1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề học nhóm của sinh viên (bài tập)

55 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề học nhóm của sinh viên
Trường học Trường Đại Học Kiểm Sát Hà Nội
Thể loại bài tập
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 76,17 KB
File đính kèm VẤN ĐỀ HỌC NHÓM CỦA SINH VIÊN (bài tập).rar (75 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tạm bịệt với bậc trung học phổ thông, khi bước vào môi trường đại học thì vấn đề làm việc nhóm được biết đến như là một phương pháp học tập khá phổ biến của sinh viên, trong đó có sinh viên trường Đại học Kiểm sát Hà Nội. Hiện nay nước VN ta đang đứng trước muôn vàn thời cơ của quá trình hội nhập quốc tế, thời đại của khoa học công nghệ; vì vậy vấn đề học nhóm của sinh viên lại trở nên quan trọng hơn nhường nào. Kỹ năng làm việc nhóm đóng vai trò vô cùng quan trọng, là hành trang không thể thiếu của mỗi người. Như chúng ta đã bíêt trong bất kì công ty nào ngoài quá trình phỏng vấn, chuyên môn kĩ năng… Hoạt động làm việc nhóm đang là xu thế chung của con nguời: từ hoạt động nhóm trong học tập đến nhóm nghiên cứu khoa học, nhóm kinh doanh, nhóm lao động. Để huy động đƣợc tối đa tiềm năng của nhóm, một trong những cách thức quản lý nhóm là nâng cao sự gắn kết giữa các thành viên trong nhóm. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các nhóm sinh viên, bởi ý nghĩa kép của nó. Tổ chức UNESCO đã nêu ra 3 nhóm tiềm năng mà nhà trƣờng cần phải tạo ra cho sinh viên sau khi tốt nghiệp trong thế kỷ XXI là: Thao tác hóa khái niệm là chuyển các khái niệm trừu tượng, phức tạp, khó nắm bắt thành những khái niệm đơn giản hơn, cụ thể hơn (các chỉ báo) mà chúng có thể được đo lường, quan sát, ghi chép thực nghiệm được. Thao tác hóa khái niệm có tính chất trừu tượng và thao tác. VD: Chất lượng dịch vụ là những đánh giá của khách hàng về quá trình cung cấp dịch vụ và kết quả của dịch vụ. Trong đó: kết quả dịch vụ là …. Thao tác hóa khái niệm là một loạt các thủ tục để chuyển đổi các khái niệm trừu tượng thành các khái niệm có thể đo lường, quan sát, nhận diện được. Đây là cầu nối giữa các cấp độ lý thuyếtkhái niệm và quan sátthực nghiệm.Đặc điểm, đặc trưng cơ bản của học tập theo nhóm Học tập theo nhóm là một cách học đòi hỏi mỗi thành viên trong nhóm cùng thực hiện một cam kết làm việc nhất định không có sự hướng dẫn trực tiếp của giảng viên mà dựa trên sự hợp tác và phân công công việc hợp lý trong nhóm. • Các vấn đề cơ bản nhất của nhóm Bao gồm: thành phần, cấu trúc, các quá trình trong nhóm, các chuẩn mực và giá trị nhóm  Các thông số cơ bản nhất của nhóm là thành phần, cấu trúc, các quá trình trong nhóm, các chuẩn mực và giá trị nhóm. Mỗi một thông số có thể có những ý nghĩa rất khác nhau phụ thuộc vào phương pháp tiếp cận nào được dung trong nghiên cứu. Thành phần của nhóm có thể được mô tả theo những chỉ báo hết sức khác nhau như giới, nghề nghiệp, tuổi tác…Tất nhiên không thể có một phương thức thống nhất để miêu tả thành phần nhóm. Trong mỗi trường hợp cụ thể cần phải bắt đầu từ chỗ nhóm thực tế nào được lựa chọn như là khách thể nghiên cứu: Lớp học phổ thông, đội thể thao, đội sản xuất…Nói cách khác lập tức chúng ta đưa ra một tập hợp nào đó các đặc trưng của nhóm phụ thuộc vào dạng hoạt động mà nhóm này gắn vào.

Trang 1

ĐỀ TÀI: VẤN ĐỀ HỌC NHÓM CỦA SINH VIÊN KHOÁ VI TRƯỜNG ĐẠI

HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI.

Trang 2

MỤC LỤC

A PHẦN MỞ ĐẦU 6

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 6

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 7

1 Đối tượng nghiên cứu………

2 Phạm vi nghiên cứu 7

III MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8

IV GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 8

B PHẦN NỘI DUNG 8

CHƯƠNG I- CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ 8

1 Thao tác hóa khái niệm 2 Khái quát về địa bàn nghien cứu CHƯƠNG II- VẤN ĐỀ HỌC NHÓM CỦA SINH VIÊN KHÓA VI TRƯỜNG KIỂM SÁT HÀ NỘI 15

CHƯƠNG III NGUYÊN NHÂN CỦA VIỆC SỬ DỤNG FACEBOOK 18

1 Nguyên nhân khách quan: 18

2 Nguyên nhân chủ quan 19

C KẾT LUẬN 21

I HỆ THỐNG CÁC GIẢI PHẤP CẦN LÀM NGAY(MỨC VI MÔ) 21

Trang 3

1.Xác định đúng mục tiêu 21

2 Hạn chế thời gian sử dụng 22

3 Sử dụng Facebook như “Phần Thưởng” cho việc hoàn thành tốt công việc học tập của mình 22

4 Chỉ cần tắt máy tính 23

5 Thư giãn cách khác thay vì dùng Facebook 23

6 Tắt các thông báo (notification) hoặc xóa ứng dụng Facebook 23

7 Đặt ra các nguyên tắc và làm theo 23

8 Kiểm soát thời gian hợp lí 24

II KHUYỄN NGHỊ NHỮNG VIỆC CẦN LÀM TIẾP THEO(MỨC ĐỘ VĨ MÔ)24 1.Sự tuyên truyền giáo dục: 25

