giáo vẫn chưa có vai trò gì đáng kể Mà giữ vai trò nổi bật với xã hội, con người, và triều đình phong kiến lại chính là Phật giáo

Đến thế kỷ XI, khi vương triều Lý được thành lập thì việc xây dựng và củng cố chế độ phong kiến và một bộ máy nhà nước phong kiến trung ương tập quyền cao đã trở thành một nhu cầu cấp bách, một xu thế phát triển tất yếu của xã hội Việt Nam Chính vì thế, giai cấp phong kiến đã lựa chọn và sử dụng Nho giáo với tư cách hệ tư tưởng, công cụ thống trị và quản lý xã hội Với sự kiện Lý Thái Tổ cho xây cất Văn Miếu thờ Chu Công và Khổng Tử vào năm 1070 , Nho giáomới có thể xem là được tiếp nhận chính thức Cùng với việc truyền bá Nho giáo, nhà Lý khi đó cũng rất tôn sùng Phật giáo và Đạo giáo; “tam giáo dung hòa, đồng hành, bổ sung cho nhau trong việc đáp ứng nhu cầu chính trị, tư tưởng và đời sống tâm linh của giới cầm quyền cũng như các tầng lớp xã hội” [1] Kể từ đây, Nho giáo đã dần phát triển, có chỗ đứng và ảnh hưởng nhất định tới nhiều lĩnh vực trong xã hội và con người Việt Nam

Sang thế kỷ XV, nhà Lê chọn Nho giáo làm quốc giáo, chính thức trở thành hệ tư tưởng chính thống toàn quốc, đánh dấu bước ngoặc quan trọng trong lịch sử Nho học Việt Nam.Đến các thế kỷ XVI-XVIII, Việt Nam rơi vào cục diện chia cắt Đàng Trong – Đàng ngoài, cả hai nơi đều chọn Nho giáo làm hệ tư tưởng chính thống song những giá trị Nho giáo cũng dần suy yếu và lụi tàn trước với sự tấn công của văn hóa phương Tây Bởi vậy “Nếu cho một đồ thị về sự phát triển của Nho giáo Việt Nam thì đó là một đường cong chúc xuống với điểm bắt đầu là triều Lý và đi tới đỉnh cao là thời Lê

Trang 8

Thánh Tông của triều Lê, sau đó là thời kỳ Nho giáo rơi vào khủng hoảng cho đến tận cuối triều Nguyễn.” [ 2]

Trang 9

CHƯƠNG II VĂN HÓA VIỆT NAM DƯỚI SỰ TÁC ĐỘNG CỦA NHO GIÁO

2.1 Những ảnh hưởng tích cực của Nho giáo đối với một số lĩnh vực trong văn hóa Việt Nam

Về tổ chức và vận hành Nhà nước, Nho giáo vào Việt Nam cùng với

hệ thống tổ chức quản lý kiểu Trung Hoa đã bổ sung, hoàn thiện cho mô hình nhà nước phong kiến Việt Nam tiến bộ và hiệu quả hơn; không những góp phần xây dựng các nhà nước phong kiến tập quyền vững mạnh mà còn tạo nên một hệ thống quản lý xã hội chặt chẽ, nâng cao quốc phòng và kinh tế quốc gia Minh chứng là tính từ Lý, Trần sang Lê, cùng với mức độ tăng dần của tầm ảnh hưởng của Nho giáo thì bộ máy nhà nước cũng dần hoàn thiện Thời nhà Lý chỉ có hai bộ là Hình và Lại, đến thời Trần là bốn Bộ gồm Hình, Lại, Binh, Hộ, sang thời Lê đã tăng lên sáu bộ, tức Lại, Lễ, Hộ, Binh, Công, Hình Chức năng của từng bộ cũng hoàn thiện dần Với cách tổ chức ấy, nước Đại Việt thời Lê (TK XV-XVI) được cho là một trong những nhà nước hoàn chỉnh, có hệ thống nhất ở Đông Nam Á

Về giáo dục, Nhờ Đạo Nho, người Việt Nam rất coi trọng sự học hành.

Biểu hiện là vào thời nhà Lý, trường đại học đầu tiên ở Việt Nam Văn Miếu -Quốc Tử Giám đã được thành lập Không những thế, nhà nước còn mở khoa thi để tuyển chọn nhân tài, ai cũng có quyền đi học và đỗ đạc làm quan “Từ

đó tạo nên một tâm lý xã hội: "Không tham ruộng cả ao liền, tham vì cái bút, cái nghiên anh đồ" Nhiều người lấy việc học tập, thi cử làm mục tiêu cao nhất trong cuộc đời mình” [3] Nhờ vậy mà nhân dân ta coi trọng việc học hành, tạo nên truyền thống tốt đẹp hiếu học của dân tộc Việt Nam

Nội dung giáo dục của Nho giáo chính là "Tiên Học Lễ, Hậu Học Văn" Câu nói này đã khắc ghi sâu đậm vào dân tộc Việt Nam suốt hàng ngàn năm,

Trang 10

nhắc nhở con người ta rằng trước tiên phải học cách làm người, học lễ độ, cách đối nhân xử thế, cách sống nhân ái tình nghĩa, tôn trọng trật tự, lễ kính với người già và phải có trên dưới rõ ràng Tiếp đến phải chăm chỉ học tập, nâng cao tri thức để thành người tài đức đóng góp cho đất nước, xã hội Đến tận ngày nay câu nói này vẫn còn phổ biến ở khắp các trường học tại Việt Nam

