1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC HIỆN VỀ QUỐC HỘI

172 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những Vấn Đề Lý Luận Và Thực Tiễn Về Quốc Hội
Tác giả Nguyễn Thúy Hoa
Người hướng dẫn GS.TS. Trần Ngọc Đường
Trường học Học Viện Chính Trị Quốc Gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lý Luận Và Lịch Sử Nhà Nước Và Pháp Luật
Thể loại Luận Án Tiến Sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 172
Dung lượng 298,7 KB
File đính kèm Lý luận và thực tiễn Quốc Hội.rar (296 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước hết, theo chúng tôi, cần phải làm rõ nội hàm của khái niệm chức năng của Quốc hội, để giải quyết về mặt lý luận, Quốc hội nước ta có những chức năng nào? Có sự khác biệt gì giữa chức năng của Quốc hội Việt Nam với Quốc hội các nước khác không? Trong khoa học pháp lý, khi nói đến chức năng của một cơ quan, tổ chức là nói đến các mặt hoạt động, các phương thức hoạt động; cách thức tác động của một cơ quan, tổ chức lên các quan hệ xã hội nhằm đạt được mục đích của cơ quan, tổ chức đó. Chức năng của một cơ quan, tổ chức quan hệ hữu cơ với tính chất, bản chất của cơ quan, tổ chức ấy. Bản chất của cơ quan, tổ chức là gì thì phương thức hoạt động cũng phải thích ứng, phù hợp. Nói một cách khác, chức năng của một cơ quan, tổ chức phản ánh bản chất, tính chất của cơ quan, tổ chức và ngược lại bản chất, tính chất của cơ quan, tổ chức quyết định phương thức hoạt động, chức năng của cơ quan, tổ chức đó. Tuy nhiên, đây là mối quan hệ hai chiều, nếu chức năng của cơ quan, tổ chức phù hợp, hiệu quả thì nó phản ánh đúng đắn và tác động tích cực lên bản chất của cơ quan, tổ chức.

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THÚY HOA

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUỐC HỘI - CƠ QUAN ĐẠI DIỆN CAO NHẤT CỦA

NHÂN DÂN VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nước và Pháp

luật Mã số: 62 38 01 01

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS TRẦN NGỌC ĐƯỜNG

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận án là trung thực Những kết luận trong luận án chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình khoa học nào khác.

Tác giả luận án

Nguyễn Thúy Hoa

Trang 3

1.2 Nhận xét về các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án và

những vấn đề tiếp tục được nghiên cứu trong luận án 15

CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUỐC HỘI - CƠ QUAN

ĐẠI DIỆN CAO NHẤT CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM 292.1 Khái niệm và vai trò của Quốc hội - cơ quan đại diện cao nhất

2.2 Các hình thức thể hiện Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của

Nhân dân và các đảm bảo để Quốc hội là cơ quan đại diện cao

2.3 Quốc hội - cơ quan đại diện của Nhân dân ở các nước và những

bài học kinh nghiệm trong xây dựng, hoàn thiện cơ quan đại

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG QUỐC HỘI - CƠ QUAN ĐẠI DIỆN CAO

3.1 Sự hình thành và phát triển thiết chế Quốc hội - cơ quan đại diện

cao nhất của Nhân dân Việt Nam qua các bản Hiến pháp 703.2 Thực trạng thể hiện Quốc hội - cơ quan đại diện cao nhất của

3.3 Thực trạng các đảm bảo Quốc hội - cơ quan đại diện cao nhất

CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO QUỐC HỘI - CƠ

QUAN ĐẠI DIỆN CAO NHẤT CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM 1234.1 Quan điểm đảm bảo Quốc hội - cơ quan đại diện cao nhất của

4.2 Các giải pháp đảm bảo Quốc hội - cơ quan đại diện cao nhất của

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ 156

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

BMNN Bộ máy nhà nước

ĐBQH Đại biểu Quốc hội

HĐND Hội đồng nhân dân

KTTT

MTTQ

Kinh tế thị trườngMặt trận Tổ quốcNNPQ Nhà nước pháp quyền

TAND Tòa án nhân dân

UBTVQH Ủy ban Thường vụ Quốc hội

VKSND Viện kiểm sát nhân dân

VPQH Văn phòng Quốc hội

VUSTA Liên hiệp các hội khoa học & kỹ thuật Việt NamXHCD Xã hội công dân

XHCN Xã hội chủ nghĩa

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN ÁN

TrangBảng 3.1: Tổng số văn bản luật, pháp lệnh được ban hành trong các

Bảng 3.2: Tỷ lệ số lượng các phiên họp Quốc hội về lập pháp (Khóa XI) 87Bảng 3.3: Số lượng đại biểu, ý kiến đại biểu phát biểu tại hội trường

trong các kỳ họp của Quốc hội có liên quan đến hoạt động

Bảng 3.4: Cơ cấu đại biểu Quốc hội các khóa XI, XII, XIII 119

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong tổ chức bộ máy nhà nước, Quốc hội là thiết chế có vị trí, vai tròđặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo thực thi quyền lực Nhân dân Điều 6,Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định:

“Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dânchủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơquan khác của Nhà nước” Điều 69 quy định: “Quốc hội là cơ quan đại biểucao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộnghoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ”

Sự hiến định này cho thấy ở Việt Nam, thuật ngữ “cơ quan đại biểu caonhất” được hiểu đồng nhất với khái niệm cơ quan đại diện cao nhất trong bộmáy nhà nước Đại diện trở thành một thuộc tính của Quốc hội xuyên suốt vàchi phối vị trí, vai trò, cơ chế hoạt động, cơ cấu đại biểu, hiệu lực đại diện vàthể hiện tập trung nhất qua việc thực hiện các chức năng: lập hiến, lập pháp;quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối vớihoạt động của nhà nước Nói một cách khác, tính đại diện cao nhất của Quốchội Việt Nam bắt nguồn từ bản chất nhà nước dân chủ nhân dân mà chúng ta