2 Ý thức của mỗi cá nhân phải tốt hơn 25

3 Cần đến sự quan tâm của các bậc phụ huynh và các thầy cô giáo 25

4 Tăng cường hoạt động của CLB trong trường Đại học Kiểm sát Hà Nội25 D PHỤ LỤC 26

TÀI LIỆU THAM KHẢO 34

Trang 4

A- PHẦN MỞ ĐẦU

I – LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

I- Lý do chọn đề tài

1 Lí do chọn đề tài nghiên cứu

Tạm bịệt với bậc trung học phổ thông, khi bước vào môi trường đại học thìvấn đề làm việc nhóm được biết đến như là một phương pháp học tập khá phổbiến của sinh viên, trong đó có sinh viên trường Đại học Kiểm sát Hà Nội Hiệnnay nước VN ta đang đứng trước muôn vàn thời cơ của quá trình hội nhập quốc tế,thời đại của khoa học công nghệ; vì vậy vấn đề học nhóm của sinh viên lại trở nênquan trọng hơn nhường nào Kỹ năng làm việc nhóm đóng vai trò vô cùng quantrọng, là hành trang không thể thiếu của mỗi người Như chúng ta đã bíêt trong bất

kì công ty nào ngoài quá trình phỏng vấn, chuyên môn kĩ năng… thì các doanhnghịêp luôn yêu cầu người lao động có khả năng biết làm việc nhóm Tinh thần và

kỹ năng hợp tác của người lao động quan trọng không thua gì những phẩm chấtkhác như nắm vững chuyên môn, siêng năng cần cù, có tinh thần học hỏi Vì vậymột điều cần thiết và rất quan trọng chính là sự hợp tác và phối hợp chặt chẽ giữanhững cá nhân, những con người có khả năng khác nhau Làm việc theo nhóm sẽtập trung góp nhặt nhưng mặt mạnh của mỗi người và bổ sung cho nhau nhữngmặt còn thiếu sót để đạt hiệu quả cao hơn trong công việc

Ca dao- tục ngữ của VN đã nêu rõ:

Một cây làm chẳng nên non

Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.

Trang 5

Nhóm là khâu trung gian nối giữa các cá nhân và xã hội Các cá nhân tạothành nhóm và các nhóm tạo nên xã hội Xã hội quản lý cá nhân thông qua nhóm.Hoạt động của các cá nhân luôn trong môi trường nhóm và bị kiểm soát bởi cácquy tắc chuẩn mực nhóm Chính vì vậy, nghiên cứu các hiện tượng tâm lý trong xãhội thực chất là nghiên cứu các hiện tượng tâm lý của các nhóm xã hội cụ thể.Nhóm xã hội là một đối tượng nghiên cứu quan trọng không chỉ trong xã hội học

mà còn của một số khoa học khác như triết học, tâm lý học, v.v….Bởi vì các mốiquan hệ giữa các cá nhân trong thực tế chính là quan hệ giữa các nhóm xã hội.Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta luôn được gắn vào nhóm theo nhiều cáchthức đa dạng và trong thực tiễn xã hội, chúng ta tin tưởng vào các quyết định củanhóm hơn là những quyết định cá nhân Định hướng tư tưởng chiến lược để đổimới phương pháp dạy học đã được chỉ rõ trong các văn kiện Đại hội Đảng, cácNghị quyết của Quốc hội là chuyển biến cách dạy, cách học từ thụ động sang chủđộng, sáng tạo, phát huy tính tích cực của người học, tăng cường thực hành, thựcnghiệm và phát triển trí tuệ, nhất là năng lực suy nghĩ độc lập, kĩ năng (KN) giảiquyết vấn đề, tăng cường giáo dục và rèn luyện KN sống, tình cảm và năng lực xãhội, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ đắc lực sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Định hướng tích cực hóa (hay hoạtđộng hóa) xét về bản chất lí luận cũng hoàn toàn là tư duy và cách làm phù hợp với

xu thế quốc tế đã được UNESCO chỉ ra: Học để biết, học để làm, học để sống cùngnhau và học để làm người

Hiện nay, quá trình đổi mới phương pháp dạy học ở nước ta đã bắt nhịpđược với những trào lưu lí thuyết hiện đại và phong phú trên thế giới nhằm tíchcực hoá người học Đó là lí thuyết tình huống, lí thuyết sư phạm tích hợp, lí thuyếtdạy học giải quyết vấn đề, lí thuyết dạy học hợp tác, lí thuyết phát triển giá trị, líthuyết hoạt động - nhân cách Làm việc nhóm là một trong những phương pháp

Trang 6

hoặc chiến lược đặc trưng của dạy học hợp tác, đồng thời cũng là phương pháp dạyhọc có nhiều ưu điểm nổi bật trong dạy học giải quyết vấn đề, phát triển giá trị và

KN sống, bồi dưỡng tình cảm và các phẩm chất nhân cách, thực hiện cách tiếp cậntình huống và cá nhân hóa Tuy nhiên, không phải cá nhân nào làm việc cũng hiệuquả trong quá trình làm việc nhóm, họ lúng túng, rụt rè, không tự tin khi thảo luậncùng với các thành viên trong nhóm

Hoạt động làm việc nhóm đang là xu thế chung của con nguời: từ hoạt độngnhóm trong học tập đến nhóm nghiên cứu khoa học, nhóm kinh doanh, nhóm laođộng Để huy động được tối đa tiềm năng của nhóm, một trong những cách thứcquản lý nhóm là nâng cao sự gắn kết giữa các thành viên trong nhóm Điều này đặcbiệt quan trọng đối với các nhóm sinh viên, bởi ý nghĩa kép của nó Tổ chứcUNESCO đã nêu ra 3 nhóm tiềm năng mà nhà trường cần phải tạo ra cho sinh viênsau khi tốt nghiệp trong thế kỷ XXI là: các tiềm năng để học tập - nghiên cứu, các

kỹ năng phát triển cá nhân gắn kết với xã hội, các kỹ năng làm việc nhóm TrườngĐại học Viện Kiểm Sát là một trường đại học đào tạo theo học chế tín chỉ Chính

vì vậy, để nâng cao chất lượng đào tạo thì mỗi giờ lên lớp của giảng viên phải lànhững giờ học có hiệu quả Hình thức làm việc nhóm đang được các giảng viênvận dụng trong mỗi tiết dạy của mình Với một hình thức học tập mang tính tập thể

và tính hợp tác cao, mỗi sinh viên cần phải trang bị cho mình những kỹ năng làmviệc nhóm cần thiết để có thể lĩnh hội tri thức một cách sâu sắc Tuy nhiên, trênthực tế sinh viên của trường Đại học Viện Kiểm sát đặc biệt là sinh viên năm thứnhất còn lúng túng và chưa được trang bị những kỹ năng làm việc nhóm cần thiết.Chính vì vậy việc trang bị kỹ năng làm việc nhóm cho sinh viên năm thứ nhất ởtrường là một việc làm rất cần thiết và có ý nghĩa trong việc nâng cao chất lượngdạy học ở bậc học này

Trang 7

Với sinh viên năm nhất như khóa VI cũng vậy, vừa bỡ ngỡ đặt chân vào môitrường học tập mới, sinh viên chưa kịp thích ứng được cách học tập mới của môitrường đại học, gặp phải nhiều khó khăn trong cách học và làm việc theo nhóm, cómột kỹ năng làm việc nhóm tốt là điều hết sức cần thiết đối với sinh viên khóa VItrường ĐHKS Trên cơ sở lý thuyết về nhóm xã hội và hiểu được tầm quan trọngcủa làm việc nhóm đối với sinh viên, tổ 8 lớp K6H đã quyết định lựa chọn đề tài:

“Vấn đề học nhóm của sinh viên khóa VI trường Đại học Kiểm sát Hà Nội” làm

đề tài nghiên cứu của mình.

