1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO ĐỐI VÓI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

13 84 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 225,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC Trang I. Một số khái niệm 2 II. Lý do Nho giáo có sự ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh 5 III. Sự ảnh hưởng của Nho giáo tới sự hình thành và phát triển Tư tưởng Hồ Chí Minh 7 IV. Liên hệ với thanh niên ngày nay 11 Tài liệu tham khảo 12 Báo cáo đánh giá làm việc nhóm 13 Lời dẫn: Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về các lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội. Quá trình hình thành và phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh là sự góp nhặt và chắt lọc những gì tinh túy nhất từ những tư tưởng, chủ nghĩa tiền đề và vận dụng nó một cách có hiệu quả vào thực tiễn cuộc sống. Trong hệ thống tư tưởng đó, tư tưởng Nho giáo đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Nó không chỉ góp phần trong việc hình thành mà còn ảnh hưởng sâu sắc tới tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong đó, những biểu hiện rõ nhất về tác động của Nho giáo tới Tư tưởng Hồ Chí Minh có thể nhận ra qua 2 mặt: văn hóa và đạo đức cách mạng. I. Một số khái niệm 1. Nho giáo 1.1. Khái niệm Nho giáo là một thuật ngữ bắt đầu từ chữ Nho, theo Hán Tự từ Nho gồm từ nhân (người) đứng cận chữ Nhu (cần, đợi, chờ). Nho Giáo còn gọi là nhà nho, người đọc sách thánh hiền, được thiên hạ trọng dụng để dạy bảo người đời, ăn ở cho phù hợp với luân thường đạo lý. Người sáng lập ra Nho giáo là Khổng Tử (551479 TCN), tên Khâu, Tự Trọng Ni người nước Lỗ, Khổng Tử đã hệ thống hóa những tri thức cũng như tư tưởng trước đây thành học thuyết gọi là Nho học hay Nho giáo. 1.2. Lịch sử phát triển Khổng Tử là người sáng lập ra học thuyết Nho giáo ở Trung Quốc. Hơn hai nghìn năm qua, tư tưởng Nho giáo ảnh hưởng đối với Trung Quốc không chỉ về chính trị, văn hoá...mà còn thể hiện trong hành vi và phương thức tư duy của mỗi con người Trung Quốc. Có học giả nước ngoài thậm chí coi tư tưởng Nho giáo là tư tưởng Tôn Giáo của Trung Quốc. Trong thực tế, trường phái Nho giáo chỉ là một trong rất nhiều trường phái thời cổ Trung Quốc, nó là một tư tưởng triết học chứ không phải là Tôn giáo, chẳng qua là do được coi là tư tưởng chính thống trong xã hội phong kiến hơn hai nghìn năm ở Trung Quốc và vì người Hoa và Hoa kiều có mặt hầu như trên toàn thế giới, có thể nói sự ảnh hưởng của tư tưởng Khổng Tử đã không còn giới hạn ở Trung Quốc và châu Á nữa. Thời Xuân Thu, Khổng Tử đã san định, hiệu Đính và giải thích bộ Lục Kinh gồm có Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu và Kinh Nhạc. Về sau Kinh Nhạc bị thất lạc nên chỉ còn năm bộ kinh thường được gọi là Ngũ Kinh. Sau khi Khổng Tử mất, học trò của ông tập hợp các lời dạy để soạn ra cuốn Luận ngữ. Học trò xuất sắc nhất của Khổng Tử là Tăng Sâm, dựa vào lời thầy mà soạn ra sách Đại học. Sau đó, cháu nội của Khổng Tử là Khổng Cấp, còn gọi là Tử Tư viết ra cuốn Trung Dung. Đến thời Chiến Quốc, Mạnh Tử đưa ra các tư tưởng mà sau này học trò của ông chép thành sách Mạnh Tử. Từ Khổng Tử đến Mạnh Tử hình thành nên Nho giáo nguyên thủy, còn gọi là Nho giáo tiền Tần (trước đời Tần), Khổng giáo hay Tư tưởng KhổngMạnh. Từ đây mới hình thành hai khái niệm: Nho giáo và Nho gia. Nho gia thì mang tính học thuật, nội dung của nó còn được gọi là Nho học; còn Nho giáo mang tính tôn giáo vì ở Nho giáo, Văn Miếu trở thành thánh đường và Khổng Tử trở thành Giáo Chủ, giáo lý chính là các tín điều mà các nhà Nho cần phải thực hành. 1.3. Những nội dung cơ bản Nội dung của Nho giáo được thể hiện trong Ngũ Kinh (Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch, Kinh Lễ và Kinh Xuân Thu) hay Tứ Kinh (Luận ngữ, Đại học, Trung Dung, Mạnh Tử). Quan điểm của nho giáo thể hiện trong Tam Cương đó là các mối quan hệ vuatôi, chacon, vợ chồng và Ngũ Thường (Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín). Nho giáo ảnh hưởng hầu hết các nước phong kiến phương Đông qua quá trình giao thoa và đồng hòa. Cốt lõi của Nho giáo là Nho gia. Đó là một học thuyết chính trị nhằm tổ chức xã hội. Để tổ chức xã hội có hiệu quả, điều quan trọng nhất là phải đào tạo cho được người cai trị kiểu mẫu người lý tưởng này gọi là Quân Tử (Quân = người làm vua, Quân tử = chỉ tầng lớp trên ở trong xã hội để phân biệt với kẻ Tiểu nhân những người thấp kém về điạ vị xã hội. Để trở thành người quân tử, con người ta trước hết phải Tự Đào Tạo, phải Tu Thân. Sau khi Tu Thân xong, người quân tử phải có bổn phận phải Hành Đạo, trong đó: ❖ TU THÂN: Khổng Tử đặt ra một loạt Tam Cương, Ngũ Thường, Tam Tòng, Tứ Đức... để làm chuẩn mực cho mọi sinh hoạt chính trị và an sinh xã hội. Tam Cương và Ngũ Thường là lẽ đạo đức mà Nam giới phải theo. Tam Tòng và Tứ Đức là lẽ đạo đức mà Nữ giới phải theo. Khổng Tử cho rằng người trong xã hội giữ được Tam Cương, Ngũ Thường, Tam Tòng, Tứ Đức thì xã hội sẽ được an bình. A. Tam Cương: Nói về ba mối quan hệ Quân Thần (vua tôi), Phụ Tử (cha con), Phu Phụ (chồng vợ). B. Ngũ Thường: Ngũ là năm; Thường là hằng có; Ngũ Thường là năm điều phải hằng có khi ở đời, gồm: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. C. Tam Tòng: Tam là ba, Tòng là theo. Tam tòng là ba điều người phụ nữ phải theo, bao gồm: Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử D. Tứ Đức: bốn tính nết tốt của người phụ nữ phải có là: Công Dung Ngôn Hạnh. ❖ HÀNH ĐẠO Sau khi Tu Thân, người quân tử phải Hành Đạo, tức là phải làm quan, làm chính trị. Nội dung của công việc này được công thức hóa thành Tề gia, Trị quốc, Bình thiên hạ. Tức là phải hoàn thành những việc nhỏ là gia đình, cho đến lớn là Trị Quốc, và đạt đến mức cuối cùng là Bình thiên hạ (thống nhất thiên hạ). Đến đời Hán nho, Đổng Trọng Thư đưa nhân nghĩa vào Ngũ Thường. “Tam Cương Ngũ Thường” trở thành trụ cột của lễ giáo phong kiến. Sang đời Tống nho, hai chữ nhân nghĩa càng bị trừu tượng hóa. Các nhà Tống nho căn cứ vào thuyết “Thiện Nhân hợp nhất” khoác cho hai chữ nhân nghĩa sắc thần siêu hình. Trời có ‘lý” người có “Tính” bẩm thụ ở trời. Đức của trời có 4 điều: “Nguyên, Hạnh, Lợi, Trinh”; Đức của người có “Nhân, Nghĩa, Lễ và Trí”. Bốn đức của người tượng cảm với đức của trời. Hệ thống hóa lại một cách tóm tắt hai chữ “Nhân Nghĩa” ở một số thời điểm phát triển của Nho giáo như trên, ta có thể kết luận hai chữ “Nhân Nghĩa” của Nho giáo là khái niệm thuộc phạm trù đạo lý, nội dung từng thời kỳ có thêm bớt nhưng căn bản vẫn là những lễ giáo phong kiến không ngoài mục đích duy nhất là ràng buộc con người vào khuôn khổ pháp lý Nho giáo phục vụ quyền lợi của giai cấp phong kiến. 2. Tư tưởng Hồ Chí Minh 2.1. Khái niệm Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của quá trình cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa; là kết quả sự vận dụng sáng tạo và phát triển CNMLN vào điều kiện cụ thể của nước ta; đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Thực chất của tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống lý luận phản ánh những vấn đề có tính quy luật của cách mạng Việt Nam. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm những vấn đề có liên quan đến quá trình phát triển từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. 