Mở Đầu Tính cấp thiết của đề tài: Nho giáo là một hệ thống tư tưởng về triết học xã hội, triết học giáo dục, triết học chính trị và đạo đức, ảnh hưởng sâu sắc đến các nước Đông Á : Việ
Trang 1Mở Đầu Tính cấp thiết của đề tài:
Nho giáo là một hệ thống tư tưởng về triết học xã hội, triết học giáo dục, triết học chính trị và đạo đức, ảnh hưởng sâu sắc đến các nước Đông Á : Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản, là tiêu chuẩn đạo đức cơ sở của các nước Đông Á Đến thế kỷ 20, với sự sụp
đổ của chế độ quân chủ, Nho giáo mất vị thế độc tôn, thậm chí bị bài trừ ở ngay tại Trung Quốc Đến đầu thế kỷ 21, đứng trước sự
suy thoái của đạo đức xã hội, những giá trị của Nho giáo về tu dưỡng, giáo dục con người dần được coi trọng trở lại và được thúc đẩy thành phong trào tại các nước Đông
Á Đó là lý do tôi chọn đề tài này
Mục đích và nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Mục đích : Đánh giá ảnh hưởng của Nho giáo đối với giáo dục đạo đức Việt Nam
hiện nay,
Nhiệm vụ : nghiên cứu lịch sử Nho giáo
tư tưởng về đạo đức của Nho giáo, ảnh hưởng Nho giáo ở Việt Nam
Đối tượng : Nho giáo, và Nho giáo ở Việt Nam
Phạm vi : Vấn đề đạo đức trong Nho giáo
Ý nghĩa và lý luận thực tiễn :
Từ sự đánh giá ảnh hưởng của Nho giáo đối với giáo dục đạo đức Việt Nam hiện qnay, có thể đề ra các giải pháp để giáo dục đạo đức phù hợp với tình hình hiện tại của Việt Nam
Kết cấu đề tài :
Lịch sử Nho giáo Trung Hoa
Chuẩn mực đạo đức trong Nho giáo
Ảnh hưởng của Nho giáo đến Việt Nam
Ảnh hưởng của Nho giáo trong giáo dục đạo đức Việt Nam hiện nay
MỤC LỤC
CHƯƠNG I : NHO GIÁO
1.1 Khái quát về Nho giáo
Trang 21.1.1 Lời giảng của Khổng Tử
1.1.2 Triển khai từ Khổng Tử :
1.1.2.1 Mạnh Tử 1.1.2.2 Tuân Tử 1.1.2.3 Tân Nho giáo
CHƯƠNG II: ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO VỚI VIỆT NAM 2.1 Nho
giáo đến Việt Nam
2.2 Ảnh hưởng của Nho giáo đối với Việt Nam
2.2.1 Những ảnh hưởng tích cực của đạo đức Nho giáo đối với Việt Nam
2.2.2 Những ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức Nho giáo đối với Việt Nam
CHƯƠNG III: ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO ĐẾN GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
CHƯƠNG I : NHO GIÁO
1.1 Khái quát về Nho giáo
1.1.1 Lời giảng của Khổng Tử
Mọi học thuyết triết học đều được hình thành từ một sự biến cố nào đó trong lịch
sử đối với cá nhân hoặc xã hội đã tác động sâu sắc đến triết gia, ví như Platon vì cái chết của người thầy Socrates và cuộc biến động xã hội ở thành Athen mà sau đó đã đi khắp nơi và cho ra đời tác phẩm Cộng Hòa nổi tiếng, hay Karl Mark sống trong thời kì bùng nổ của chủ nghĩa đế quốc giai cấp vô sản bị áp bức đàn áp, từ đó ông đã cho ra Triết học Mark và được Lê nin bổ
sung Nho giáo cũng được hình thành như vậy, ở phương Đông xa xôi, Khổng Khâu trăn trở trước sự biến đổi của xã hội cuối nhà Chu, khi mà em giết anh, con giết cha tranh giành ngôi báu, vua mất uy, các nước chư hầu đánh nhau liên miên, dân chúng lầm than khổ sở, xã hội loạn lạc Trước bối cảnh đó, ông lại nhớ về thời vua Nghiêu vua Thuấn, và dựa trên tư tưởng của Chu Công phát triển lên và hệ thống hóa nó trở thành một học thuyết chính trị, tôn giáo, giáo dục, đạo đức được gọi là Nho giáo Theo Will Durant trong cuốn Lịch sử văn minh Trung Hoa, đã nêu nhận xét rằng “