2 Ý nghĩa lí luận và ý nghĩa thực tiễn

2.1 Ý nghĩa lý luận

Thông qua việc nghiên cứu,nhóm chúng tôi có thể đi sâu hơn vào lý thuyết xã hội

2.2 Ý nghĩa thực tiễn

Nhóm chúng tôi hy vọng kết quả nghiên cứu đề tài này sẽ đóng góp một phần nhỏnào đó vào nguồn tài liệu khoa học có chung đối tượng với đề tài của chúng tôi

II- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1 Đối tượng nghiên cứu

- Vấn đề: học nhóm

- Khách thể: sinh viên khóa VI trường ĐHKSHN

2 Phạm vi nghiên cứu

- Không gian: phòng tự học, canteen, hành lang KTX, thư viện ……

- Thời gian nghiên cứu: từ ngày 7/10/2018– 29/10/2018

III Mục tiêu, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu.

Trang 8

tư duy phản biện, góp phần nâng cao chất lượng học tập và hòa nhập tốt vàomôi trường đại học của sinh viên K6 trường Đại học Kiểm Sát Hà Nội

2 Nhiệm vụ.

Để có thể đạt được những mục đích đã đề ra nhóm chúng tôi sẽ làm rõ các vấnđề:

 Khảo sát tình hình học tập, làm việc nhóm của các sinh viên K6 và nhữnghiệu quả mà việc học nhóm đem lại

 Tìm ra các yếu tố tiêu cực làm ảnh hưởng đến chất lượng học nhóm từ đóđưa ra các giải pháp để khắc phục

3 Phương pháp nghiên cứu.

Để dễ dàng thu thập được các số liệu và những thông tin cần thiết phục vụcho việc phân tích và đánh giá thực trạng về việc học nhóm của các bạn sinhviên K6 trường Đại học Kiểm Sát Hà Nội nhóm chúng tôi đã lựa chọnphương pháp quan sát và xây dựng bảng hỏi

 Phương pháp quan sát

+ Người quan sát: Nguyễn Thị Lan Anh Phạm Mỷ Hương

 Phương pháp bảng hỏi

Trang 9

Nhóm chúng tôi sẽ sử dụng một bảng câu hỏi đã được quy chuẩn dùng

để hỏi chung cho tất cả mọi người trong mẫu điều tra

+ Số phiếu phát ra: 80 phiếu

+ Số phiếu thu về: 80 phiếu

IV- Giả thuyết nghiên cứu

Vấn đề học tập theo nhóm của sinh viên khóa VI trường ĐHKS Hà Nộichưa hiệu quả và mang lại những thành tích như mong muốn

Trang 10

B- NỘI DUNG Chương I – CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HỌC TẬP THEO

NHÓM CỦA SINH VIÊN K6

1 Thao tác hóa khái niệm nghiên cứu

Thao tác hóa khái niệm là chuyển các khái niệm trừu tượng, phức tạp, khó nắmbắt thành những khái niệm đơn giản hơn, cụ thể hơn (các chỉ báo) mà chúng có thểđược đo lường, quan sát, ghi chép thực nghiệm được Thao tác hóa khái niệm cótính chất trừu tượng và thao tác

VD: Chất lượng dịch vụ là những đánh giá của khách hàng về quá trình cung cấpdịch vụ và kết quả của dịch vụ Trong đó: kết quả dịch vụ là …

Thao tác hóa khái niệm là một loạt các thủ tục để chuyển đổi các khái niệmtrừu tượng thành các khái niệm có thể đo lường, quan sát, nhận diện được Đây làcầu nối giữa các cấp độ lý thuyết-khái niệm và quan sát-thực nghiệm

Như vậy có thể hiểu: “Phương pháp là cách thức, con đường, phương tiện để đạt tới mục đích nhất định trong nhận thức và trong thực tiễn.”

Trang 11

Ví dụ: Phương pháp giáo dục: Khi nhiều học sinh có biểu hiện không làm bàitập về nhà, trên lớp không tập trung, kết quả học tập đi xuống Khi đó giáo viên vàphụ huynh cùng kết hợp để tìm ra nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó Từ đó cóđịnh hướng để con ý thức được, từ đó gia đình và nhà trường hỗ trợ em học sinh đó

có điều kiện tốt nhất để học tập, đây gọi là phương pháp Để thực hiện đượcphương pháp, giáo viên và phụ huynh sẽ cùng kết hợp để triển khai các biện pháp

có phương pháp tiêng, sử dụng riêng cho ngành của mình Chẳng hạn như ngànhgiáo thì sẽ có phương pháp giảng dạy, phân tích, công an thì có phương pháp điềutra, theo dõi…

- Phương pháp chung: Đây là những phương pháp mà mọi cá nhân hoặc tổ chứcthuộc các chuyên ngành khác nhau đều có thể sử dụng nhằm mục đích đáp ứng mụcđích của bản thân Chẳng hạn như phương pháp ghi nhớ, phương pháp giảm cân,phương pháp làm đẹp…

- Phương pháp chung nhất: Đây là những phương pháp được áp dụng cho tất cảcác ngành khoa học, chẳng hạn như phương pháp triết học

Như vậy hiện nay, có rất nhiều các phương pháp được đưa vào sử dụng trongđời sống xã hội và lưu truyền với nhau để cùng thực hiện hiệu quả một công việcnào đó cụ thể