Về chữ viết, Chữ cổ đã mai một và mất hẳn, sau đó người Việt sử dụng

chữ Hán làm văn tự chính thức trong giao dịch hành chính và vì là phương tiện chuyên dùng chuyển tải Nho giáo, nên chữ Hán thường được gọi là chữ Nho hay chữ Thánh hiền Đến cuối thời Bắc thuộc, trên cơ sở chữ Hán người Việt đã tạo ra chữ Nôm dùng trong sáng tác văn chương Thời Tây Sơn vua Quang Trung đã mở rộng sử dụng chữ Nôm trong lĩnh vực hành chính và giáo dục

Về văn học – nghệ thuật, người Việt tiếp thu quan niệm của Nho giáo

xây dựng tư tưởng văn chương giáo hóa đạo đức, lấy đạo đức là cái cốt của văn chương như Nguyễn Chiểu đã viết trong bài “Than đạo”: “Chở bao nhiêu đạo tuyền không khẳm – Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà” Còn đối với điêu khắc, các hình mẫu như tứ linh, bát vật, tùng-cúc-trúc-mai (tứ quân tử), các phức hợp mang ý nghĩa may mắn đều mang đậm dấu ấn Nho giáo

2.2 Những ảnh hưởng tiêu cực của Nho giáo đối với một số lĩnh vực trong văn hóa Việt Nam

Bên cạnh những đóng góp của Nho giáo đối với văn hóa Việt Nam thì còn bộc lộ cả những hạn chế, cụ thể là:

Về kinh tế, Nho giáo Việt Nam đã quá coi trọng nông nghiệp mà bài

xích thương nghiệp, quá chú trọng tự sản tự tiêu mà quên đi sự trao đổi mua bán “Những người theo nghề thương mại chuyên nghiệp bị coi khinh, vì trong “tứ dân”, thương nhân là mạt hạng Bởi thế mới có câu chuyện Đào Duy

Từ, một nhà nho xuất thân gia đình con hát nên bị cấm thi” [4] Hai chính

Trang 11

sách “trọng nông ức thương”, “bế quan tỏa cảng” của thời Nguyễn trở thành

một thứ quốc sách kìm hãm đất nước trong vòng lạc hậu đói nghèo, kìm hãm

sự năng động sáng tạo dẫn đến quan liêu bảo thủ trong cả kinh tế lẫn chính trị.

Những điều này đã tạo nên sức ỳ quá lớn khiến cho đất nước không thể phát triển

Về giáo dục, Nho giáo chủ yếu tập trung vào giảng dạy đạo đức, văn

chương thơ ca Lấy những tri thức từ thánh kinh, hiền truyện để làm khuôn mẫu cho suy nghĩ và hành động; lấy những sự tích và điều phạm trong Kinh Thư, Kinh Xuân Thu làm tiêu chuẩn để bình giá mọi sự việc mà không để ý tới những khác biệt giữa văn hóa xã hội của Việt Nam và Trung Quốc Đây là một phương pháp học tập - giảng dạy dập khuôn máy móc và giáo điều, kìm hãm sự sáng tạo, phát triển của con người; làm người học hành động một cách thụ động, chỉ có những kiến thức về đạo đức, văn chương trừu tượng mà thiếu

đi những kiến thức về tự nhiên, khoa học và thực tiễn

Về xã hội, Tư tưởng Nho giáo cũng đã góp phần vào sự phân chia xã

hội thành đẳng cấp, mà trong đó người ở đẳng cấp dưới luôn phải phục tùng người ở đẳng cấp trên một cách mù quáng Việc phân chia xã hội theo thứ bậc không chỉ ở vua quan trong triều đình, mà cả trong từng gia đình, làng xóm, cho đến toàn xã hội đã làm cho tư tưởng gia trưởng, độc đoán chuyên quyền, trọng nam khinh nữ ngự trị,

2.3 Sự khúc xạ của Nho giáo qua lăng kính của văn hóa Việt Nam

Nét độc đáo của văn hoá Việt Nam là khi tiếp thu những giá trị ngoại lai sẽ không bao giờ đón nhận một cách thụ động mà luôn chắt lọc, biến đổi theo cách của riêng mình, tạo nên bản sắc văn hóa riêng biệt Có rất nhiều yếu

tố của Nho giáo khi vào Việt Nam đã biến đổi cho phù hợp với truyền thống của văn hoá dân tộc ta tức là: “Chữ nghĩa nó vẫn thế nhưng cách hiểu thì đã khác nhiều”

Ngày đăng: 13/10/2023, 17:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. GS.TS. Nguyễn Tài Thư, “Một số đặc trưng cơ bản của Nho giáo Việt Nam” , Tạp trí Triết học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc trưng cơ bản của Nho giáoViệt Nam
4. Nho giáo tại trang https://vi.wikipedia.org/wiki/Nho_gi%C3%A1o#Vi%E1%BB%87t_Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo
Nhà XB: Wikipedia tiếng Việt
6. Phan Văn Các (2005) “Nghiên cứu nho giáo Việt Nam trong bối cảnh khu vực và thời đại”, Tạp chí triết học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu nho giáo Việt Nam trong bốicảnh khu vực và thời đại
7. Trần Quốc Vượng (2000), “Nho giáo và văn hóa Việt Nam”, Văn hóa Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo và văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Quốc Vượng
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2000
8. TS. Lý Tùng Hiếu, “Ảnh hưởng của Nho giáo trong văn hóa Việt Nam”, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam (số 4 - 2015) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của Nho giáo trong văn hóa ViệtNam
1. C.Mác, Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 3, tr.54 Khác
5. Phan Ngọc (2001), Bản sắc văn hóa Việt Nam, NXB Văn học Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w