Ấn Độ là xứ của siêu hình học và tôn giáo Trung Hoa là xứ của triết lý nhân bản, không quan tâm tới thần học.” Quả thực, bởi vì sự biến động xã hội đã nói ở trên, nỗ lực của Nho giáo là đưa ra một phương pháp, một cách thức để con người sống “tốt” với nhau trong xã hội Nho giáo không đặt nặng vấn đề siêu hình và không đòi hỏi phải
có đức tin hay sự thờ phượng, tận hiến cho một sức mạnh ngoại tại để mong được sự cứu rỗi như định nghĩa thông thường về tôn giáo Nho giáo, chữ giáo ở đây không
Trang 3mang nghĩa tôn giáo, mà chữ giáo, xét theo nguyên ngữ, với ý nghĩa là giáo hóa, dạy bảo cách sống sao cho phải đạo làm người
Tư tưởng chính trong học thuyết của Khổng Tử, mà ông đêm hết sở học, lý tưởng
và năng lực để cổ vũ cho, đó là thuyết “Chính danh” Bởi vì ông cho rằng nguyên nhân loạn lạc xã hội là do sự không chính danh, vua không hành xử đúng như những gì vua phải làm, con không làm đúng đạo làm con, anh em không cư xử như nghĩa anh em… Ông dùng thuyết “Chính danh” làm cơ sở thiết lập trật tự tốt lành cho xã hội, đồng thời quan tâm tới “Nhân” trong những gì liên hệ tới việc làm người đích thực Kết quả của những suy tưởng của ông về “Nhân” là sự hình thành một chuỗi các nghi thức gọi
là “Lễ”, “Lễ” được coi là cái khung cho thuyết “Chính danh”, để đảm bảo sự chính danh thì phải tuân theo “Lễ”, không theo “Lễ” thì không còn chính danh, mà danh không chính thì ngôn bất thuận, không đáng tồn tại trong xã hội
Ở đây ta thấy đặc điểm chủ chốt trong nỗ lực cảu Khổng Tử là tìm cách đề ra các qui tắc chi phối hành động chân chính của con người; những quy tắc không đặt cơ sở trên việc đánh giá tình huống theo quan điểm thiết thực duy lợi chủ nghĩa Nếu bạn muốn làm người quân tử, bạn phải nhất quyết thể hiện được điều bạn xem là chính đáng, bất
chấp mọi hệ quả gây ra cho bản thân bạn
Nhân :
Theo Luận ngữ, là sách thu thập các lời giảng đạo đức để tu nhân xử thế, Nhân là một phẩm tính đạo dức vừa để tu dưỡng bản thân, vừa để thương yêu tha nhân, nói theo thuật ngữ Nho giáo, Nhân là để xử kỷ và tiếp vật Theo Khổng Tử, Nhân là tâm điểm của đạo đức từ đó phát sinh cũng như hội tụ các đức khác Nhân là khởi đầu và tột điểm của đạo; chí thiện là Nhân Như thế đức nhân có tính toàn bộ và là một minh triết
lý tưởng
Lễ
Vào trước thời Xuân Thu đã có nội hàm nghi thức lễ tế, đồng thời mang ý nghĩa những luật tắc có tính phong tục, tập quán được xã hội thừa nhận Sang tới Khổng Tử,
nó còn bao hàm quyền hành của người trị nước và cách tiết chế hành vi của người dân Đối với Khổng Tử, tác dụng cảu Lễ nhắm tới bốn chủ đích :
1 Hàm dưỡng tính tình để tình cảm được trọng hậu làm gốc cho đạo nhân;
2 Giữ tình cảm sao cho trung dung;
3 Xác định phân mình lẽ phải trái, tình thân sơ, trật tự trên dưới; 4 Tiết
chế những thường tình dung tục của con người
Khổng Tử cho rằng chỉ có cách tuân giữ Lễ như những luật tắc giao tế xã hội mới
có khả năng thành tựu Nhân Như thế, ông đi theo truyền thống văn học đã có từ thời