Trang 12

Ta có một số cách hiểu về nhóm như sao:

i Nhóm là tập thể chỉ từ 2 người trở lên, có mức độ nhận biết chung và tươngtác với nhau thường xuyên [J.Macionis, Xã Hội học, t.219]

ii Nhóm là tập hợp những người, trong đó các cá nhân có mối quan hệ tác

động qua lại lẫn nhau bằng những cách, phương thức, cơ chế hoặc theo một cấutrúc riêng nào đó

iii Nhóm là tập hợp những người có cùng những nguyên tắc, giá trị và kỳ

vọng,tương tác với nhau trên cơ sở đều đặn [R.T.Chaefer, Xã hội học]

Như vậy ta có thể hiểu nhóm là là một tập hợp người liên hệ với nhau về vị thế,vaitrò, những nhu cầu, lợi ích và những định hướng giá trị nhất định [ErichH

Witte/ Elisabeth Ardelt: 303]

 Học tập

Theo GS Nguyễn Ngọc Quang, nghiên cứu dạy học theo quan điểm quátrình: “Học là quá trình tự điều khiển tối ưu sự chiếm lĩnh khái niệm khoa học,bằng cách đó hình thành cấu trúc tâm lý mới, phát triển nhân cách toàn diện.Vai trò tự điều khiển của quá trình học thể hiện ở sự tự giác, tích cực, tự lực vàsáng tạo dưới sự điều khiển của thầy, nhằm chiếm lĩnh khái niệm khoa học Theo các nghiên cứu và các sách từ điển thì học tập là:

Trang 13

+ Học và luyện tập để hiểu biết, để có các kỹ năng, để gặt hái được tri thứccho bản thân.

+ Học hay còn gọi là học tập, học hành, học hỏi là quá trình tiếp thu cái mớihoặc bổ sung, trau dồi các kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, giá trị, nhận thứchoặc sở thích và có thể liên quan đến việc tổng hợp các thông tin khác nhau.+ Học và rèn luyện để hiểu biết, trang bị các kỹ năng và tri thức: kết quả họctập, siêng năng học tập Làm theo gương tốt: học tập lẫn nhau, học tập kinhnghiệm

Ngoài ra, nếu định nghĩa theo các nhà tâm lý thì học tập là một sự thay đổitương đối lâu dài về hành vi, là kết quả của các trãi nghiệm

Theo từ điển Tiếng Việt của Viện khoa học xã hội Việt Nam - Viện ngônngữ học: “Học tập là học và luyện tập để hiểu biết và có kỹ năng”

Như vậy: “Học tập là một loại hình hoạt động được thực hiện trong mối quan hệ chặt chẽ với hoạt động dạy, giúp người học lĩnh hội tri thức, kỹ năng,

kỹ xảo, những phương thức hành vi nhằm phát triển nhân cách toàn diện Học tập là hiểu sâu, hiểu rộng hơn vấn đề, lĩnh vực mà ta muốn biết Giúp ta trao đổi kiến thức, kinh nghiệm, làm tăng sự sáng tạo và trí tuệ, để chúng ta áp dụng được vào đời sống và xã hội.”

 Học tập theo nhóm

“Học tập theo nhóm là một phương pháp học tập trong đó các thành viên cùng phối hợp chặt chẽ với nhau để giải quyết một vấn đề học tập cụ thể nhằm hướng đến một mục tiêu chung; sản phẩm của nhóm là sản phẩm của trí tuệ tập thể.”

Trang 14

Theo nghiên cứu, việc học theo từng nhóm nhỏ sẽ giúp bạn học được nhiều hơnnhững gì được dạy và nhớ lâu hơn so với các hình thức dạy học truyền thống khác.Học nhóm còn giúp các bạn rèn luyện được tính hợp tác, khả năng giao tiếp rấttốt Giúp phát huy khả năng tư duy, trí tuệ của từng cá nhân trong nhóm Giúp tiếpthu kiến thức và giải quyết các vấn đề học tập một cách nhanh chóng hơn Việc họcnhóm hiệu quả sẽ rất có ích cho công việc sau này Vì thế, ngoại trừ học nhóm trên

lớp, bạn cũng nên tạo một nhóm riêng để tự học tại nhà.

Tóm lại: Đối với khoa học tâm lý, nhóm chủ yếu được xem xét và phân tíchtrên phương diện tâm lý, những động thái, hành vi, tính cách, sở thích chung giốngnhau giữa các cá nhân thành viên trong nhóm Chẳng hạn tâm lý,thói quen, sở thích,đặc trưng hoạt động của nhóm trí thức khác với nhóm công nhân, nông dân Tâm lýcủa nhóm ông chủ khác với tâm lý của nhóm thợ, tâm lý của nhóm người giàu khácvới tâm lý của nhóm người nghèo Theo cách tiếp cận tâm lý học, nhóm xã hội cóđặc trưng tâm lý nhóm và các cá nhân gắn kết với nhau chủ yếu bằng các mối liên

hệ và hành vi tâm lý Tâm lý học nghiên cứu tâm lý của nhóm và tâm lý của các cánhân thành viên tạo nên nhóm

Xã hội học khi tiếp cận về nhóm không hướng sự chú ý vào các đặc trưng tâm lýcủa nhóm mà tập trung vào phân tích cấu trúc của nhóm, các vị thế, các vai trò củanhóm trong cơ cấu xã hội, cũng như vị thế, vai trò xã hội của các thành viên củanhóm Theo các tác giả cuốn Từ điển xã hội học phương Tây hiện đại thì nhóm xãhội là một tập hợp những cá nhân được gắn kết với nhau bởi những mục đích nhấtđịnh Những cá nhân có hoạt động chung với nhau trên cơ sở cùng chia sẻ và giúp

đỡ nhau nhằm đạt được những mục đích của nhóm, trong đó có mục đích của các cánhân thành viên của nhóm

Trang 15

Khi thực hiện những vai trò xã hội khác nhau, chúng ta là thành viên của cácnhóm xã hôi khác nhau Con người trưởng thành dường như qua việc tham gia vàomối quan hệ đan chéo của các nhóm này, tức là chịu sự ảnh hưởng của tất cả cácnhóm Điều này gây ra hai hệ quả.Một mặt, nó xác định vị trí khách quan của mỗi

cá nhân trong hệ thống hoạt động xã hội trong cơ cấu xã hội Mặt khác, nó ảnhhưởng đến sự hình thành ý thức cá nhân Ở đây cá nhân chịu tác động của một hệthống các quan điểm, chuẩn mực, giá trị của nhiều nhóm khác nhau Những quanđiểm, giá trị chuẩn mực này có thể phù hợp hoặc mâu thuẫn nhau Trong mọitrường hợp, cá nhân vẫn phải tổng hợp những tác động đó để tạo ra cho mình một

hệ thống chuẩn mực, giá trị riêng

2 Khái quát về địa bàn nghiên cứu

Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội là cơ sở giáo dục đại học trực thuộc Việnkiểm sát nhân dân tối cao, được thành lập trên cơ sở là Trường Bổ túc và đào tạocán bộ Kiểm sát vào năm 1970 Trải qua 43 năm xây dựng và phát triển, ngày24/04/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 614/QĐ-TTg về việc thànhlập Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội trên cơ sở nâng cấp Trường Đào tạo, bồidưỡng nghiệp vụ kiểm sát