2.2. Những nội dung cơ bản Hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm: Tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; Tư tưởng về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; Tư tưởng về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc; Tư tưởng về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân; Tư tưởng về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; Tư tưởng về phát triển kinh tế và văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; Tư tưởng về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; Tư tưởng về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; Tư tưởng về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân… II. Lý do Nho giáo có sự ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh 1. Nho giáo Việt Nam cuối thế kỷ XIX 1.1. Bối cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX Giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX, lịch sử Việt Nam chứng kiến những sự biến đổi hết sức to lớn: Thực dân Pháp xâm lược và biến nước ta từ một nước độc lập thành một nước thuộc địa nửa phong kiến với yêu cầu bức thiết và cháy bỏng là: “Độc lập dân tộc và người cày có ruộng”. Chế độ phong kiến Việt Nam cùng với hệ tư tưởng Nho giáo ngày càng tỏ ra bất lực trước yêu cầu của công cuộc chống ngoại xâm vì nền độc lập dân tộc. Trong nội bộ giai cấp địa chủ phong kiến có sự phân hóa sâu sắc. Triều đình nhu nhược, cam chịu làm tay sai cho thực dân. Vì vậy các phong trào đấu tranh của nhân dân ta theo ý thức hệ phong kiến (tiêu biểu là phong trào Văn Thân và phong trào Cần Vương) lần lượt đều bị thất bại. Ở nước ta, sau khi Triều đình nhà Nguyễn bạc nhược ký “hòa ước” đầu hàng, những năm cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp bắt tay vào khai thác thuộc địa lần thứ nhất. Xã hội Việt Nam bắt đầu có những biến chuyển và phân hóa sâu sắc. Sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản Pháp đã làm nảy sinh trong xã hội Việt Nam hai giai cấp mới: Giai cấp vô sản và giai cấp tư sản. Sự tác động của tư tưởng tiến bộ ở phương Tây cũng như cuộc cách mạng Tân Hợi và cuộc vận động cải cách của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu ở Trung Quốc cũng có ảnh hưởng lớn đến Việt Nam, nhất là quá trình chuyển biến về tư tưởng chính trị. Những sự biến đổi to lớn về chính trị xã hội vào cuối thế kỷ XIX đã tác động đến Nho giáo thời bấy giờ. Sau khi bước qua thời kỳ cực thịnh giai đoạn thế kỷ XV, XVI, Nho giáo ở Việt Nam đã bắt đầu có những dấu hiệu của sự lụi tàn khi xã hội thời bấy giờ lần lượt xuất hiện những hệ tư tưởng mới, du nhập từ nước ngoài và phù hợp hơn với thời đại. Song Nho giáo vẫn phần nào có tác động đến tư tưởng của thế hệ những nhà Nho của thời đại cũ. 1.2. Nho giáo Việt Nam cuối thế kỷ XIX Nho giáo được củng cố mạnh mẽ trong xã hội; Phật giáo, Đạo giáo ngày càng suy giảm và lùi vào đời sống dân chúng trên phương diện tôn giáo. Điều đó khiến đời sống tư tưởng chính thống có phần nghèo nàn hơn so với thế kỷ trước. Mặc dù vậy, đến giữa thế kỷ XIX, Việt Nam không thể tránh khỏi làn sóng bành trướng, xâm lược của tư bản Phương Tây. Cuộc xâm chiếm Việt Nam của thực dân Pháp kéo dài gần 4 thập kỷ đã khiến bức tường thành ý thức hệ Nho giáo bị lung lay tận gốc rễ. Nho giáo tỏ ra bất lực trong vai trò là đường lối dẫn dắt dân tộc bảo vệ đất nước trước một kẻ thù hoàn toàn mới về ý thức hệ và nền văn hoá. Bài học về mối quan hệ truyền thống với hiện đại trong giải quyết bài toán của lịch sử được đặt ra chính thức trong giai đoạn này. Bước qua hàng thế kỷ “thống trị” hệ tư tưởng của Việt Nam, Nho giáo thế kỷ XIX đã cho thấy sự suy tàn rõ rệt. Vào giai đoạn thế kỷ XIX, nhà Nguyễn sau khi được dựng lên đã ra sức đề cao Nho giáo, lấy đó làm điều kiện củng cố triều đại. Nhưng việc phục hồi Nho giáo lúc bấy giờ là việc làm trái với xu thế của thời đại, của tình hình thế giới. Sau khi thôn tính hoàn toàn lãnh thổ Việt Nam vào năm 1884, thực dân Pháp từng bước tìm mọi cách để ngăn cản, hạn chế vai trò của Nho giáo. Tuy nhiên, thực dân Pháp vẫn sử dụng Nho giáo ở mức độ nhất định để củng cố chế độ thuộc địa. Có thể nói rằng, kể từ khi vào Việt Nam, một mặt, Nho giáo là công cụ thống trị của chính quyền đô hộ và phục vụ cho chính quyền đô hộ; mặt khác, sự truyền bá Nho giáo cùng việc phổ biến chữ Hán đã đưa Việt Nam tới một kho tàng tri thức xã hội và tự nhiên. Với tất cả các ưu và nhược điểm, giáo dục Nho giáo luôn chiếm vị trí quan trọng trong giáo dục nước ta. Bởi vậy, chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa giáo dục Nho giáo một cách có phê phán trên quan điểm lập trường giai cấp vô sản và để lại cho chúng ta những quan điểm giáo dục có giá trị bền vững. 2. Xuất thân của Hồ Chí Minh Chủ tịch Hồ Chí Minh (tên lúc nhỏ là Nguyễn Sinh Cung, tên khi đi học là Nguyễn Tất Thành, trong nhiều năm hoạt động cách mạng trước đây lấy tên là Nguyễn Ái Quốc), sinh ngày 1951890 ở làng Kim Liên, xã Nam Liên (nay là xã Kim Liên), huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An; mất ngày 0291969 tại Hà Nội. 2.1. Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất thân từ một gia đình Nho giáo. Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ngày 1951890 trong một gia đình nhà nho, nguồn gốc nông dân, ở làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, nơi có truyền thống đấu tranh kiên cường chống ách thống trị của thực dân phong kiến. Hoàn cảnh xã hội và sự giáo dục của gia đình đã ảnh hưởng sâu sắc đến Người ngay từ thời niên thiếu. Thân sinh của Hồ Chí Minh là cụ Nguyễn Sinh Sắc. Cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc sinh năm Nhâm Tuất 1862. Cụ là con của ông Nguyễn Sinh Nhậm (người Thanh Chương Nghệ An) và bà Hà Thị Hy làm nghề hát rong. Theo gia phả họ Hà thì Ông tổ của nguyễn Sinh Nhậm là Nguyễn Bá Phổ ở làng Kim Liên (Làng Sen, Nam Đàn, Nghệ An), đến thế hệ thứ tư thì ông tộc trưởng Nguyễn Bá Dân xin đổi chữ lót họ thành Nguyễn Sinh. Cụ phó bảng được nhà nho Hoàng Xuân Đường nhận làm con nuôi và cho ăn học hành tử tế và gả con gái đầu của mình là Hoàng Thị Loan làm vợ. Năm 1891, ông vào Vinh thi tú tài nhưng không đỗ. Năm 1894, ông tham dự kỳ thi Hương và đỗ cử nhân tại trường thi Nghệ An. Năm sau (1895), ông Sắc vào Huế thi hội bị hỏng, đã xin đi làm hành tẩu bộ Hộ. Ba năm sau, ông hỏng kỳ thi hội một lần nữa vào năm 1898. Có thể thấy người – cha cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc đã có những ảnh hưởng lớn nhất đến chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông Nguyễn Sinh Sắc lúc lên ba tuổi thì bố mất và sau đó ba năm thì mẹ cũng qua đời và đến tuổi ba mươi bảy thì vợ tạ thế. Cuộc đời ông chịu nhiều cô đơn. Từ đó sống cảnh gà trống nuôi con, đi đâu ông cũng mang cậu Nguyễn Sinh Cung theo cùng. Cậu bé Nguyễn Tất Thành cũng gặp khó khăn vất vả ngay từ lúc nhỏ 3 tuổi thì ông ngoại mất, 10 tuổi thì mẹ qua đời, và bố là người có nhiều ảnh hưởng sâu đậm nhất đối với cuộc sống và sự nghiệp của cậu. Cách dạy của cụ Phó bảng với các con là dạy lòng nhân ái, đức tín nghĩa và sức trí dũng, lấy bản thân làm chủ, nhân quân làm gốc. Cụ chăm lo bồi đắp cho con cái về đạo làm người, lấy cơ sở làm nền tảng luân lý truyền thống Việt Nam làm nền tảng.