sơ Chu, thấm nhuần trong các bộ kinh mà ông làm cơ sở cho lời giảng của mình Một cách căn bản, chính nghi lễ và nghi thức làm cho cuộc sống quân bình
Trang 4Lễ ràng buộc mọi người Việc thực thi Lễ sẽ đặt mọi người hành xử đúng theo vị trí
và chức năng của mình
Lễ làm bền vũng nền văn hiến của một nước
Chính danh
Nhưng bạn chỉ có thể theo Lễ nếu bạn biết đúng vị trí của mình trong bản lược đồ phổ quát các sự vật Điều này liên quan tới chủ trương chính danh của, một học thuyết quan trọng của Khổng Tử, song hành với Nhân Chính danh vừa là một lập luận có tính triets học về chỗ đứng của mỗi người trong xã hội,
trong chính trị , vừa là lời cảnh báo về việc con người có khả năng hiểu sai lạc các khái niệm Người quân tử muốn “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”, phải nghiêm chỉnh theo thuyết Chính danh
Không những giúp cho việc suy nghĩ chính xác và hành xử đúng dắn theo “định phận” của mỗi cá nhân, thuyết Chính danh còn có công dụng cực kì hữu hiệu trong việc trị quốc an dân
1.1.2 Triển khai từ Khổng Tử :
Sau Khổng Tử, có hai nhà tư tưởng đóng vai trò quan trọng đặc biệt trong quá trình phát triển tư tưởng Nho giáo Mạnh Tử là người trau chuốt thêm ý tưởng về Nhân, khai thông những bế tắc trong tư tưởng của Khổng Tử về vũ trụ luận, siêu hình học và đặc biệt, chính trị học Tuân Tử trình bày tỉ mỉ và cặn kẽ thêm ý tưởng về Lễ của Khổng
Tử
1.1.2.1 Mạnh Tử
a) Người vốn tính thiện
Mạnh Tử xem xét tới điều không được Khổng Tử thảo luận cặn kẽ, đó là bản tính và định mệnh của con người Học thuyết Nhân chính của ông đặt cơ sở triết học trên khái niệm rằng con người “vốn tính thiện” Ông tin rằng mọi người sinh ra với thiện tính, chỉ sau đó mới học làm điều ác Trời sinh trong mọi người có sẵn mối thiện; nội dung chủ yếu cảu mối thiện ấy gồm :
̶̶Lòng trắc ẩn một cách tự nhiên;
̶̶Cảm giác dị ứng với cái ác;
̶̶Tính khiêm nhượng;
̶̶Biết phân biệt phải trái;
Trang 5Đối với Mạnh Tử, tâm điểm của tu dưỡng và hành xử là phát huy tính thiện bẩm sinh ấy: “Giữ gìn tâm trí và nuôi dưỡng thiện là các ta phục vụ trời”
Tuy thiện là cốt tính của con người, nhưng theo Mạnh Tử, nó cũng cần được nuôi dưỡng Bởi cá tính con người bị chi phối bởi tánh và tâm, nhưng mệnh quyết định chính xác những gì sẽ xảy tới Con người không thể thay đội vận mệnh của nó
vì đó là cái nằm trong bàn tay của trời Tuy thế, trời sinh tâm con người có đủ các thuộc tính đạo đức : Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí;
chúng không phải do bên ngoài rèn đúc nên ta, ta đã có sẵn vậy; ta cỉ cần tu dưỡng
để phát huy
Mạnh Tử cho rằng, đạo đức con người sinh cao thấp là do sự chi phối bới hoàn cảnh xã hội, nếu được giáo hóa, phát huy tính thiện thì người nào cũng có thể trở thành bậc thánh nhân
Nhận xét: Ở đây ta thấy, Mạnh Tử đã đưa ra ý tưởng “Nhân chi sơ, tính bản
thiện” làm cốt lõi, đạo đức con người do môi trường chi phối, do vậy chỉ cần tạo môi trường xã hội tốt, và ren luyện tu dưỡng thì con người có thể hướng thiện trở lại Từ khái niệm Nhân và Lễ của Khổng Tử, Mạnh Tử đề ra thêm khái niệm Nghĩa
và Trí