Năm 2018 Trường Đại học kiểm sát Hà Nội đã tuyển sinh được 286 sinh viênkhóa VI Vì vậy, cùng với những phương pháp giảng dạy và môi trường học tậpriêng biệt tại trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, các bạn sinh viên trong toàn khóa VIcần phải có phương pháp học tập thích hợp để tiếp thu có hiệu quả khối lượng kiếnthức mới mẻ, đạt mục tiêu mà mình đề ra Và một trong những phương pháp ấy làphương pháp học tập theo nhóm - với sự tương tác, trao đổi giữa giảng viên vớisinh viên cũng như là giữa các sinh viên với nhau trong việc giúp các bạn sinh viênchiếm lĩnh được các tri thức khoa học

Trang 16

3 Đặc điểm, đặc trưng cơ bản của học tập theo nhóm

Học tập theo nhóm là một cách học đòi hỏi mỗi thành viên trong nhóm cùngthực hiện một cam kết làm việc nhất định không có sự hướng dẫn trực tiếp củagiảng viên mà dựa trên sự hợp tác và phân công công việc hợp lý trong nhóm

ra một tập hợp nào đó các đặc trưng của nhóm phụ thuộc vào dạng hoạt động mànhóm này gắn vào

 Về cấu trúc nhóm: cấu trúc giao tiếp, cấu trúc lựa chọn, cấu trúc quyền lực

Vì nhóm là chủ thể của hoạt động và nhận thức nên việc phân tích cấu trúc hoạtđộng của nhóm rất quan trọng

Đặc trưng cơ bản của nhóm là sự thống nhất về tinh thần, tình cảm, mụcđích và phương thức hoạt động của nhóm Bên cạnh đó, còn có thể kể đến nhữngđặc trưng sau:

- Tư cách thành viên: tuỳ các nhóm khác nhau mà có quy định khác nhauhoặc các nhóm khác nhau có thể có những quy định giống nhau(như về giới, nghềnghiệp, tuổi tác)

Trang 17

- Địa vị: là vị trí của các thành viên trong nhóm Trong cơ cấu của đa số cácnhóm thường có thủ lĩnh và các thành viên

- Vai trò: những ứng xử gắn liền với địa vị của mỗi thành viên trong nhóm

- Giá trị, mục tiêu mà nhóm theo đuổi: Liên quan đến lợi ích và sự hoànthành công việc của nhóm

-Chuẩn mực: những quy tắc ứng xử trong nhóm, bắt buộc mọi thành viênphải tuân theo

-Chế tài: bao gồm khen thưởng (nếu tuân thủ tốt) và sự trừng phạt mang tínhcưỡng chế

 Phân loại nhóm

Dựa vào nhiều tiêu thức có nhiều cách phân loại nhóm khác nhau

 Căn cứ vào số lượng thành viên tham gia

- Nhóm nhỏ là nhóm liên kết một số hạn hữu người, trong đó con người tiếpxúc với nhau một cách trực tiếp, thường xuyên trong một không gian và thờigian nhất định (gia đình, tổ chuyên môn, đội sản xuất ) Các nhà quản lý,lãnh đạo nên quan tâm đến nhóm nhỏ vì trong nhóm nhỏ ta có thể tách ramột loại nhóm là nhóm cơ sở Đặc điểm của nhóm cơ sở là các thành viên có

sự tiếp xúc thường xuyên và mật thiết với nhau, số lượng ít, từ 2 đến 7người Ví dụ: tổ bộ môn, nhóm thích công nghệ thông tin, nhóm thích nhạcKpop, thích uống cà phê,…

- Nhóm lớn là sự liên kết của nhiều người không mang tính cá nhân, vìkhông tiếp xúc trực tiếp nhiều mà chỉ quan hệ với nhau một cách gián tiếpthông qua các quy định, pháp chế, luật lệ như: các nhóm chính trị, tôn giáo,giai cấp, đảng phái,…

Þ Nhóm nhỏ có vai trò rất quan trọng đối với con người, bởi mỗi nhóm nhỏ đều có

hệ thống các mối quan hệ, các chuẩn mực đạo đức, tác phong làm việc và sắc thái

Trang 18

tình cảm riêng Nhóm nhỏ ảnh hưởng trực tiếp đến suy nghĩ, hành vi, tình cảm củacác thành viên.

 Căn cứ vào tính chất liên kết

- Nhóm sơ cấp (nhóm cấp I): Các thành viên có mối quan hệ trực tiếp với nhautheo truyền thống, tình cảm, sở thích,…

- Nhóm thứ cấp (nhóm cấp II): Các thành viên của nhóm có mối quan hệ giaotiếp thông qua các quy định, điều lệ chung…do nhóm đặt ra hoặc áp đặt từ bênngoài…

 Căn cứ vào hình thức biểu hiện mối liên hệ giữa các thành viên trong nhóm

- Nhóm chính thức: là nhóm có cơ cấu tổ chức, mọi người tập hợp, quan hệvới nhau theo văn bản, tổ chức quy định (biên chế của nhóm bao nhiều người; ai làngười lãnh đạo; quan hệ làm việc như thế nào…)

ÞTrong nhóm chính thức, các quan hệ, vai trò, vị trí của các thành viên đượcghi thành văn bản Ví dụ, trong nhà trường, một lớp học, tổ chuyên môn, tổ sảnxuất Mối quan hệ giữa các thành viên trong nhóm được gọi là quan hệ chính thứchay quan hệ công việc

- Nhóm không chính thức: là nhóm tồn tại trên cơ sở tâm lý (thiện cảm, cùng

xu hướng, sở thích ) Từ tính chất của các mối quan hệ đó mà tạo thành từngnhóm gọi là nhóm không chính thức Quan hệ giữa các thành viên trong nhóm gọi

là quan hệ tâm lý Ví dụ: nhóm thích thời trang, nhóm thích công nghệ mới, nhómthể dục đi bộ buổi sáng, nhóm thích du lịch, nhóm dạy thêm