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

II Lý do Nho giáo có sự ảnh hưởng tới sự hình thành

III Sự ảnh hưởng của Nho giáo tới sự hình thành và

Lời dẫn: Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về các

lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội Quá trình hình thành và phát triển của tư tưởng

Hồ Chí Minh là sự góp nhặt và chắt lọc những gì tinh túy nhất từ những tư tưởng, chủ nghĩa

Trang 3

tiền đề và vận dụng nó một cách có hiệu quả vào thực tiễn cuộc sống Trong hệ thống tư tưởng đó, tư tưởng Nho giáo đóng vai trò đặc biệt quan trọng Nó không chỉ góp phần trong việc hình thành mà còn ảnh hưởng sâu sắc tới tư tưởng Hồ Chí Minh Trong đó, những biểu hiện rõ nhất về tác động của Nho giáo tới Tư tưởng Hồ Chí Minh có thể nhận ra qua 2 mặt: văn hóa và đạo đức cách mạng

I Một số khái niệm

1 Nho giáo

1.1 Khái niệm

Nho giáo là một thuật ngữ bắt đầu từ chữ Nho, theo Hán Tự từ Nho gồm từ nhân (người) đứng cận chữ Nhu (cần, đợi, chờ) Nho Giáo còn gọi là nhà nho, người đọc sách thánh hiền, được thiên hạ trọng dụng để dạy bảo người đời, ăn ở cho phù hợp với luân thường đạo lý