đã lựa chọn từ năm 1945 Điều đó được quy định bởi:

Một là, Quốc hội là cơ quan duy nhất do cử tri cả nước bầu ra dựa trên

các nguyên tắc: phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín Đây là nhữngquy định đảm bảo cho mỗi người dân tự do bầu cử, lựa chọn những nhà đạidiện theo ý chí của mình

Hai là, các đại biểu Quốc hội không chỉ đại diện cho Nhân dân ở đơn vị

bầu cử ra mình mà còn đại diện cho Nhân dân cả nước Bởi vậy, Quốc hội cótrách nhiệm cao cả là thay mặt Nhân dân thực hiện đúng và đầy đủ quyền lựcnhà nước, trở thành “đầu dây thần kinh” kết nối các lợi ích trong xã hội

Trang 7

Ba là, là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, có những quyền năng đặc

biệt, song Quốc hội chịu sự giám sát, chịu trách nhiệm trước Nhân dân, có thể

bị bãi nhiệm bởi Nhân dân khi không thực hiện trọng trách chính trị đã đượcgiao phó

Tuy nhiên hiện nay, việc nghiên cứu Quốc hội với tư cách là cơ quan đạidiện cao nhất của Nhân dân chưa được làm rõ cả về lý luận và thực tiễn Ởphương diện lý luận, khái niệm đại diện của Quốc hội chưa được luận giảithống nhất là tính chất hay là một chức năng của Quốc hội Nhiều vấn đềmang tính hệ thống về đại diện của Quốc hội chưa được nghiên cứu như: nộidung đại diện, hình thức thực thi đại diện, tỷ lệ đại diện (chuyên trách, kiêmnhiệm), tư cách đại diện khi xử lý mối quan hệ giữa lợi ích quốc gia, dân tộcvới lợi ích nhóm cử tri của đơn vị bầu cử …

Ở phương diện thực tiễn, hoạt động của Quốc hội chưa tương xứng với

vị trí và vai trò hiến định, Quốc hội chưa mạnh, chưa thực quyền trong quyếtđịnh các vấn đề quan trọng của đất nước, trong giám sát tối cao hoạt động củanhà nước

Trong điều kiện đẩy mạnh công cuộc xây dựng và hoàn thiện nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa; mở rộng và phát huy quyền làm chủ của Nhândân; đảm bảo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công,phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện cácquyền lập pháp, hành pháp, tư pháp thì việc tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạtđộng của Quốc hội, làm sáng tỏ cả về phương diện lý luận lẫn thực tiễn về vaitrò đại diện, các điều kiện đảm bảo để Quốc hội thực thi hoạt động đại diệnNhân dân cao nhất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng

Với nhận thức nói trên, tác giả lựa chọn: “Những vấn đề lý luận và thực

tiễn về Quốc hội - cơ quan đại diện cao nhất của Nhân dân Việt Nam” làm

đề tài luận án tiến sĩ Luật học với mong muốn nghiên cứu và làm rõ tính đạidiện Nhân dân cao nhất của Quốc hội, đóng góp thêm vào kho tàng lý luận vềQuốc hội ở nước ta

Trang 8

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận và phân tích, đánh giá thực tiễn làm sáng tỏcác hình thức thực thi đại diện, các điều kiện đảm bảo Quốc hội là cơ quan đạidiện cao nhất Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp để Quốc hội thực sự là cơquan đại diện cao nhất của Nhân dân Việt Nam

2.2 Nhiệm vụ của luận án

Để thực hiện mục đích nói trên, luận án có nhiệm vụ:

- Khảo cứu các công trình khoa học về đại diện của Quốc hội ở trong vàngoài nước Từ đó rút ra những giá trị tham khảo và hướng nghiên cứu mớicho luận án

- Phân tích và làm sáng tỏ bản chất và vai trò đại diện cao nhất của Quốchội; nghiên cứu tính đại diện của một số Quốc hội/Nghị viện các nước trênthế giới để rút ra các giá trị có thể kế thừa và phát triển trong xây dựng Quốchội - cơ quan đại diện cao nhất ở nước ta

- Chỉ ra và đánh giá thực trạng hình thức thể hiện đại diện, các đảm bảođại diện của Quốc hội Việt Nam

- Đề xuất quan điểm và giải pháp phát huy tính đại diện Nhân dân caonhất của Quốc hội Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu là vấn đề đại diện của Quốc hội, vai trò đại diệnQuốc hội, các yếu tố đảm bảo đại diện cao nhất của Quốc hội, các hình thứcthể hiện đại diện cao nhất của Quốc hội Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề đại diện củaQuốc hội Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, đặc biệt là từ Hiến pháp năm 1992đến nay

4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở phương pháp luận

Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ đặt ra, luận án đượcthực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử

Trang 9

của triết học Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của ĐảngCộng sản Việt Nam về bản chất nhà nước, về tổ chức và hoạt động củaBMNN nói chung, của Quốc hội nói riêng.

4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Luận án sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu và có sự phối hợp giữachúng khi nghiên cứu, đó là các phương pháp cơ bản sau đây:

- Phương pháp phân tích: phương pháp này được sử dụng chủ đạo trongnghiên cứu để làm rõ các vấn đề lý luận đại diện của Quốc hội cũng như xácđịnh các giải pháp đảm bảo tính đại diện của Quốc hội Việt Nam

- Phương pháp lịch sử, so sánh: được sử dụng khi nghiên cứu kinhnghiệm của một số nước, đánh giá thực trạng, các biện pháp đảm bảo tính đạidiện của Quốc hội/Nghị viện ở một số nước

- Phương pháp tổng hợp: phương pháp này được sử dụng để khái quát,

hệ thống hóa các vấn đề; tổng kết lý luận, lịch sử, thực tiễn, kinh nghiệm pháp

lý của một số nước trên thế giới; đánh giá thực trạng tổ chức, hoạt động củaQuốc hội Việt Nam hiện nay