ÞTrong một nhóm chính thức có thể tồn tại nhiều nhóm không chính thức cóảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đối với nhóm chính thức và các thành viên

 Căn cứ vào cách thức gia nhập của thành viên

- Nhóm tự nguyện: là nhóm liên kết các thành viên một cách tư nguyện

- Nhóm áp đặt: là nhóm do một thế lực bên ngoài đặt và học nhóm

- Nhóm tự phát: là nhóm các thành viên tự tổ chức

Trang 19

- Nhóm có tổ chức: là nhóm được một thế lực bên ngoài tạo thành

*Ảnh hưởng của nhóm xã hội đến cá nhân

 Ý kiến của các nhà tâm lý học

- Theo Robbin (1989), khi tham gia vào nhóm, các cá nhân được thỏa mãn nhu cầu

xã hội và nhu cầu tâm lý Cụ thể: đạt được mục đích của mình qua chia sẻ tráchnhiệm mà khi làm việc một mình cá nhân không thể đạt được

- Solomon Ash cho rằng: Nhóm hoạt động hiệu quả hơn so với kết quả của hoạtđộng cá nhân riêng lẻ cộng lại, nhưng lại kém các thành viên tốt nhất của nhóm khihành động đơn lẻ

 Các giai đoạn hình thành và phát triển nhóm

1 Giai đoạn thành lập nhóm (Forming)

Đây là giai đoạn được thành lập, các thành viên trong nhóm còn lạ lẫm vớinhau và bắt đầu tìmhiểu nhau để cộng tác vì công việc trước mắt Ở giai đoạn này,các thành viên có thể chưa hiểu rõmục đích chung của cả nhóm cũng như nhiệm

vụ cụ thể của từng người trong nhóm Nhóm cóthể đưa ra những quyết định dựatrên sự đồng thuận, hiếm có các xung đột gay gắt do mọi ngườivẫn đang còn dèdặt với nhau Tâm lý chung ở giai đoạn này đó là: Hưng phấn với công việcmới;

Dè dặt trong việc tiếp cận và chia sẻ với các thành viên khác; Quan sát và thăm dòmọingười xung quanh; Tự định vị mình trong cấu trúc của nhóm.Trong giai đoạnnày, người trưởng nhóm phải thể hiện vai trò dẫn dắt của mình, bởi vì cácthànhviên khác vẫn chưa định vị và xác định rõ nhiệm vụ của mình trong nhóm

2 Giai đoạn “bão táp”(Storming)

Giai đoạn này xảy ra khi các thành viên bắt đầu bộc lộ mình và có thể phá vỡnhững quy tắc củanhóm đã được thiết lập từ đầu Đây là giai đoạn rất khó khănđối với nhóm và dễ dẫn đến kết quảxấu

Trang 20

Ở giai đoạn này, có thể xảy ra xung đột giữa các thành viên do những nguyênnhân khác nhau như: phong cách làm việc, cách cư xử, tranh cãi về các vấn đề haygiải pháp, văn hóa,…

Các thành viên cũng có thể không hài lòng về công việc của nhau, dễ có các

so sánh giữa mình với người khác,… Nhóm khó đi đến các quyết định dựa trên sựđồng thuận.Các thành viên cũng có thể bắt đầu chất vấn về các quy tắc đã đượcthiết lập, muốn chỉnh sửa,thử nghiệm và có thể phá vỡ các quy tắc đó Tệ hơn nữa,một số thành viên có thể tỏ ra khônghợp tác, không cam kết trong công việc, vàkhông hài lòng với cách làm việc hiện tại Sự traođổi, hỗ trợ trong nhóm khôngthực sự tốt.Tinh thần của một số thành viên có thể đi xuống, có thể dẫn đến căngthẳng hay stress

Trong giai đoạn này, các thành viên không còn đủ tập trung vào công việchướng đến mục tiêuchung Tuy nhiên, họ cũng bắt đầu hiểu nhau hơn Điều quantrọng trong giai đoạn này là nhóm phải nhận diện và đối mặt với tình trạng củamình

3 Giai đoạn ổn định (Norming)

Giai đoạn này đến khi mọi người bắt đầu chấp nhận nhau, chấp nhận sự khácbiệt, cố gắng giảiquyết các mâu thuẫn, nhận biết thế mạnh của các thành viên khác

và tôn trọng lẫn nhau

Các thành viên bắt đầu trao đổi với nhau suôn sẻ hơn, tham khảo ý kiến lẫnnhau và yêu cầu sự trợ giúp khi cần thiết Có thể bắt đầu có các ý kiến mang tínhxây dựng Mọi người bắt đầu nhìnvào mục tiêu chung và có cam kết mạnh mẽ hơntrong công việc Có thể có các quy tắc mớiđược hình thành và tuân thủ để giảmthiểu mâu thuẫn, tạo không gian thuận lợi để các thành viênlàm việc và cộng tác.Giai đoạn Norming có thể đan xen lẫn với giai đoạn Storming vì khi có vấn đềmới (công việcmới, quyết định mới, mâu thuẫn mới,…) thì các thành viên có thểrơi vào trạng thái xung đột nhưtrước đó Hiệu quả làm việc trong giai đoạn này sẽ

Trang 21

được nâng lên, bởi vì bây giờ nhóm đã có thểtập trung hơn vào công việc hướngđến mục tiêu chung.

4 Giai đoạn trưởng thành (Performing)

Đây là giai đoạn nhóm đạt được hiệu quả cao nhất trong công việc Sự côngtác diễn ra dễ dàngmà không có bất cứ sự xung đột nào Đây là một giai đoạn màkhông phải nhóm nào cũng đạt tớiđược

Ở giai đoạn này, các quy tắc được tuân thủ mà không gặp bất cứ khó khănnào Các cơ chế hỗ trợlẫn nhau trong nhóm phát huy hiệu quả tốt Sự nhiệt tình vàcam kết của các thành viên với mụctiêu chung là không còn nghi ngờ gì nữa.Cácthành viên cảm thấy rất thoải mái khi làm việc trong nhóm

Các thành viên mới gia nhậpcũng sẽ nhanh chóng hòa nhập và làm việc hiệuquả Nếu có thành viên rời nhóm thì hiệu quảlàm việc của nhóm cũng không bịảnh hưởng nghiêm trọng Tinh thần chủ đạo được thể hiện ởgiai đoạn này là tinhthần đồng đội