Người sáng lập ra Nho giáo là Khổng Tử (551-479 TCN), tên Khâu, Tự Trọng Ni người nước Lỗ, Khổng Tử đã hệ thống hóa những tri thức cũng như tư tưởng trước đây thành học thuyết gọi là Nho học hay Nho giáo

1.2 Lịch sử phát triển

Khổng Tử là người sáng lập ra học thuyết Nho giáo ở Trung Quốc Hơn hai nghìn năm qua, tư tưởng Nho giáo ảnh hưởng đối với Trung Quốc không chỉ về chính trị, văn hoá mà còn thể hiện trong hành vi và phương thức tư duy của mỗi con người Trung Quốc

Có học giả nước ngoài thậm chí coi tư tưởng Nho giáo là tư tưởng Tôn Giáo của Trung

Quốc Trong thực tế, trường phái Nho giáo chỉ là một trong rất nhiều trường phái thời cổ Trung Quốc, nó là một tư tưởng triết học chứ không phải là Tôn giáo, chẳng qua là do được coi là tư tưởng chính thống trong xã hội phong kiến hơn hai nghìn năm ở Trung Quốc và vì người Hoa và Hoa kiều có mặt hầu như trên toàn thế giới, có thể nói sự ảnh hưởng của tư tưởng Khổng Tử đã không còn giới hạn ở Trung Quốc và châu Á nữa

Thời Xuân Thu, Khổng Tử đã san định, hiệu Đính và giải thích bộ Lục Kinh gồm có

Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu và Kinh Nhạc Về sau Kinh Nhạc

bị thất lạc nên chỉ còn năm bộ kinh thường được gọi là Ngũ Kinh Sau khi Khổng Tử mất,

học trò của ông tập hợp các lời dạy để soạn ra cuốn Luận ngữ Học trò xuất sắc nhất của

Khổng Tử là Tăng Sâm, dựa vào lời thầy mà soạn ra sách Đại học Sau đó, cháu nội của

Khổng Tử là Khổng Cấp, còn gọi là Tử Tư viết ra cuốn Trung Dung

Đến thời Chiến Quốc, Mạnh Tử đưa ra các tư tưởng mà sau này học trò của ông

chép thành sách Mạnh Tử Từ Khổng Tử đến Mạnh Tử hình thành nên Nho giáo nguyên thủy, còn gọi là Nho giáo tiền Tần (trước đời Tần), Khổng giáo hay "Tư tưởng Khổng-Mạnh" Từ đây mới hình thành hai khái niệm: "Nho giáo và Nho gia" Nho gia thì mang

tính học thuật, nội dung của nó còn được gọi là Nho học; còn Nho giáo mang tính tôn giáo

vì ở Nho giáo, Văn Miếu trở thành thánh đường và Khổng Tử trở thành Giáo Chủ, giáo lý chính là các tín điều mà các nhà Nho cần phải thực hành

Trang 4

1.3 Những nội dung cơ bản

Nội dung của Nho giáo được thể hiện trong Ngũ Kinh (Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch, Kinh Lễ và Kinh Xuân Thu) hay Tứ Kinh (Luận ngữ, Đại học, Trung Dung, Mạnh Tử) Quan điểm của nho giáo thể hiện trong Tam Cương đó là các mối quan hệ vua-tôi, cha-con, vợ chồng và Ngũ Thường (Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín) Nho giáo ảnh hưởng hầu

hết các nước phong kiến phương Đông qua quá trình giao thoa và đồng hòa

Cốt lõi của Nho giáo là Nho gia Đó là một học thuyết chính trị nhằm tổ chức xã hội

Để tổ chức xã hội có hiệu quả, điều quan trọng nhất là phải đào tạo cho được người cai trị kiểu mẫu - người lý tưởng này gọi là Quân Tử (Quân = người làm vua, Quân tử = chỉ tầng

lớp trên ở trong xã hội để phân biệt với kẻ "Tiểu nhân" những người thấp kém về điạ vị xã

hội Để trở thành người quân tử, con người ta trước hết phải "Tự Đào Tạo", phải "Tu

Thân" Sau khi Tu Thân xong, người quân tử phải có bổn phận phải "Hành Đạo", trong đó:

❖ TU THÂN:

Khổng Tử đặt ra một loạt Tam Cương, Ngũ Thường, Tam Tòng, Tứ Đức để làm chuẩn mực cho mọi sinh hoạt chính trị và an sinh xã hội Tam Cương và Ngũ Thường là lẽ đạo đức mà Nam giới phải theo Tam Tòng và Tứ Đức là lẽ đạo đức mà Nữ giới phải theo Khổng Tử cho rằng người trong xã hội giữ được Tam Cương, Ngũ Thường, Tam Tòng, Tứ Đức thì xã hội sẽ được an bình.

A Tam Cương: Nói về ba mối quan hệ Quân Thần (vua tôi), Phụ Tử (cha con), Phu Phụ

(chồng vợ)

B Ngũ Thường: Ngũ là năm; Thường là hằng có; Ngũ Thường là năm điều phải hằng có

khi ở đời, gồm: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.

C Tam Tòng: Tam là ba, Tòng là theo Tam tòng là ba điều người phụ nữ phải theo, bao

gồm: "Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử"

D Tứ Đức: bốn tính nết tốt của người phụ nữ phải có là: Công - Dung - Ngôn - Hạnh.

❖ HÀNH ĐẠO

Sau khi Tu Thân, người quân tử phải Hành Đạo, tức là phải làm quan, làm chính

trị Nội dung của công việc này được công thức hóa thành "Tề gia, Trị quốc, Bình thiên hạ".