Mạnh Tử cũng nhắc đến vấn đề mệnh trời hay thiên mệnh, nhưng lại không cứng nhắc, ví dụ như đối với Trụ Vương, ông cho rằng loại vua bạo chúa như vua Trụ, có thể giết, lúc đó thiên mệnh thiên tử không còn nằm trên vủa Trụ nữa rồi, giết Trụ Vương cũng như giết một tên ác ôn bình thường mà thôi
1.1.2.2 Tuân Tử
a) Người vốn tính ác
Trong khi Mạnh Tử cho rằng “Nhân chi sơ, tính bản thiện” thì Tuân Tử lại chắc chắn rằng “ Nhân chi tính ác, kỳ thiện giả ngụy dã”, tức là người vốn tính ác, những điều thiện là do con người đặt ra Nếu đễ tính ác ấy phát triển tự nhiên, sẽ dẫn tới hỗn loạn và tranh giành, thế nên phải vừa tăng cường lễ nghĩa giáo hóa, vừa dùng quy định đạo đức xã hội để sửa đổi nó, để con người hướng tới cái tốt đẹp, cái thiện
b) Con người là tác nhân của xã hội
Tuân Tử tìm thấy trong quá trình tự nhiên những đường lối chỉ đạo cho con người, vì giới tự nhiên vận động và biến hóa của nó hoàn toàn khách quan : “Trời vận hành theo quy luật thường chứ không vì một người nào cả” Đạo trời chẳng liên quan gì tới đạo người; xã hội trị hay loạn đều do bởi con người Điều này khác với Mạnh Tử cho rằng mệnh nằm trong tay trời
Trang 6Cho rằng bản tính con người là ác, Tuân Tử đề ra phải thuần hóa bằng lễ giáo Như vậy, những nghi thức tới sơ Chu, đối với Khổng Tử là thước đo hạnh kiểm, nhưng đối với Tuân Tử, ông nhìn Lễ như phương cách kiểm soát cuộc sống của những kẻ chưa được thuần hóa đầy đủ để trở nên thiện hảo Vẫn theo đuổi phương thức Nhân trị của Khổng Tử, nhưng Tuân Tử sử dụng Lễ là công cụ trợ huấn, kiểm soát xã hội
1.1.2.3 Tân Nho giáo
Ba triết gia thời Tiên Tần là Khổng Tử, Mạnh Tử và Tuân Từ hình thành căn bản tư tưởng thời kì đầu của Nho giáo, sau này được phát triển biến thể, và nâng cấp thành quốc giáo của trung Hoa
Trong ba thế khỉ cuối trước công nguyên, Nho giáo chấp nhận các nghi lễ Trong ý nghĩa ấy, nó bắt đầu mang chiều hướng ngày càng giống với một tôn giáo hơn là một triết học đạo đức và xã hội như ý định nguyên thủy của những người kiến lập nó Đồng thời tư tưởng Nho giáo cũng bị ảnh hưởng bới lối mô tả về sự quân bình trong tự nhiên, mang dạng thức Âm Dương của văn hóa Trung Hoa đã hình thành từ rất sớm
Nhận thức được giá trị trong việc cai trị và bình ổn thiên hạ của Nho giáo, Đổng Trọng Thư, đã bổ sung và chỉnh sửa lại Nho giáo, được gọi là Hán Nho và kiến nghị với Hán Vũ đế lấy Nho giáo làm quốc giáo, được xoay quanh Hán Nho
Những cải biên của Đổng Trọng Thư gồm có, ông lấy ra ba giềng mối quân thần, phu phụ, phụ tử trong Ngũ luân, đặt tên làm Tam Cương Thêm Tín vào trong Nhân,
Lễ, Nghĩa, Trí, để trở thành Ngũ thường, năm phẩm chất chuẩn mực và thường trực của Nho gia Ngũ thường là thước đo đạo đức cá nhân, Tam cương là luân lý xã hội phải tuân theo
Như vậy Nho giáo đã được bậc quân vương sử dụng như mong muốn của Khổng
Tử, tuy nhiên, nó lại bị cải biên sửa đổi để mang tính bảo vệ giai cấp trị vì nhiều hơn là mang đến một xã hội tốt đẹp, và cũng gạt bỏ đi tính đấu tranh của Mạnh Tử, hôn quân
có thể giết
Các triều đại sau cũng phát triển Nho giáo đều có : Tống Nho, Nguyên Nho, Minh Nho, nhưng cũng đều dựa vào Nho giáo của Hán Nho là chính mà không tiến tới điều