- Phương pháp khảo cứu tài liệu: Phương pháp này được sử dụng đểphân tích, đánh giá, tổng kết các công trình đã nghiên cứu, kinh nghiệm nướcngoài

5 Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận án

Là luận án đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lýluận và thực tiễn về Quốc hội - cơ quan đại diện cao nhất của Nhân dân ViệtNam nên có một số đóng góp mới sau đây:

- Chỉ rõ Quốc hội - cơ quan đại diện cao nhất của Nhân dân là một tínhchất đặc biệt quan trọng thể hiện xuyên suốt trong tổ chức và hoạt động củaQuốc hội Để giữ vững tính đại diện này, luận án đã chỉ rõ các yếu tố đảm bảocho Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất trên các phương diện: chính trị,pháp lý, tổ chức, nhân sự; các hình thức thể hiện đại diện cao nhất của Quốchội Việt Nam

Trang 10

- Phân tích sâu sắc và toàn diện những kết quả đã đạt được, chỉ ra nhữnghạn chế trong việc thực thi đại diện, trong đảm bảo Quốc hội thực sự là cơquan đại diện cao nhất ở Việt Nam.

- Xây dựng các quan điểm, đề xuất các giải pháp đảm bảo Quốc hội là cơquan đại diện cao nhất của Nhân dân trong tổ chức và hoạt động của Quốchội, là thiết chế để Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước của mình

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Kết quả nghiên cứu của luận án có ý nghĩa to lớn về lý luận và thực tiễn:

- Về lý luận: Luận án góp phần làm phong phú thêm những vấn đề lý

luận về đại diện, đại diện của Quốc hội, vai trò đại diện Nhân dân cao nhấtcủa Quốc hội

- Về thực tiễn: Luận án đưa ra những giải pháp, những kiến nghị làm cơ

sở thực tiễn để các nhà lập pháp, các cơ quan hoạch định chính sách cũng nhưđội ngũ cán bộ làm công tác nghiên cứu, giảng dạy có cách nhìn sâu sắc, toàndiện hơn về vị trí, vai trò của Quốc hội trong tổ chức BMNN với tư cách là cơquan đại diện cao nhất của Nhân dân; trên cơ sở đó có những đóng góp tíchcực trong hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của Quốc hội ViệtNam Kết quả nghiên cứu của luận án cũng có thể làm tài liệu tham khảo chođại biểu Quốc hội, những người quan tâm nghiên cứu, làm công tác về ĐBQH

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungluận án gồm 4 chương, 10 tiết

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Dân chủ, đại diện và Quốc hội là những vấn đề liên quan, gắn bóchặt chẽ với nhau trong khoa học chính trị, khoa học pháp lý Đó cũng là

đề tài được nhiều học giả nghiên cứu xuyên suốt lịch sử nhà nước và phápluật Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài luận án, tác giả chỉ khảo sát nhữngcông trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến vấn đề Quốc hội với tínhchất là cơ quan đại diện của Nhân dân Đặc biệt là nhóm các công trìnhnghiên cứu về những nội dung được xây dựng trong kết cấu luận án:

i) Khái niệm đại diện, đại diện của Quốc hội và vai trò của Quốc hộivới tính chất là cơ quan đại diện Nhân dân;

ii) Các đảm bảo đại diện và các hình thức thể hiện đại diện của Quốc hội;iii) Thực trạng đảm bảo đại diện và các hình thức thể hiện đại diện củaQuốc hội;

iv) Các giải pháp phát huy vai trò của Quốc hội với tính chất là cơ quanđại diện cao nhất của Nhân dân

1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN TỚI QUỐC HỘI VỚI TÍNH CHẤT LÀ CƠ QUAN ĐẠI DIỆN CỦA NHÂN DÂN

1.1.1 Các công trình nghiên cứu trong nước

Khảo sát trong thời gian gần đây cho thấy, các công trình nghiên cứu vềQuốc hội rất đa dạng và phong phú Trước những yêu cầu xây dựng NNPQ,hoàn thiện tổ chức BMNN, nhiều tác giả tập trung nghiên cứu về vị trí pháp

lý, đổi mới tổ chức bộ máy Quốc hội Đặc biệt nhiều công trình nghiên cứuchuyên sâu vào từng chức năng lập pháp, quyết định và giám sát tối cao củaQuốc hội cũng như nghiên cứu mối quan hệ giữa Quốc hội với Chính phủ vàTòa án trong phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực nhà nước Riêngnghiên cứu liên quan trực tiếp đến nội dung của luận án có thể kể đến một sốcông trình tiêu biểu sau đây:

1.1.1.1 Về lý luận đại diện, đại diện của Quốc hội và vai trò của Quốc hội với tính chất là cơ quan đại diện Nhân dân

Trần Ngọc Đường, “Xây dựng mô hình tổ chức, phương thức hoạtđộng của Quốc hội và Chính phủ trong NNPQ xã hội chủ nghĩa của dân, do

Trang 12

dân và vì dân” [30], đề tài nghiên cứu nội dung rộng, bao gồm cơ sở lý luậncủa việc đổi mới mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội vàChính phủ trong NNPQ XHCN Việt Nam; đánh giá thực trạng và đưa ra cácyêu cầu cũng như xây dựng mô hình Quốc hội, Chính phủ đến năm 2010 vàcác năm tiếp theo Trong phần I, chương 2 (lý luận), đề tài dành một phầnnghiên cứu vị trí và chỉ ra thuộc tính đại diện của Quốc hội, vai trò đại diệnQuốc hội trong hệ thống tổ chức quyền lực chính trị và tổ chức quyền lực nhànước trong NNPQ XHCN Việt Nam.