5 Giai đoạn kết thúc (Adjourning)

Điều này xảy ra trong các tình huống khác nhau, ví dụ như khi dự án đã kếtthúc, khi phần lớnthành viên rời bỏ nhóm để nắm các vị trí khác, khi tổ chức đượctái cấu trúc,… Đối với các thànhviên tâm huyết của nhóm, đây là một giai đoạn

“đau thương”, “lưu luyến”, “tiếc nuối”,… nhất làđối với các thành viên mà chưanhìn thấy một tương lai tốt đẹp hơn

Vai trò của nhóm xã hội chi phối hoạt động của cá nhân

Nhóm xã hội đã chi phối toàn diện đến các cá nhân trong đời sống xã hội hằngngày Nó đóng vai trò không thể thiếu cho hoạt động các cá nhân

 Nhóm là nơi thỏa mãn nhu cầu giao tiếp của các cá nhân

 Nhóm là nơi các cá nhân trao đổi tình cảm với nhau

 Nhóm xã hội là nơi các cá nhân trao đổi các kinh nghiệm xã hội, các tri thứckhoa học và năng lực lao động

Trang 22

Nếu học tập theo nhóm được tổ chức và điều khiển một cách khoa học và hợp lý

sẽ đem lại rất nhiều lợi ích Tuy nhiên, nếu sử dụng phương pháp học tập theonhóm không đúng cách, không phù hợp với nội dung và thiếu kỹ năng thực hiện thì

có thể chỉ mang tính hình thức, gây mất nhiều thời gian, sản phẩm không mangtính tập thể, các cá nhân thiếu tích cực sẽ đùn đẩy cho những người năng nổ, nhiệttình

Chính vì vậy để học tập nhóm thực sự đem lại kết quả cao mỗi thành viêntrong nhóm cần nhận thức đúng đắn về trách nhiệm của mình, cùng rèn luyện kỹnăng làm việc nhóm thật hiệu quả

Trang 23

Chương II – Thực trạng vấn đề học nhóm của sinh viên khóa VI trường Đại học Kiểm sát Hà Nội

2.1 Khái quát chung về vấn đề học nhóm của sv khóa VI trường ĐHKS Hà Nội

Sau kì thi THPT Quốc gia 2018, trường ĐHKS Hà Nội đã tuyển sinh được 286bạn học viên khóa VI Trong môi trường ĐHKS, để đạt được hiệu quả trong việctiếp thu, lĩnh hội tri thức thì yêu cầu quan trọng là mỗi sinh viên phải tìm tòi vàtrang bị cho mình những phương pháp học tập phù hợp với đặc điểm tâm sinh lýcủa bản thân và kiến thức của từng môn học Phương pháp học tập tích cực chính làchìa khóa giúp sinh viên có kết quả cao, hình thành cách tư duy hệ thống và cáchgiải quyết vấn đề thực tiễn một cách khoa học nhất

Qua quá trình quan sát và phân tích, chúng ta nhận thấy có nhiều phương phápđược sinh viên khóa VI áp dụng, các phương pháp đó đã mang lại những kết quảnhất định Có thể tổng quát lại hai phương pháp học tập cơ bản mà sinh viên khóa

VI đã và đang sử dụng chủ yếu là phương pháp tự học và phương pháp học nhóm.Phương pháp tự học là phương pháp phổ biến và được sử dụng thường xuyêntrong học tập, mang lại những hiệu quả nhất định cho sinh viên của Trường

Tuy nhiên, việc sử dụng phương pháp này mang lại hiệu quả chưa đồng đều vàchỉ phù hợp với một số môn học Mặt khác, với yêu cầu của việc đổi mới phươngpháp dạy học, các phương pháp học tập cũ đang dần bộc lộ những hạn chế và gâynhiều khó khăn trong quá trình lĩnh hội của sinh viên, bản thân phương pháp tự họccần phải có sự kết hợp với các phương pháp học tập khác để mang lại hiệu quả caohơn Một trong số các phương pháp mới được sử dụng khá phổ biến trong sinh viênkhoá VI là phương pháp học tập theo nhóm

Trang 24

Phương pháp này tạo nên sự tương tác mạnh mẽ giữa các thành viên, phát huytrí tuệ tập thể và tạo nên những sản phẩm có kết quả cao, là phương pháp hiện đại,tích cực mang nhiều ưu điểm vượt trội, là yêu cầu cần thiết và là chìa khóa của sựthành công đối với sinh viên khóa VI nói riêng - sinh viên ĐHKS Hà Nội nóichung Các lớp đã thành lập các nhóm theo sự tự giác và theo sự chỉ đạo của giảngviên Tuy nhiên, theo đánh giá của sinh viên KS, việc học tập theo nhóm chưamang lại kết quả cao và ít nhiều còn mang tính hình thức Chúng ta nhận thấy việchọc tập nhóm diễn ra nhiều hơn, sinh viên cũng tích cực và chủ động hơn trongviệc hợp tác và làm việc cùng nhau Nhưng về cơ bản, sinh viên khóa VI vẫn chưaphát huy hết những ưu thế của phương pháp học tập này.

2.2 Thực trạng học nhóm của sinh viên khóa VI trường ĐHKS Hà Nội

Thực trạng mức độ nhận thức, quan niệm về hoạt động học tập theo nhóm

1 học tập theo nhóm là sự đóng góp ý kiến để giải

quyết công việc chung

2 học tập theo nhóm là nhóm trưởng chia nhỏ công

việc giao cho mỗi người một việc rồi tổng hợp kết

quả

Trên thực tế, thông qua khảo sát quan niệm của các bạn sinh viên Khóa VI về

học tập theo nhóm, có tới 37.97% các sinh viên cho rằng học tập theo nhóm là sự

đóng góp ý kiến để giải quyết công việc chung Có 51.03% sinh viên phát biểu học

tập theo nhóm là nhóm trưởng chia nhỏ công việc giao cho mỗi người một việc rồi tổng hợp kết quả.

Trang 25

Tuy nhiên, vẫn còn một số sinh viên suy nghĩ mơ hồ về phương pháp học tậptheo nhóm Các bạn cho rằng, học theo nhóm là mỗi người làm tất cả công việctheo ý riêng rồi gộp lại lấy kết quả tốt nhất hay học theo nhóm là giao bài tập nhómcho một vài thành viên xuất sắc trong nhóm thực hiện và coi là sản phẩm của tậpthể.