mà Khổng Tử mong muốn, nên xã hội bị kiềm hãm bởi Lễ, trở nên chậm phát triển
1.2 Tư tưởng Đạo Đức trong Nho giáo
Bàn về tư tưởng Đạo Đức trong Nho giáo, ta lấy năm đức hạnh chủ yếu được gọi là Ngũ thường, và năm mối liên hệ là Ngũ Luân để phân tích
Ngũ thường
Nhân :
Trang 7Đạo Nho là đạo Nhân Nhân là muốn làm cho kẻ khác điều ta muoonslamf cho chính ta; từ đó, tiến tới việc tán thưởng ngủ cầu cảu kẻ khác Mạnh Tử cho rằng lòng vị tha phải hoàn toàn vô vị lợi : bạn nên làm điều phải vị tự thân nó chứ không phải vì tiếng tốt và được khen ngợi
Nghĩa:
Nghĩa nghĩa đenlà thích hợp, hành động thích hợp với Nhân, hợp với đạo lý Nho giáo, đối lập với lợi Nghĩa tức là thể hiện Nhân bằng hành động Nho giáo nguyên thủy xem Nghĩa là tiêu chuản của mọi hành động Nho giáo chuyên chú theo điều nghĩa không lợi lộc, chỉ vì muốn sáng đạo mà không tiếc sức
Lễ Giữ đúng mọi lễ nghi làm nên lối sống thiện hảo của con người Trí
Óc khôn ngoan, sáng suốt Đánh giá đúng và sai, biết tiên liệu, tính toán đề hành động hợp đạo lý
Tín
Giữ dúng hẹn, thực hiện đúng những gì mình đã hứa, xứng đáng với lòng tin tưởng của người khác
Trong chương Cáo tử thượng, Mạnh Tử tóm kết :
“Lòng trắc ẩn, đó là Nhân; lòng hổ thẹn và biết ghét điều xấu, đó là Nghĩa; lòng cung kính, đó là Lễ; biết phân biệt phải trái đúng sai, đó là Trí Nhân, Nghĩa,
Lễ, Trí, không phải từ bên ngoài đúc nên, ta vốn có vậy.”
Ngũ luân
Ngũ luân tức là năm mối quan hệ trong xã hội và được khái quát cách hành xử giữa những mối quan hệ đó như thế nào mới được gọi là hợp Lễ
Ngũ luân của Mạnh Tử đề ra gồm có
- Phụ tử hữu thân : ý nghĩa cha con phải yêu thương, có tình thân, con phải tôn trọng cha
- Quân thần hữu nghĩa : Vua tôi phải có nghĩa vua tôi, vua hành xử đúng bổn phận của vua, bầy tôi phải làm đúng bổn phận của mình
- Phu thê hữu biệt : Trong đạo vợ chồng có sự phân biệt nam/nữ phân chia công việc
- Trưởng ấu hữu tự : Anh em phải có thứ tự trước sau
- Bằng hữu hữu tín : Bạn bè phải có lòng tín nhiệm
Trang 8Các mối liên hệ và quy định trên đều có tính hai chiều, ví như vua mà không làm tròn bổn phận là vua mà ăn chơi vô độ, bỏ bê việc nước, thì vua đó không còn là vua nữa, vị vua đó đã mất đi chính danh, mất đi mối liên hệ quân-thần, nên thần không có bổn phận
trung nữa, lúc này giết vua đối với thần cũng như một kẻ bình thường Như Mạnh Tử nói, ta chỉ biết vua Chu giết một người tên Trụ chứ không biết có Trụ vương nào cả
Tuy nhiên đây chính là điểm khiến cho các vua và chư hầu các nước thời Xuân Thu - Chiến Quốc không chấp nhận Nho giáo Cho đến khi Đổng Trọng Thư, rút Ngũ luân lại thành Tam Cương (quân - thần, cha-con, vợ - chồng) và giới hạn lại tính một chiều để bảo vệ giai cấp thống trị :
Quan hệ vua - tôi : là quan hệ phục tùng
Quan hệ cha - con : lấy Từ và Hiếu để duy trì mối quan hệ
Quan hệ vợ - chồng : chồng có bổn phận - vợ vâng lời làm thước đo đạo đức trong quan hệ vợ chồng
Như vậy để sử dụng Nho giáo làm công cụ cai trị và quản lý đất nước, Đổng Trọng Thư đã bóp méo đi mối liên hệ trong xã hội theo hướng có lợi và tập trung bảo vệ quyền lợi của vua, tập trung quyền lợi vào vua để từ thời Hán Vũ đế, Trung Hoa từ nước Phong Kiến trở thành nước Quân Chủ chuyên chế