Ngô Đức Mạnh, “Cơ sở lý luận và thực tiễn về vị trí, vai trò, nhiệm vụ,quyền hạn của Quốc hội trong BMNN và hệ thống chính trị Việt Nam (quabốn bản Hiến pháp)” [58], đề tài khảo sát cụ thể, logic về quá trình hình thành

và phát triển của Quốc hội Việt Nam qua bốn bản Hiến pháp Trong phần lýluận, đề tài có những phân tích biểu hiện tính đại diện của Quốc hội, tuy nhiênkhông nghiên cứu sâu mà tập trung phân tích vào các nhiệm vụ, quyền hạncủa Quốc hội

Cuốn “Mô hình tổ chức và hoạt động của nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa Việt Nam” của tác giả Đào Trí Úc [105], công trình tập trung vàonghiên cứu tổ chức và hoạt động của nhà nước ta, trong đó Quốc hội có mộtvai trò, vị trí quan trọng trong BMNN Tuy không nghiên cứu sâu về đại diệnQuốc hội nhưng để Quốc hội hoạt động hiệu quả trong NNPQ XHCN, nhómtác giả đặt vấn đề phải đảm bảo tính chất đại diện của Quốc hội Đây là việclàm cấp thiết và quan trọng, là điều kiện để thực thi quyền lực Nhân dân quahình thức dân chủ gián tiếp

Cuốn “Chức năng đại diện của Quốc hội trong nhà nước pháp quyền”của Văn phòng Quốc hội [118] đã tập hợp 11 bài viết của các tác giả trong vàngoài nước tham gia hội thảo cùng tên năm 2007 Vì vậy cuốn sách là các bàiviết nghiên cứu tản mạn về đại diện Quốc hội với nhận thức là một chứcnăng, việc hiến định hóa chức năng, đo mức độ đại diện, đảm bảo tính đạidiện, … Cuốn sách chưa hình thành hệ thống quan điểm về đại diện Quốc hội,đặc biệt chưa xác định đại diện là tính chất hay chức năng của Quốc hội nhưtiêu đề của cuộc hội thảo Tuy nhiên, đây cũng là tài liệu có giá trị, bước đầu

Trang 13

cung cấp nhiều góc nhìn về đại diện Quốc hội ở Việt Nam và một số nướctrên thế giới Đây là những kết quả khảo cứu về đại diện Quốc hội ở một sốnước, làm cơ sở cho tác giả nghiên cứu, so sánh khi xây dựng lý luận về đạidiện Quốc hội tại chương 2 trong luận án tiến sĩ của mình.

Cuốn “Tổ chức và hoạt động của Nghị viện một số nước trên thế giới”của Nguyễn Sĩ Dũng [19] là thành quả nghiên cứu chuyên sâu về Nghị việncác nước trên thế giới, tập trung vào chức năng, thẩm quyền, cơ cấu tổ chức,quy trình thủ tục hoạt động và bộ máy giúp việc Nghị viện Liên quan đến nộidung đại diện Quốc hội, Nhóm tác giả dành một phần nhỏ khảo sát và đưa ra

quan niệm đại diện là một chức năng bên cạnh các chức năng khác của Quốc

hội như: lập pháp, giám sát, tài chính - ngân sách Cũng từ quan niệm này cácnhiệm vụ được đặt ra tương ứng với chức năng đại diện là: Làm hài lòng cửtri và bảo đảm lợi ích quốc gia; phục vụ cử tri tại khu vực bầu cử; giữ mối liên

hệ với cử tri, … Đây là những nội dung mang tư tưởng hiện đại về Quốc hộicủa các nước trên thế giới

Luận án phó tiến sĩ Luật học: “Đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơquan đại diện ở nước ta hiện nay” của Chu Văn Thành [91], không chỉ nghiêncứu về cơ quan đại diện cao nhất là Quốc hội, luận án khảo cứu hệ thống cơquan đại diện (trung ương và địa phương) ở nước ta được tổ chức và hoạtđộng từ năm 1946 - 1992 Qua nghiên cứu, đánh giá, luận án khẳng định dânchủ đại diện là phương thức chủ yếu và quan trọng để thực hiện dân chủXHCN ở Việt Nam Luận án đã:

Phân tích một cách hệ thống cấu trúc của khái niệm dân chủ (với tínhcách là một hình thức nhà nước) Xác định và luận chứng những khía cạnhbức xúc nhất trong đổi mới cơ cấu và tiêu chuẩn của đại biểu nước ta hiệnnay Về cơ cấu, luận án xác định tỷ lệ đảng viên, những người giữ cương vịchủ chốt trong bộ máy hành pháp, các chuyên gia trên các lĩnh vực Về tiêuchuẩn, khẳng định yếu tố trí tuệ là phẩm chất hàng đầu của người đại biểu

Xác định bước đổi mới cơ quan đại diện (Quốc hội) hiện nay là bướcquá độ nhằm chuyển Quốc hội sang hoạt động thường xuyên Điều đó đượcthể

Trang 14

hiện trong việc đổi mới các cơ quan của Quốc hội; ở “liều lượng” hoạt độngthường xuyên của các Ủy ban, của ĐBQH, ở thời gian làm việc mỗi kỳ họp.

Cũng theo lập luận của tác giả, chế độ dân chủ đại diện XHCN ra đờigắn liền với nguyên tắc thống nhất quyền lực Thống nhất quyền lực lànguyên tắc tổ chức nhà nước phủ định biện chứng nguyên tắc phân quyền, dovậy một mặt khắc phục những nhược điểm của nguyên tắc phân quyền, mặtkhác kế thừa những yếu tố hợp lý của nguyên tắc này Trên tinh thần đó, tácgiả nhận thức về vị trí của cơ quan đại diện (Quốc hội) như sau:

Một là, trong chủ nghĩa xã hội, tất cả quyền lực thuộc về Nhân dân, ở

đây có sự thống nhất giữa quyền lực chính trị (quyền lực của giai cấp côngnhân) với quyền lực nhà nước (quyền lực chung của cả cộng đồng)