Tức là phải hoàn thành những việc nhỏ là gia đình, cho đến lớn là Trị Quốc, và đạt đến mức cuối cùng là Bình thiên hạ (thống nhất thiên hạ)

Đến đời Hán nho, Đổng Trọng Thư đưa nhân nghĩa vào Ngũ Thường “Tam

Cương Ngũ Thường” trở thành trụ cột của lễ giáo phong kiến Sang đời Tống nho, hai chữ nhân nghĩa càng bị trừu tượng hóa Các nhà Tống nho căn cứ vào thuyết “Thiện Nhân hợp nhất” khoác cho hai chữ nhân nghĩa sắc thần siêu hình Trời có ‘lý” người có “Tính” bẩm thụ ở trời Đức của trời có 4 điều: “Nguyên, Hạnh, Lợi, Trinh”; Đức của người có “Nhân, Nghĩa, Lễ và Trí” Bốn đức của người tượng cảm với đức của trời

Hệ thống hóa lại một cách tóm tắt hai chữ “Nhân Nghĩa” ở một số thời điểm phát

triển của Nho giáo như trên, ta có thể kết luận hai chữ “Nhân Nghĩa” của Nho giáo là khái

Trang 5

niệm thuộc phạm trù đạo lý, nội dung từng thời kỳ có thêm bớt nhưng căn bản vẫn là những

lễ giáo phong kiến không ngoài mục đích duy nhất là ràng buộc con người vào khuôn khổ pháp lý Nho giáo phục vụ quyền lợi của giai cấp phong kiến

2 Tư tưởng Hồ Chí Minh

2.1 Khái niệm

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của quá trình cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa; là kết quả sự vận dụng sáng tạo và phát triển CNMLN vào điều kiện cụ thể của nước ta; đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người

- Thực chất của tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống lý luận phản ánh những vấn đề có tính quy luật của cách mạng Việt Nam

- Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm những vấn đề có liên quan đến quá trình phát triển từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa

2.2 Những nội dung cơ bản

Hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm:

- Tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người;

- Tư tưởng về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại;

- Tư tưởng về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc;

- Tư tưởng về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân;

- Tư tưởng về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân;

- Tư tưởng về phát triển kinh tế và văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân;

- Tư tưởng về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư;

- Tư tưởng về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau;

- Tư tưởng về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân…

II Lý do Nho giáo có sự ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh

1 Nho giáo Việt Nam cuối thế kỷ XIX

Trang 6

1.1 Bối cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX

Giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX, lịch sử Việt Nam chứng kiến những sự biến đổi hết sức to lớn:

- Thực dân Pháp xâm lược và biến nước ta từ một nước độc lập thành một nước thuộc địa nửa phong kiến với yêu cầu bức thiết và cháy bỏng là: “Độc lập dân tộc và người cày có ruộng”

- Chế độ phong kiến Việt Nam cùng với hệ tư tưởng Nho giáo ngày càng tỏ ra bất lực trước yêu cầu của công cuộc chống ngoại xâm vì nền độc lập dân tộc

- Trong nội bộ giai cấp địa chủ phong kiến có sự phân hóa sâu sắc Triều đình nhu nhược, cam chịu làm tay sai cho thực dân Vì vậy các phong trào đấu tranh của nhân dân ta theo ý thức hệ phong kiến (tiêu biểu là phong trào Văn Thân và phong trào Cần Vương) lần lượt đều bị thất bại

Ở nước ta, sau khi Triều đình nhà Nguyễn bạc nhược ký “hòa ước” đầu hàng, những năm cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp bắt tay vào khai thác thuộc địa lần thứ nhất Xã hội Việt Nam bắt đầu có những biến chuyển và phân hóa sâu sắc Sự xâm nhập của chủ nghĩa

tư bản Pháp đã làm nảy sinh trong xã hội Việt Nam hai giai cấp mới: Giai cấp vô sản và giai cấp tư sản Sự tác động của tư tưởng tiến bộ ở phương Tây cũng như cuộc cách mạng Tân Hợi và cuộc vận động cải cách của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu ở Trung Quốc cũng có ảnh hưởng lớn đến Việt Nam, nhất là quá trình chuyển biến về tư tưởng chính trị

Những sự biến đổi to lớn về chính trị - xã hội vào cuối thế kỷ XIX đã tác động đến Nho giáo thời bấy giờ Sau khi bước qua thời kỳ cực thịnh giai đoạn thế kỷ XV, XVI, Nho giáo ở Việt Nam đã bắt đầu có những dấu hiệu của sự lụi tàn khi xã hội thời bấy giờ lần lượt xuất hiện những hệ tư tưởng mới, du nhập từ nước ngoài và phù hợp hơn với thời đại Song Nho giáo vẫn phần nào có tác động đến tư tưởng của thế hệ những nhà Nho của thời đại cũ

1.2 Nho giáo Việt Nam cuối thế kỷ XIX

Nho giáo được củng cố mạnh mẽ trong xã hội; Phật giáo, Đạo giáo ngày càng suy giảm và lùi vào đời sống dân chúng trên phương diện tôn giáo Điều đó khiến đời sống tư tưởng chính thống có phần nghèo nàn hơn so với thế kỷ trước Mặc dù vậy, đến giữa thế kỷ XIX, Việt Nam không thể tránh khỏi làn sóng bành trướng, xâm lược của tư bản Phương Tây Cuộc xâm chiếm Việt Nam của thực dân Pháp kéo dài gần 4 thập kỷ đã khiến bức tường thành ý thức hệ Nho giáo bị lung lay tận gốc rễ Nho giáo tỏ ra bất lực trong vai trò là đường lối dẫn dắt dân tộc bảo vệ đất nước trước một kẻ thù hoàn toàn mới về ý thức hệ và nền văn hoá Bài học về mối quan hệ truyền thống với hiện đại trong giải quyết bài toán của lịch sử được đặt ra chính thức trong giai đoạn này

Bước qua hàng thế kỷ “thống trị” hệ tư tưởng của Việt Nam, Nho giáo thế kỷ XIX

đã cho thấy sự suy tàn rõ rệt Vào giai đoạn thế kỷ XIX, nhà Nguyễn sau khi được dựng lên

đã ra sức đề cao Nho giáo, lấy đó làm điều kiện củng cố triều đại Nhưng việc phục hồi Nho giáo lúc bấy giờ là việc làm trái với xu thế của thời đại, của tình hình thế giới Sau khi thôn tính hoàn toàn lãnh thổ Việt Nam vào năm 1884, thực dân Pháp từng bước tìm mọi cách để

Trang 7

ngăn cản, hạn chế vai trò của Nho giáo Tuy nhiên, thực dân Pháp vẫn sử dụng Nho giáo ở mức độ nhất định để củng cố chế độ thuộc địa

Có thể nói rằng, kể từ khi vào Việt Nam, một mặt, Nho giáo là công cụ thống trị của chính quyền đô hộ và phục vụ cho chính quyền đô hộ; mặt khác, sự truyền bá Nho giáo cùng việc phổ biến chữ Hán đã đưa Việt Nam tới một kho tàng tri thức xã hội và tự nhiên Với tất cả các ưu và nhược điểm, giáo dục Nho giáo luôn chiếm vị trí quan trọng trong giáo dục nước ta Bởi vậy, chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa giáo dục Nho giáo một cách có phê phán trên quan điểm lập trường giai cấp vô sản và để lại cho chúng ta những quan điểm giáo dục có giá trị bền vững

2 Xuất thân của Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh (tên lúc nhỏ là Nguyễn Sinh Cung, tên khi đi học là Nguyễn Tất Thành, trong nhiều năm hoạt động cách mạng trước đây lấy tên là Nguyễn Ái Quốc), sinh ngày 19/5/1890 ở làng Kim Liên, xã Nam Liên (nay là xã Kim Liên), huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An; mất ngày 02/9/1969 tại Hà Nội

2.1 Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất thân từ một gia đình Nho giáo.

Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ngày 19/5/1890 trong một gia đình nhà nho, nguồn gốc nông dân, ở làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, nơi có truyền thống đấu tranh kiên cường chống ách thống trị của thực dân phong kiến Hoàn cảnh xã hội

và sự giáo dục của gia đình đã ảnh hưởng sâu sắc đến Người ngay từ thời niên thiếu

Thân sinh của Hồ Chí Minh là cụ Nguyễn Sinh Sắc Cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc sinh năm Nhâm Tuất 1862 Cụ là con của ông Nguyễn Sinh Nhậm (người Thanh Chương-Nghệ An) và bà Hà Thị Hy làm nghề hát rong Theo gia phả họ Hà thì Ông tổ của nguyễn Sinh Nhậm là Nguyễn Bá Phổ ở làng Kim Liên (Làng Sen, Nam Đàn, Nghệ An), đến thế hệ thứ tư thì ông tộc trưởng Nguyễn Bá Dân xin đổi chữ lót họ thành Nguyễn Sinh Cụ phó bảng được nhà nho Hoàng Xuân Đường nhận làm con nuôi và cho ăn học hành tử tế và gả con gái đầu của mình là Hoàng Thị Loan làm vợ Năm 1891, ông vào Vinh thi tú tài nhưng không đỗ Năm 1894, ông tham dự kỳ thi Hương và đỗ cử nhân tại trường thi Nghệ An Năm sau (1895), ông Sắc vào Huế thi hội bị hỏng, đã xin đi làm hành tẩu bộ Hộ Ba năm sau, ông hỏng kỳ thi hội một lần nữa vào năm 1898

Có thể thấy người – cha cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc đã có những ảnh hưởng lớn nhất đến chủ tịch Hồ Chí Minh Ông Nguyễn Sinh Sắc lúc lên ba tuổi thì bố mất và sau đó

ba năm thì mẹ cũng qua đời và đến tuổi ba mươi bảy thì vợ tạ thế Cuộc đời ông chịu nhiều

cô đơn Từ đó sống cảnh gà trống nuôi con, đi đâu ông cũng mang cậu Nguyễn Sinh Cung theo cùng

Cậu bé Nguyễn Tất Thành cũng gặp khó khăn vất vả ngay từ lúc nhỏ 3 tuổi thì ông ngoại mất, 10 tuổi thì mẹ qua đời, và bố là người có nhiều ảnh hưởng sâu đậm nhất đối với cuộc sống và sự nghiệp của cậu Cách dạy của cụ Phó bảng với các con là dạy lòng nhân ái, đức tín nghĩa và sức trí dũng, lấy bản thân làm chủ, nhân quân làm gốc Cụ chăm lo bồi đắp cho con cái về đạo làm người, lấy cơ sở làm nền tảng luân lý truyền thống Việt Nam làm nền tảng

Trang 8

2.2 Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp xúc với Nho giáo từ rất sớm.

Có một điều hơi không bình thường là: Nho giáo đã từng bén duyên với Nguyễn Aí Quốc từ thời niên thiếu và theo mãi Hồ Chí Minh cho tới trọn đời Khi còn nhỏ, Nguyễn Sinh Cung thường theo cha đi gặp những người bạn Nho gia, bàn về Nho giáo, con đường tìm lại độc lập dân tộc Đặc biệt, sự gặp gỡ với Phan Bội Châu - nhà Nho lỗi lạc thời bấy giờ, tiên phong trong phong trào Đông Du - đã đem đến cho Nguyễn Ái Quốc cái nhìn sâu sắc hơn về Nho giáo và góp phần định hình tư tưởng cho cậu thiếu niên ấy

Chúng ta lại còn thấy: chính lúc thiếu niên Bác đã học chữ Hán trong đó có Nho giáo Bác học Nho qua những sách gì, đến trình độ nào, thật ra ngày nay chúng ta suy đoán nhiều hơn là biết thật cụ thể Điều có thể biết thật cụ thể về trình độ Hán của Bác là việc Bác làm thơ chữ Hán, mà “Nhật ký trong tù” là đỉnh cao nhất Nhưng đây là chuyện Hán học nói chung chứ chưa hẳn là Nho giáo Trong Nhật ký trong tù, ảnh hưởng của Nho giáo không phải không có nhưng là gián tiếp vì dù sao đây là tiếng nói của thơ chứ không là văn chính luận, rút cục lại, cái gọi là ảnh hưởng của Nho giáo đối với Bác mà ai cũng đã thấy chính là thể hiện rõ nhất trong nhiều bài viết của mình tính từ năm 1921 đến sau này mà có người đã tính được là hơn 100 trường hợp, trong đó lời Khổng Mạnh chiếm nhiều nhất

Bên cạnh đó, còn có ý kiến cho rằng: “Như vậy là thái độ của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đối với Khổng Khâu và Nho giáo có sự phát triển qua các chặng thời gian nhưng

rõ ràng nhất quán một quan điểm lịch sử đúng đắn, khẳng định đúng mức với lòng tôn kính những giá trị chân chính mà người xưa đã đạt được Đương nhiên là trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã triệt để phê phán bác bỏ ý thức Nho giáo phong kiến phản tiến hóa”

III Sự ảnh hưởng của Nho giáo tới sự hình thành và phát triển Tư tưởng Hồ

Chí Minh

1 Biểu hiện của sự ảnh hưởng của Nho giáo trong Tư tưởng Hồ Chí Minh

Sự ảnh hưởng của Nho giáo đối với tư tưởng Hồ Chí Minh được biểu hiện qua sự kế thừa và phát triển tích cực đạo đức Nho giáo trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam, xây dựng nền đạo đức mới, đạo đức cách mạng đáp ứng yêu cầu thực tiễn giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước trong đó tiêu biểu là sự kế thừa và vận dụng ở 2 lĩnh vực:

1.1 Văn hóa

Từng được UNESCO ghi nhận là “Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất Việt Nam”, Hồ Chủ tịch đã có những đóng góp xuất sắc trong việc sáng tạo văn hóa văn nghệ, xác lập hệ thống quan điểm về văn hóa và xây dựng nền văn hóa mới ở Việt Nam Nền văn hóa mà Hồ Chí Minh hướng tới là nền văn hóa có sự kết hợp giữa những truyền thống tốt đẹp của dân tộc với sự phát triển, nâng cao của tinh hoa văn hóa nhân loại, thấm nhuần chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế chân chính

Với vốn hiểu biết uyên thâm sâu sắc về những giáo lý trong thuyết Khổng Tử, ngay

từ sớm, Hồ Chí Minh đã nhận rõ tầm quan trọng của việc cải tạo và xây dựng văn hóa Việt Nam khi đặt trong mối tương quan với các lĩnh vực khác của xã hội (kinh tế, chính trị, đạo

Trang 9

đức, ) Dựa trên mối quan hệ hỗ trợ lẫn nhau, Bác cho rằng, văn hóa không thể đứng ngoài mà phải ở trong chính trị, phải phục vụ nhiệm vụ chính trị, đồng thời mọi hoạt động của tổ chức và các nhà chính trị phải có hàm lượng văn hóa cao Với kinh tế, văn hóa đóng vai trò là kiến trúc thượng tầng, văn hóa không phụ thuộc hoàn toàn vào kinh tế mà có vai trò tác động tích cực trở lại kinh tế Về mặt xã hội, có giải phóng xã hội thì văn hóa mới có điều kiện phát triển Đặc biệt, Người nhân mạnh rằng phải biết giữ gìn bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại “dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam” Phải biết giữ gìn truyền thống tốt đẹp của cha ông và tiếp thu có chọn lọc tinh hóa văn hóa nhân loại

Bên cạnh đó, quan điểm của người về văn hóa là rất rõ ràng Đầu tiên, Người nhấn mạnh, phải biến văn hóa thành mục tiêu động lực của sự nghiệp cách mạng Văn hóa chính

là khát vọng sống của nhân dân về các giá trị chân, thiện, mỹ, về 1 xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, không còn các tệ nạn xã hội Khi bàn về các lĩnh vực văn hóa cụ thể trong

tư tưởng Hồ Chí Minh, động lực có thể nhận thức ở các phương diện: văn hóa chính trị, văn hóa văn nghệ, văn hóa giáo dục và văn hóa đạo đức Đồng thời, văn hóa cũng là 1 mặt trận bởi tính độc lập bởi mối quan hệ độc lập với các lĩnh vực xã hội khác Mặt trận văn hóa là cuộc chiến đấu trên lĩnh vực văn hóa, với các chiến sĩ nghệ thuật trong sự nghiệp “phò chính trừ tà”, biết phê bình nghiêm khắc những thói hư tật xấu, ca ngợi gương người tốt việc tốt nhằm giáo dục con cháu đời sau Và trên tất cả, văn hóa phục vụ đời sống nhân dân,

nó phản ánh khát vọng hạnh phúc của nhân dân

Ứng với từng thời kì, giai đoạn lịch sử, quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng nền văn hóa mới lại có những thay đổi khác nhau, tích cực Nhưng tựu chung lại, quan điểm của người là phải xây dựng một nền văn hóa toàn diện, giữ gìn được cốt cách văn hóa dân tộc , bảo đảm tính khoa học, tiến bộ, nhân văn

1.2 Đạo đức

Tư tưởng Hồ Chí Minh đã kế thừa, sử dụng nhiều phạm trù, mệnh đề đạo đức có giá trị và sức sống của Nho giáo, đồng thời đã bổ sung, phát triển những nội dung mới, phù hợp với thời đại

Một số phạm trù đạo đức của Nho giáo được Hồ Chí Minh sử dụng đó là Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm, Trung, Hiếu Việc Hồ Chí Minh cải tạo các phạm trù của Nho giáo thể hiện rõ nhất ở hai phạm trù Trung và Hiếu Hồ Chí Minh viết: “Đạo đức, ngày trước thì chỉ trung với vua, hiếu với cha mẹ Ngày nay, thời đại mới, đạo đức cũng phải mới Phải trung với nước Phải hiếu với toàn dân, với đồng bào” Có thể thấy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nếu chữ Trung mang một nội hàm hoàn toàn mới, từ Trung với vua trở thành Trung với nước, thì chữ Hiếu lại được mở rộng trên cơ sở phổ quát hoá đạo đức cá nhân, trong đó gốc của Hiếu với Dân phải là Hiếu với cha mẹ Có thể thấy, xuất phát từ Nho giáo nhưng

Hồ Chí Minh đã khai thác và phát triển phạm trù Trung - Hiếu với sự đề cao những phẩm chất của những người cách mạng, những người cộng sản trong thời đại mới

Về đức trị, trong Nho giáo, Đức trị là học thuyết chính trị do Khổng Tử (551- 479 TCN) khởi xướng, có nghĩa “Chính trị là đạo đức” Sinh ra trong một gia đình nhà Nho yêu nước, thấm nhuần tư tưởng Nho giáo lấy “dân vi bang bản” (tức coi dân là gốc nước), “dân

vi quí, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” (tức dân là quý nhất, thứ nhì là xã tắc, cuối cùng mới

Trang 10

đến vua), Hồ Chí Minh đã tìm thấy trong học thuyết “Đức trị” những yếu tố tích cực và tiếp nhận với tinh thần rộng mở, không định kiến, không cố chấp Đồng thời, Người vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lênin để mở rộng và nâng tầm ý nghĩa của quan điểm “Đức trị” cho phù hợp với những yêu cầu của thực tiễn cách mạng Việt Nam

“Đức trị” trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền là một nhà

nước: do Đảng chân chính và cách mạng lãnh đạo, một đảng là đạo đức, là văn minh,

“Ngoài lợi ích của nhân dân và của giai cấp công nhân, Đảng ta không có lợi ích nào khác”