CHƯƠNG II ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO VỚI VIỆT NAM 2.1
Nho giáo đến Việt Nam
Năm 179 TCN, Triệu Đà đánh chiếm Âu Lạc, và một số khu vực phía Nam, trở thành vua của nước Nam Việt, tuy nhiên, Triệu Đà lại sống với phong tục người dân Bách Việt, xem mình như người Bách Việt Cho đến khi Hán Vũ đế tiến hành cuộc mở mang bờ cõi quy mô lớn, đánh đổ nhà Triệu thì nước ta chính thức bị thuộc vào Trung Hoa Tuy nhiên thời điểm ban đầu, Nho giáo chưa được truyền vào, chưa có sự chèn ép
về văn hóa, vẫn còn những Lạc Tướng - Lạc Hầu và người dân sống với phong tục Nam
Sau cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng năm 40, và cuộc cải tổ của Mã Viện thì Trung Hoa mới chính thức thúc đẩy sử đồng hóa về mặt văn hóa đối với nước ta Trong quá trình đồng hóa đó, Nho giáo cũng được du nhập vào, người đầu tiên giảng về Nho giáo cho người Việt là Sĩ Nhiếp, tuy nhiên chỉ dành cho một số bộ phận nhỏ, bởi do nguồn tư liệu ít, số lượng người để học thì không nhiều
Trang 9Cũng vào thời điểm đó, Phật giáo cũng đã du nhập vào nước ta, và có vẻ phù hợp hơn với văn hóa người Việt, nên đã dễ dàng phát triển mạnh và chiếm vị thế quan trọng đối với người Việt Bên cạnh đó, lối sống thờ cúng ông bà, với tín ngưỡng phồn thực vốn
có của người Việt, lại dễ hòa hợp với Đạo giáo đến từ Trung Hoa hơn Cho nên Nho giáo hoàn toàn không thể cạnh tranh lại trong thời điểm này
Cho đến khi giành được độc lập sau chiến thắng của Ngô Quyền, năm 938, cho đến thời Lý- Trần nước ta vẫn đề cao Phật giáo là quốc giáo, tuy nhiên Nho giáo trong thời
kỳ này cũng có sự phát triển vượt bậc Từ thời Lý, bắt đầu thời kỳ tạm ổn của xã hội, chính quyền nhận thấy sự ưu việt của Nho giáo trong việc cai trị và quản lý đất nước nên đã thúc đẩy Nho giáo phát triển , văn miếu các nơi được dựng lên, người học Nho càng nhiều, tổ chức thi cử, tuyển chọn người tài đều thông qua Nho giáo
Đến thời Lê sơ, là thời kì cực thịnh của Nho giáo, phát triển cực kì, Nguyễn Trãi là nhà Nho tiêu biểu Thời ấy, người người học Nho, nhà nhà học Nho, hình thành nên một tầng lớp gọi là Sĩ Phu, có sức ảnh hưởng nhất định đến chính trị xã hội Từ đó tư tưởng Nho giáo trở thành nòng cốt xuyên suốt trong quá trình lịch sử phong kiến tập quyền ở nước ta
2.2 Ảnh hưởng của Nho giáo đối với Việt Nam
Để xét ảnh hưởng của Nho giáo, trước tiên ta cần phải hiểu rõ, Nho giáo du nhập vào Việt Nam không phải là Nho giáo nguyên thủy của Khổng Mạnh, mà tư tưởng Hán Nho do Đổng Trọng Thư cải biên và đề xướng Vì vậy nó có những hạn chế và khiếm khuyết so với đạo Nho của Khổng Mạnh
Nho giáo ở Việt Nam sử dụng gần như nguyên mẫu của Hán Nho, sau này là Tống Nho, (có lẽ không có đủ tài liệu để nghiên cứu về đạo Khổng Mạnh nguyên thủy hoặc cũng có thể do chiến tranh, như lần nhà Minh sang xâm lược, đốt thu sách, tàn phá văn hóa nặng nề, nên thất lạc, ta không thể biết), lấy Tam cương Ngũ thường làm luân lý cho xã hội, là thước đo đánh giá đạo đức con người Tuy nhiên, do đặc tính ở người Việt và kết hợp các yếu tố Phật, Đạo nên Nho giáo ở đây không khắt khe, rườm rà, như Tống Nho và Hán Nho