Hai là, quyền lực Nhân dân được thực hiện bằng chế độ đại diện, cơ

quan đại diện cao nhất của Nhân dân (Quốc hội), được Nhân dân ủy thácquyền lực, do đó có vị trí toàn quyền đối với các cơ quan nhà nước khác vàđại diện tối cao của xã hội Các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp được coi

là ba bộ phận của một quyền lực thống nhất thuộc về Quốc hội

Ba là, do đặc điểm về cấu tạo tổ chức và phương thức hoạt động, Quốc

hội không trực tiếp thực hiện được các quyền hành pháp, tư pháp (các quyềnnày do Chính phủ và cơ quan kiểm sát, xét xử thực hiện) Để bảo đảm được vịtrí toàn quyền, Quốc hội định cho nó các thẩm quyền chi phối các cơ quanhành pháp, tư pháp trong Hiến pháp

Với việc chỉ ra vị trí toàn quyền của Quốc hội và lý giải nguồn gốc vịtrí ấy, luận án của Chu Văn Thành đã khẳng định quyền lực tối cao của Quốchội Tuy nhiên, luận án dừng lại ở đây, không đi vào nghiên cứu các điều kiệnđảm bảo cho Quốc hội giữ được vị trí đó Đặc biệt không chỉ ra các cơ chếkiểm soát quyền lực, điều này có khả năng dẫn tới tính “siêu quyền” của chủthể Quốc hội trong BMNN Đây là điểm mà các tác giả sau này cần phát triển

và làm rõ khi nghiên cứu về Quốc hội - cơ quan đại diện cao nhất của Nhândân nhưng không phải là thiết chế đứng trên Nhân dân Cùng với quyền lậppháp, các quyền hành pháp, tư pháp là bộ phận cấu thành quyền lực Nhândân, không quyền nào phái sinh ra quyền nào

Trang 15

Nhóm bài viết về tính đại diện của Quốc hội Việt Nam đăng trên cáctạp chí như: “Quốc hội Việt Nam - những vấn đề chuyển sang Nghị viện” củaNguyễn Cảnh Hợp [43]; “Bàn về tính đại diện nhân dân của Quốc hội” củaNguyễn Quang Minh [66]; “Để mãi mãi xứng đáng là cơ quan đại biểu caonhất của nhân dân” của Nguyễn Văn An [1]; “Các mô hình Quốc hội” củaNguyễn Đăng Dung [12]; “Phát huy vai trò đại diện nhân dân của đại biểuQuốc hội trong hoạt động lập pháp” của Trần Ngọc Đường [33] ; “Tiêu chí vàyếu tố bảo đảm hiệu quả tính đại diện của Quốc hội” của Vũ Văn Nhiêm [70],

“Dân chủ đại diện và vấn đề bầu cử” của Trần Nho Thìn [95] …

Có thể nhận định, các công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập đến vấn

đề đại diện của Quốc hội trên một số khía cạnh cụ thể, nhưng chưa mang tính

hệ thống Tuy nhiên đều là những tư liệu tham khảo có giá trị cho luận án

1.1.1.2 Các đảm bảo đại diện và các hình thức thể hiện đại diện của Quốc hội

Như đề dẫn ở đầu chương, Quốc hội là đề tài được nghiên cứu sâu rộng

cả ở trong và ngoài nước Bên cạnh việc nghiên cứu vị trí, vai trò của Quốchội trong tổ chức BMNN thì việc nghiên cứu các bảo đảm, các hình thức thựcthi đại diện của Quốc hội cũng được các tác giả đề cập đến qua một số côngtrình nghiên cứu tiêu biểu như:

Luận án tiến sĩ “Nhà nước xã hội chủ nghĩa với việc xây dựng nền dânchủ ở Việt Nam hiện nay” của Đỗ Trung Hiếu [42] đã nghiên cứu mối quan

hệ giữa nhà nước với dân chủ; những yếu tố quy định hiệu quả tác động củanhà nước ta đối với quá trình xây dựng nền dân chủ hiện nay Không nghiêncứu trực tiếp về Quốc hội, nhưng trong chương 1, luận án nghiên cứu về lýluận dân chủ, việc xây dựng nền dân chủ gián tiếp ở Việt Nam với vai trò củanhà nước XHCN Từ đó khẳng định: i) Dân chủ hóa nhà nước là một tínhquy luật trong lịch sử tồn tại, phát triển nhà nước; ii) NNPQ XHCN là độnglực thúc đẩy quá trình dân chủ; iii) Dưới tác động của xu hướng dân chủtrên thế giới, áp lực của toàn cầu hóa, đại diện gián tiếp của nền dân chủtruyền thống dần dần bị thay thế bởi tính trực tiếp trong việc thực hiệnquyền lực Nhân dân

Trang 16

Tuy mã ngành nghiên cứu là triết học, nhưng đây là công trình giúp choluận án tham khảo các quan điểm về vai trò của NNPQ XHCN đối với tiếntrình dân chủ hóa ở Việt Nam, cũng như xu hướng mở rộng dân chủ trực tiếptrong một số nội dung quản lý nhà nước cụ thể Từ đó xây dựng ý tưởng vềmột trong các điều kiện đảm bảo Quốc hội - cơ quan đại diện cao nhất củaNhân dân, đó là: dân chủ, pháp quyền và xã hội công dân.

Luận án tiến sĩ “Hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo đảm chức năng giám sátcủa Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” của Trương ThịHồng Hà [36] đã tập trung nghiên cứu chuyên sâu về chức năng giám sát củaQuốc hội với ba nội dung: i) Cơ sở lý luận về cơ chế pháp lý đảm bảo chứcnăng giám sát của Quốc hội; ii) Thực trạng của cơ chế pháp lý đảm bảo chứcnăng giám sát của Quốc hội; iii) Phương hướng và các giải pháp hoàn thiện

cơ chế pháp lý đảm bảo chức năng giám sát của Quốc hội

Luận án phản ánh một cách toàn diện về hoạt động giám sát của Quốchội Việt Nam trong những năm qua, có so sánh đối chiếu với hoạt động giámsát của Quốc hội một số nước trên thế giới Trong phạm vi đề tài “Quốc hội -

cơ quan đại diện cao nhất của Nhân dân …” của mình, có thể tham khảo kếtquả nghiên cứu ở hai nội dung: các biểu hiện của tính đại diện Quốc hội(trong phần lý luận), và thực trạng của cơ chế pháp lý đảm bảo chức nănggiám sát của Quốc hội