Đồng thời, là nhà nước có những con người thấm nhuần đạo đức xã hội chủ nghĩa, hết lòng

hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân “Đức trị” trong tư tưởng Hồ Chí Minh còn mang hàm ý “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”; đồng thời ra sức nêu gương, tăng cường giáo dục, rèn luyện đạo đức mới cho cán bộ, đảng viên, cho nhân dân, để hình thành con người mới, phù hợp với xã hội mới

Thực tiễn cho thấy, nền chính trị mà Hồ Chí Minh xây dựng là một nền chính trị đạo đức Đạo đức cao nhất mà Người đưa ra là “đạo đức cách mạng” Mục tiêu mà suốt đời Người đeo đuổi, phấn đấu là: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm

ăn áo mặc, ai cũng được học hành” Như vậy, tư tưởng đạo đức và tư tưởng về chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh không tách rời nhau mà thống nhất với nhau Các phạm trù của học thuyết “Đức trị” đã được Hồ Chí Minh tiếp thu và phát triển, thấm đượm bản chất giai cấp, tính nhân dân và tính chiến đấu để trở thành những phạm trù “Đạo đức cách mạng” Nội dung của “Đạo đức cách mạng” Hồ Chí Minh có sự khác biệt về chất so với đạo đức Nho giáo phong kiến Người khẳng định: “…Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu Nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”

Người nêu rõ: “Đạo đức cách mạng là tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân” Trong bài nói chuyện với Lớp bổ túc cán bộ quân sự Trung ương tổ chức tháng 10/1947, Người căn dặn: “Muốn có đạo đức cách mạng phải có 5 điều sau đây: Trí Tín Nhân -Dũng - Liêm” “Ngày xưa, dưới chế độ phong kiến, những người làm quan không đục khoét dân, thì gọi là LIÊM, chữ liêm ấy chỉ có nghĩa hẹp Cũng như ngày xưa trung là trung với vua Hiếu là hiếu với cha mẹ mình thôi Ngày nay, nước ta là Dân chủ Cộng hoà, chữ LIÊM

có nghĩa rộng hơn; là mọi người đều phải LIÊM Cũng như trung là trung với Tổ quốc, hiếu

là hiếu với Nhân dân” Người đã nhiều lần đề cập tới yêu cầu của người cán bộ, đảng viên là: “Người cán bộ cách mạng phải có đạo đức cách mạng Phải giữ vững đạo đức cách mạng mới là người cán bộ cách mạng chân chính Đạo đức cách mạng có thể nói tóm tắt là: Nhận rõ phải, trái Giữ vững lập trường Tận trung với nước Tận hiếu với dân Mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng, hay là không” Như vậy, các tiêu chuẩn đạo đức cách mạng của Hồ Chí Minh có nguồn gốc từ “Đức trị” trong Nho giáo, song đã được Người vận dụng, sáng tạo, bổ sung phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tiễn của đất nước và con người Việt Nam So với lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm của Hồ Chí Minh về “đạo đức cách mạng”, về “Đức trị” thể hiện tư duy độc lập, sáng tạo, có sự kế thừa và phát triển trên tinh thần khoa học, trên cơ sở Nho

Ngày đăng: 17/10/2021, 14:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. Khái quát về Nho Giáo. Truy cập ngày 5/9/2021 từhttps://hanhtrangvaodoi1983.blogspot.com/2011/03/chuong-i-khai-quat-ve-nho-giao.html10. PGS.TS Nguyễn Xuân Trung. 2018. Vấn đề "Đức trị" và "Pháp trị" trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Truy cập ngày 5/9/2021 từ https://tuyengiaohungyen.vn/bai-viet/van-de-duc-tri-va-phap-tri-trong-tu-tuong-ho-chi-minh-ve-xay-dung-nha-nuoc-phap-quyen-o-viet-nam.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đức trị" và "Pháp trị
11. “Phạm trù trung - hiếu trong triết lý phương Đông và tư tưởng hồ Chí Minh với vấn đề giáo dục đạo đức cách mạng hiện nay” - Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam.(https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/c-mac-angghen-lenin-ho-chi-minh/ho-chi-minh/nghien-cuu-hoc-tap-tu-tuong/pham-tru-trung-hieu-trong-triet-ly-phuong-dong-va-tu-tuong-ho-chi-minh-voi-van-de-giao-duc-dao-duc-cach-mang-1952) - Truy cập ngày 5/9/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phạm trù trung - hiếu trong triết lý phương Đông và tư tưởng hồ Chí Minh với vấn đềgiáo dục đạo đức cách mạng hiện nay” -
5. 2018. Tiểu sử Chủ tịch Hồ Chí Minh. Truy cập ngày 5/9/2021 từ https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/c-mac-angghen-lenin-ho-chi-minh/ho-chi-minh/tieu-su-cuoc-doi-va-su-nghiep/tieu-su-chu-tich-ho-chi-minh-52 Link
6. Hồng Vân. 2021. Thân sinh chủ tịch Hồ Chí Minh là ai?. Truy cập ngày 5/9/2021 từ https://bacbaphi.com.vn/la-ai/cu-pho-bang-nguyen-sinh-sac/ Link
8. Lê Thị Chiên. 2019. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau theo di chúc Hồ Chí Minh.Truy cập ngày 5/9/2021 từhttp://doanthanhnien.vn/tin-tuc/50-nam-thuc-hien-di-chuc-chu-tich-ho-chi-minh/boi-duong-the-he-cach-mang-cho-doi-sau-theo-di-chuc-ho-chi-minh Link
1. Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh dành cho bậc đại học - không chuyên ngành lý luận chính trị (Mạch Quang Thắng chủ biên) Khác
2. ThS.Phan Văn Thuận. 2017. Bối cảnh chính trị - xã hội Việt Nam và cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX trước khi Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước; Ý chí và quyết tâm đi tìm đường cứu nước của Người. Tọa đàm kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước Trường Chính trị tỉnh Bến Tre Khác
3. Lê Trung Khoa. 2014. Về giáo dục Nho giáo ở Việt Nam từ thế kỷ I đến thế kỷ XIX.Thông tin Khoa học xã hội, số 2.2014 Khác
4. Lê Thị Lan. 2015. Các đặc trưng của tư tưởng triết học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX.Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 8(93).2015 Khác
7. Phan Văn Các. Hồ Chí Minh với Nho giáo, in trong sách “Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá. NXB KHXH HN 1990 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w