2.2.1 Những ảnh hưởng tích cực của đạo đức Nho giáo đối với Việt Nam
Thứ nhất, Nho giáo lấy Nhân làm trọng, chú trọng đến con người, giúp đỡ con người
hướng đến điều tốt đẹp Coi việc giúp đỡ người khác, là việc nên làm và phải làm, điều
Trang 10này hoàn toàn hòa hợp với truyền thống yêu nước, yêu đồng bào của ta, và được chấp nhận như một lẽ tự nhiên Hơn nữa, tư tưởng của Nho giáo là nhập thế giúp người, giúp đời, không như tư tưởng tránh đời của Đạo giáo, Phật giáo(thời đầu, Phật giáo
Việt Nam vẫn mang tính nhập thế)
Thứ hai, các mối quan hệ trong Nho xây dựng nên phương châm đạo đức để duy
trì các mối quan hệ không phải gò ép, mà dựa trên những chuẩn mực đạo đức như Hiếu, Nghĩa … làm con người hướng tới điều tốt đẹp, và đặc biệt không sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đề, giúp con người ôn hòa
Thứ ba, Nho giáo đề cao Trung Nghĩa, Trung với nước, hòa hợp với tinh thần yêu
nước của người Việt tạo nên một tinh thần bất khuất, sẵn sàng hi sinh vì đất nước, đấu tranh cho đất nước như cụ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh là các nhà Nho tiêu biểu
2.2.2 Những ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức Nho giáo đối với Việt Nam
Thứ nhất, điểm yêu xuyên suốt của Nho giáo, từ Khổng Mạnh cho đến Tân Nho
giáo về sau, đó là trọng nam khinh nữ, vai trò của người phụ nữ chưa được xem xét xứng đáng trong Nho giáo, chỉ là phận ngang hàng với tiểu nhân, nên bị áp bức, chèn
ép rất nhiều Và đã để lại dấu ấn sâu sắc trong tâm lý người Việt cho đến hiện nay Tuy nhiên điều này không thể hoàn toàn trách tội Nho giáo, bởi xét một cách toàn diện và trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể thì đó là hậu quả của quá trình bước qua từ mô hình Mẫu hệ sang Phụ hệ Cả thế giới đều gặp phải vấn đề đó, bởi vì đó là ý thức xã hội phát triển trong quá trình lịch sử tự nhiên, là điều không thể tránh khỏi
Thứ hai, Lễ giáo chính là bộ khung sắt đóng lại không cho con người vùng vẫy, tư
tưởng trở nên hạn hẹp, cứng nhắc, làm chậm sự phát triển của xã hội Ví như trường hợp vua Quang Trung ra Bắc đánh dẹp quân Thanh và vua Lê Chiêu Thống, là hoàn toàn hợp đạo, tuy nhiên một số tầng lớp Sĩ Phu Bắc Hà, lại không ra hợp tác với vua Quang Trung khi ngài ra chiếu cầu hiền Đó là bởi vì cái gông cùm Lễ giáo đã trùm lên
họ, họ chỉ biết trung với vua Lê Tuy nhiên đây là điểm yếu của Hán Nho để phục vụ cho giai cấp trị vì, không phải của Nho giáo nguyên thủy
Thứ ba, điểm mạnh của Nho giáo là tạo nên con người ôn hòa, không vũ lực, thì đó
cũng là điểm yếu Khi đất nước cần đấu tranh cách mạng để giải phóng, thì các nhà Nho lại chủ trương đấu tranh ôn hòa, như việc cụ Phan Bội Châu với phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, hay cụ Phan Bội Châu với tư tưởng “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” Điều này hoàn toàn không phù hợp, giống như đứng cãi nhau với kẻ côn đồ không quan tâm lí lẽ, cái kết chỉ có thất bại
Thứ tư, một điểm yếu nữa là coi thường vai trò của lao động chân tay, Nho gia
luôn tự cho mình cao quý hơn những người lao động chân tay