Luận án tiến sĩ “Đảm bảo tính đại diện của Quốc hội đáp ứng yêu cầuxây dựng NNPQ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” của Hoàng MinhHiếu [41] đã xây dựng các yếu tố đảm bảo tính đại diện Quốc hội Việt Namxét theo cấu trúc đại diện bao gồm: i) Các yếu tố đảm bảo tính đại diện trongcách thức hình thành mối quan hệ đại diện: nguyên tắc phổ thông đầu phiếu,nguyên tắc bình đẳng, nhiệm kỳ của các ĐBQH; ii) Các yếu tố đảm bảo tínhtương đồng giữa các ĐBQH với cử tri; iii) Các yếu tố đảm bảo năng lực đạidiện của ĐBQH như chất lượng đại biểu, mối quan hệ giữa cử tri với cácĐBQH; iv) Các yếu tố đảm bảo nội dung đại diện: sự lắng nghe của ĐBQH,việc đảm bảo quyền tự do xét đoán của đại biểu, bảo đảm phản ánh ý chíchung của xã hội

Trang 17

Đây là những quan điểm khoa học có ý nghĩa khi nghiên cứu cấu trúccủa tính đại diện của Quốc hội Đồng thời luận án cũng là công trình dày côngnghiên cứu, phong phú về số liệu hoạt động thực tiễn của Quốc hội Việt Nam,

có nghĩa gợi mở cho các nhà nghiên cứu sau này Tuy nhiên, bên cạnh cácđiều kiện đảm bảo tính đại diện của Quốc hội về cấu trúc bên trong như ở trên

đã diễn giải, luận án chưa đề cập đến các điều kiện bảo đảm (bên ngoài) như:

sự ổn định chính trị (Đảng cầm quyền), điều kiện dân trí, dân sinh … và chưachỉ ra được các hình thức thể hiện đại diện của Quốc hội Việt Nam Đây làhướng đi mới của luận án

Liên quan đến việc xây dựng chế độ bầu cử, có nhiều đầu sách chuyênkhảo như: “Chế độ bầu cử của một số nước trên thế giới” của Nguyễn HồngAnh [2]; “Hệ thống bầu cử ở Anh, Mỹ và Pháp - Lý thuyết và hiện đại” củaLưu Văn Quảng [74]; “Một số vấn đề về hoàn thiện chế độ bầu cử đại biểuHội đồng nhân dân ở Việt Nam hiện nay” của Vũ Thị Loan [54] Đây lànhững tài liệu không trực tiếp nghiên cứu về đại diện của Quốc hội, song đềugián tiếp khẳng định thiết chế bầu cử khoa học, minh bạch là một trong cácđiều kiện đảm bảo tính chất đại diện, dân chủ của Quốc hội

1.1.1.3 Thực trạng đảm bảo đại diện và các hình thức thể hiện đại diện của Quốc hội

Cuốn “Đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở Việt Nam hiện nay” của LêMinh Thông [97] Cuốn sách là công trình nghiên cứu đồ sộ, bao quátnhiều nội dung từ yêu cầu đổi mới BMNN Việt Nam, khảo cứu quá trìnhđổi mới mô hình BMNN từ năm 1946 đến nay, đánh giá thực trạng mô hình

và phương hướng đổi mới mô hình BMNN Trong đó, tác giả có đề cập(không tập trung) đến tính chất đại diện của Quốc hội khi nghiên cứu môhình Quốc hội trong lịch sử lập hiến Việt Nam; trong xác lập mối quan hệgiữa nhà nước và Đảng cầm quyền, khắc phục nguy cơ Đảng bao biện, làmthay nhà nước hoặc buông lỏng vai trò lãnh đạo của mình đối với nhà nước,

từ đó ảnh hưởng đến sự ủy quyền của Nhân dân trong điều kiện lịch sử củanước ta

Trang 18

Luận án tiến sĩ Luật học “Chế độ bầu cử ở nước ta: những vấn đề lýluận và thực tiễn” của Vũ Văn Nhiêm [69], có thể nói đây là một công trìnhnghiên cứu khá sâu về lý luận, phong phú về thực tiễn của hoạt động bầu cửtại Việt Nam hiện nay Trong việc phân tích thực trạng, tác giả khảo sát vàchỉ ra những bất cập của chế độ bầu cử hiện nay như: sự chưa bình đẳngtrong cách phân chia đơn vị bầu cử/số dân giữa các đô thị lớn; quy trìnhhiệp thương còn mang tính hình thức; những rào cản đối với người tự ứng

cử, những người thuộc diện trung ương giới thiệu về địa phương ứng cử

Trên cơ sở đó, tác giả Vũ Văn Nhiêm đưa ra các giải pháp nhằm đổimới chế độ bầu cử, phát huy dân chủ ở Việt Nam Có thể nhận định, đây làmột công trình nghiên cứu về đảm bảo tính đại diện của Quốc hội thông quaviệc xây dựng chế độ bầu cử dân chủ, khoa học Tuy nhiên, vì giới hạn nghiêncứu ở thể chế bầu cử, luận án không bàn đến các điều kiện đảm bảo khác chotính đại diện cao nhất của Quốc hội như: cơ cấu tổ chức của Quốc hội, cơ chếgiám sát quyền lực cao nhất của Quốc hội hay các điều kiện đảm bảo về chínhtrị, về cơ sở vật chất Đây chính là một nội dung nghiên cứu mới mà luận án:Quốc hội - cơ quan đại diện cao nhất của Nhân dân - những vấn đề lý luận vàthực tiễn cần làm rõ

1.1.1.4 Các giải pháp phát huy vai trò của Quốc hội với tính chất là

cơ quan đại diện cao nhất của Nhân dân

Cuốn “Quốc hội Việt Nam trong nhà nước pháp quyền” của NguyễnĐăng Dung [14], tác giả tập trung phân tích những yêu cầu của Quốc hội theotiêu chí của mô hình NNPQ Trong phần lý luận và những giải pháp, tác giảlập luận và đưa ra những giải pháp để Quốc hội thực hiện được tính đại diệnthông qua cơ chế ủy thác từ Nhân dân