Thực trạng về cơ cấu tổ chức nhóm

Thông qua quan sát, điều tra chúng tôi nhận thấy rằng, trong thực tế hầu hết cácnhóm học tập của sinh viên khóa VI đều có cơ cấu tổ chức nhóm khá rõ ràng vớimột nhóm trưởng, một thư kí; phần lớn các nhóm đều xây dựng nội quy, quy địnhcủa nhóm, quy định trách nhiệm, vai trò của từng vị trí trong nhóm, nhưng lại chưachú trọng đúng mức tới việc xây dựng mối quan hệ giữa các thành viên trong nhóm

Thực trạng đội ngũ nhóm trưởng

Nhóm trưởng là người có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng trong quá trìnhhoạt động của nhóm 62.65% ý kiến nhất trí rằng nhiệm vụ lớn nhất của ngườitrưởng nhóm là điều hành và tổ chức công việc cho cả nhóm

Thông qua điều tra, chúng tôi được biết thực tế các bạn nhóm trưởng của cácnhóm học tập trong khóa VI đều là những người có năng lực về học tập khá tốt,linh hoạt và có trách nhiệm, nhưng còn có một số hạn chế như: tổ chức và điềuhành nhóm còn thiếu khoa học; phân công nhiệm vụ chưa phù hợp; ít lắng nghe vàtạo cơ hội cho người khác phát biểu ý kiến; ôm đồm cviec; chưa giải quyết đượccác tình huống xung đột xảy ra trong nhóm, luôn cố định mình là nhóm trưởng

Thực trạng kỹ năng làm việc nhóm

-Về kỹ năng lập kế hoạch hoạt động nhóm:

Trang 26

Có 77% ý kiến đánh giá đây là một kỹ năng rất cần thiết trong hoạt động học

tập theo nhóm.Trong thực tế hầu hết các nhóm đều không vạch kế hoạch cụ thểtrước khi thực hiện một bài tập nào đó, hoặc có lập nhưng không hợp lý, vì thếnhiều khi không chủ động được thời gian, không phân công nhiệm vụ kịp thời nên

sự đầu tư cho bài tập còn hạn chế dẫn đến kết quả hoạt động nhóm không cao

- Về kỹ năng xây dựng nội quy hoạt động nhóm :

Khi điều tra, đa số sinh viên nhận thấy sự cần thiết của kỹ năng xây dựng nộiquy nhóm, nhưng trong thực tế tỷ lệ xây dựng nội quy chiếm 54.79% (trong đó

85.4 % thực hiện tốt nội quy còn 14.6 % không thực hiện tốt), phần khá lớn các nhóm vẫn chưa xây dựng nội quy chiếm tỉ lệ 45.21%.Trong thực tế phần lớn các

nhóm không có các quy định rõ ràng (về thời gian, trách nhiệm, quyền lợi ) để cácthành viên thực hiện nên hiệu quả và sự nghiêm túc trong hoạt động nhóm còn thấp(đi muộn, về sớm, không đóng góp ý kiến, không thực hiện nhiệm vụ được giao )

Có những nhóm xây dựng nội quy nhưng lại không thực hiện tốt nội quy

Một khuynh hướng trái ngược là luôn luôn cố gắng cho ý kiến của mình là tốt

và chẳng bao giờ chịu chấp nhận ý kiến của bât kỳ ai khác Một số thành viêntrong nhóm cho rằng mình giỏi nên chỉ bàn luận trong phạm vi những người màmình cho là tài giỏi trong nhóm, hoặc đưa ý kiến của mình ra mà không cho ngườikhác tham gia

Đây là yếu tố quan trọng gây ra sự chia rẽ trong nhóm nhóm Khi cả đội bànbạc với nhau, một số thành viên hoặc nghĩ rằng ý kiến của mình không tốt nênkhông chịu nói ra hoặc cho rằng đề tài quá chán nên không tốn thời gian Thế là,trong khi phải bàn luận kỹ hơn để giải quyết vấn đề lại quay sang nói chuyện riêngvới nhau Cho đến khi thời gian chỉ còn 5-10 phút thì tất cả mới bắt đầu quay sang,đùn đẩy nhau phát biểu Và chính lúc đã có một người lên thuyết trình, chúng ta

Trang 27

vẫn cứ tiếp tục bàn về chuyện riêng của mình mà không quan tâm đến nội dunghay mục tiêu đề ra Kết quả là chúng ta hoặc là không hiểu sẽ làm gì, hoặc sẽ thựchiện với sự bất mãn, không đem lại hiệu quả cao cho nhóm.

- Về kỹ năng phân công nhiệm vụ rõ ràng, hợp lý

Qua điều tra:41.67% ý kiến chọn phương án“mỗi người một việc rồi tập hợp lại”, 35.71% chọn “trải đều cho các thành viên ”, 9.33% chọn “tập trung vào cá nhân xuất sắc”, 13.29% cho rằng phân công nhiệm vụ dựa trên năng lực của thành

viên Các số liệu này cho thấy các nhóm học tập trong khóa VI có rất nhiều cáchphân chia nhiệm vụ, trong đó đa số các nhóm chia nhiệm vụ theo cách mỗi ngườimột việc rồi tập hợp lại chứ chưa chú ý đến năng lực, sở trường của thành viên Chính do sự thảo luận không dứt điểm, phân chia công việc không phân minhnên ai cũng nghĩ đó là việc của người khác chứ không phải của mình Ngược lại,nếu phải đứng ra làm thì lại sẵn sàng có đủ lý do để biện minh cho những hạn chếcủa mình, và khi gặp thất bại thì luôn tìm mọi lý lẽ để đổ trách nhiệm qua chongười khác, hay từ chối không dám nhận trách nhiệm về mình

Tổ chức công việc hay hoạt động cho nhóm là một kỹ năng cần thiết mà ngay

từ khi còn là học sinh, hay sinh viên, mỗi chúng ta đều cần phải học hỏi để vừagiúp cho sự phát triển của bản thân, vừa góp phần vào sự phát triển chung cho tậpthể mà chúng ta đang hoạt động trong đó Mình vì mọi người thì mọi người sẽ vìmình Đó là yếu tố đem lại thành công cho cuộc sống của mỗi người chúng ta

- Về kỹ năng thảo luận, trao đổi

Đây là kỹ năng được các bạn sinh viên khóa VI đánh giá là cần thiết (chiếm

62%) đối với hoạt động học tập theo nhóm Đa số các nhóm chia đều bài tập chocác thành viên rồi tổ chức thảo luận, trao đổi, bàn bạc với nhau để đi đến thốngnhất, hoàn thiện bài làm Có rất nhiều nhóm thực hiện thảo luận giữa các thành

Ngày đăng: 04/10/2023, 00:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w