Luận văn thạc sĩ “Nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực đại diệncủa đại biểu Quốc hội ở nước ta hiện nay” của Nguyễn Quang Hương [48],tác giả chỉ tập trung đánh giá thực trạng hoạt động và năng lực đại diện củađại biểu qua các số liệu hoạt động của Quốc hội khóa X, XI Những vấn đề

lý luận đại diện, cơ sở pháp lý của nâng cao năng lực đại diện, tiêu chíđánh giá năng lực đại biểu dân cử còn chung chung, mang tính khái lược

Trang 19

Tuy vậy, đây là công trình có ý nghĩa cho việc nghiên cứu về Quốc hội khi

đã đưa ra giải pháp nâng cao năng lực đại diện của ĐBQH (lựa chọn đạibiểu xứng đáng, đẩy mạnh hoạt động bồi dưỡng đại biểu dân cử, có phụcấp phù hợp, tương xứng, …)

1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

Trên thế giới, có không ít công trình nghiên cứu về dân chủ đại diện,đại diện chính trị hay luận sâu về Chính phủ đại diện Nhưng ở góc độ trựctiếp bàn về đại diện Quốc hội có phần hạn chế hơn Tuy nhiên có một số tácphẩm tiêu biểu sau:

Cuốn “The Concept of Representation” (Khái niệm đại diện) của họcgiả Hana Pitkin [135], đây là công trình nghiên cứu toàn diện nhất về kháiniệm đại diện chính trị Lần đầu tiên, vấn đề đại diện được Pitkin xác địnhqua bốn góc nhìn về đại diện đó là: đại diện hình thức, đại diện biểutượng, đại diện đồng dạng và đại diện nội dung Mỗi một góc nhìn cungcấp một cách tiếp nhận khác nhau về đại diện, những tiêu chuẩn khácnhau về việc đánh giá những người đại diện Đàm luận cổ điển này củakhái niệm đại diện là một trong những nghiên cứu có sức ảnh hưởng vàthường được trích dẫn trong lý luận về đại diện Quốc hội sau này Người đọc

có thể tìm thấy khái niệm đại diện chính trị của Hana Pitkin được trích dẫnphổ biến trong nhiều bài viết khác, cũng như soi lý thuyết đại diện của Bà vàothực tế Quốc hội của mỗi nước, trong đó có Việt Nam

Cuốn “Parliaments and Citizens in Western Europe” (Các Nghị viện vàcông dân ở Tây Âu) của Philip Norton [138], cuốn sách bàn trực tiếp cơ chếđại diện, phạm vi đại diện thông qua mối quan hệ giữa Nghị viện và công dântại các nước Tây Âu Từ việc phân tích bản chất, mức độ mối quan hệ giữanghị sĩ và cử tri, cuốn sách đề cập đến đảm bảo để Nghị viện đại diện tốt nhấtcho người dân ở các nước Tây Âu Học giả Việt Nam có thể đọc và liên hệđến thực trạng giữ mối liên hệ giữa ĐBQH và cử tri tại các đơn vị bầu cử đãbầu ra đại diện của họ, từ đó đưa ra các giải pháp gắn kết mối quan hệ này,đảm bảo cho tiếng nói của nhà đại diện là tiếng nói của cử tri

Trang 20

Cuốn “Political Representation” (Đại diện chính trị) của Ian Shapiro[137], đây là tập hợp các công trình nghiên cứu về tiến trình phát triển đại diệnchính trị qua ba cấp độ: trước khi hình thành nền dân chủ đại diện, lý luận dânchủ đại diện và thực tiễn đại diện chính trị hiện nay Cuốn sách cung cấp chongười đọc một góc nhìn về quá trình phát triển đi lên của đại diện chính trị trênthế giới.

Cuốn “Representation And Institutional Design” (Đại diện và thiết kếthể chế) của Rebekah L Herrick [140], giới hạn trong phạm vi Nghị viện liênbang Hoa kỳ và một số Nghị viện tiểu bang, tác giả phân tích những tác động,vai trò của việc xây dựng thiết chế đại diện đối với Nghị viện Công trìnhcũng đi sâu phân tích các quy định thực định về bầu cử, cơ cấu, tổ chức,nhiệm kỳ của Nghị viện và mối quan hệ của chúng trong việc bảo đảm tínhđại diện của Nghị viện Hoa Kỳ

1.2 NHẬN XÉT VỀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ TIẾP TỤC ĐƢỢC NGHIÊN CỨU TRONG LUẬN ÁN 1.2.1 Nhận xét về các công trình nghiên cứu có liên quan đến luận án

1.2.1.1 Xét trên phương diện lý luận đại diện, đại diện Quốc hội

Dựa trên nghiên cứu của các đại biểu tiêu biểu thời kỳ cận hiện đại nhưT.Hobbes (1588 - 1679), Jlock (1632 - 1704), Motespueau (1689 - 1755), JJ.Rousseaus (1712 - 1778) … về nguồn gốc quyền lực, về cơ chế đại diện choquyền lực Nhân dân (hay còn gọi là giới hạn của sự ủy quyền, phạm vi đạidiện, hình thức đại diện), các công trình nghiên cứu của các tác giả tập trungluận giải những vấn đề sau:

i) Khẳng định Quốc hội là thiết chế đại diện cần thiết để thực thi quyềnlực Nhân dân trong quản lý xã hội Phân tích, luận giải đại diện là chức nănghay thuộc tính vốn có của Quốc hội;

ii) Các yếu tố đảm bảo, các hình thức thể hiện đại diện Quốc hội

Trên cơ sở các quy định pháp lý trong Hiến pháp và luật về tổ chứcBMNN, nhiều tác giả có chung quan điểm khi khẳng định Quốc hội là thiếtchế thực thi đại diện hữu hiệu, đảm bảo quyền lực Nhân dân trong điều hànhquản lý xã hội Khẳng định vai trò của Quốc hội trong hệ thống tổ chức quyền

Trang 21

lực chính trị và tổ chức quyền lực nhà nước, là cơ quan đại biểu cao nhất, cơquan quyền lực nhà nước cao nhất Điều đó là do các yếu tố sau quyết định:

Một là, do cách thức thành lập: Quốc hội là cơ quan nhà nước duy nhất

do cử tri cả nước bầu ra, theo nguyên tắc phổ thống, bình đẳng, trực tiếp, bỏphiếu kín Thông qua bầu cử, “Nhân dân ủy thác quyền lực nhà nước củamình cho Quốc hội Quốc hội đại diện cho ý chí và nguyện vọng của Nhândân cả nước, thay mặt Nhân dân cả nước quyết định các công việc trọng đạicủa đất nước và chịu trách nhiệm trước Nhân dân cả nước” [32, tr.30]

Hai là, về cơ cấu tổ chức, Quốc hội bao gồm các đại biểu đại diện cho

các thành phần, tầng lớp trong xã hội, là hình ảnh thể hiện khối đại đoàn kếttoàn dân, đại diện cho trí tuệ của đất nước Ở góc độ phân tích này, rất nhiềutác giả đồng tình rằng, không nên máy móc, xơ cứng về cơ cấu thành phần,không nên quan niệm phải có tỷ lệ tương ứng giữa cơ cấu ngành nghề, dântộc, vùng miền trong trong xã hội và trong cơ quan đại diện Điều đó sẽ cảntrở quá trình nâng cao chất lượng cơ quan đại diện trong điều kiện ở ViệtNam, khi tỷ lệ dân cư hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp chiếm số lượnglớn so với các ngành nghề khác

Ba là, về chức năng nhiệm vụ: chỉ Quốc hội mới được hiến định các

quyền năng cơ bản như lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đấtnước, giám sát tối cao đối với hoạt động của nhà nước Những hoạt động nàynhằm phục vụ cho lợi ích chung của Nhân dân, nói tiếng nói của Nhân dân

Bốn là, với nguyên tắc hoạt động tập thể, biểu quyết theo đa số, các

quyết định của Quốc hội là ý chí và hành động của số đông Mỗi đại biểukhông chỉ đại diện cử tri bầu ra mình, mà còn đại diện cho cử tri cả nước.Điều này khẳng định tính chất đại diện cao nhất của Quốc hội trong BMNN

so với các cơ quan đại diện khác của Việt Nam

Về khái niệm đại diện, đại diện Quốc hội: Đối với các nhà nghiên cứu

nước ngoài, lý luận đại diện được thừa nhận, kế thừa từ lý thuyết về chủquyền Nhân dân của Jacques Rousseau trong tác phẩm Bàn về Khế ước xãhội Tuy nhiên không phải lúc nào, Nhân dân cũng có thể tự mình thực hànhdân chủ trực tiếp do nhiều yếu tố như: năng lực, nhu cầu, thời gian, … Vì vậy

Trang 22

lý thuyết về dân chủ đại diện là giải pháp hữu hiệu khắc phục những hạn chếcủa hình thức dân chủ trực tiếp Bắt đầu từ thế kỷ XVIII, XIX, đặc biệt là saucác cuộc cách mạng tư sản, nhiều học giả nổi tiếng đã nghiên cứu sâu về đạidiện Quốc hội như là cách thức tìm ra một thiết chế dân chủ, minh bạch nhấttrong bảo vệ và thực thi quyền lực Nhân dân, tiêu biểu như Emmanuel Sieyes,John Stuart Mill, James Madison.

Bước vào thời kỳ hiện đại, đại diện Quốc hội nghiên cứu độc lập trongmột số tác phẩm như: “The Concept of Representation” (Khái niệm đại diện),của Hana Pitkin; “Parliaments and Citizens in Western Europe” (Các Nghịviện và công dân ở Tây Âu) của Philip Norton; “Political Representation”(Đại diện chính trị) của Ian Shapiro, hay “Representation And InstitutionalDesign” (Đại diện và thiết kế thể chế) của Rebekah L Herrick… Các tác giả

đã có sự nhận diện về đại diện chính trị như là các hoạt động làm cho tiếngnói, các ý kiến và các quan điểm của người dân được thể hiện trong quy trìnhxây dựng chính sách

Điển hình như Hana Pitkin đã nghiên cứu đại diện dưới các góc độ:Đại diện hình thức liên quan nhiều đến việc sắp xếp các thiết chế để từ

đó tạo ra tính đại diện và thứ bậc đại diện Hình thức này bao gồm việc traoquyền hay hợp pháp hóa (là cơ chế theo đó người đại diện nhận được vị tríhoặc quyền lực của mình) và tính chịu trách nhiệm (là khả năng của ngườitrao quyền có thể trừng phạt người đại diện do không thực hiện được nhữngmong muốn của người trao quyền hoặc không tích cực thực hiện nhiệm vụ đạidiện được giao)

Đại diện biểu tượng hình thành dựa vào cách thức mà các nhà đại diện

“thay mặt” cho những người trao quyền, do vậy có ý nghĩa đặc biệt đối vớingười được đại diện Tiêu chí đánh giá tính chất đại diện biểu tượng là mức

độ chấp nhận của những người được đại diện (cử tri) đối với người đại diện(Nghị sỹ)

Đại diện đồng dạng liên quan đến mức độ tương đồng giữa người đạidiện và người được đại diện Ví dụ như các điểm chung về năng lực và kinhnghiệm Những người đại diện đồng dạng thường xuất hiện trong một số lĩnhvực riêng biệt và thường được trông chờ là người đại diện cho cả lĩnh vực đó

Trang 23

Đại diện nội dung liên quan đến các hoạt động do người đại diện thựchiện trên thực tế thay mặt cho người được đại diện Quan điểm này có ý nghĩaquan trọng nhất đối với mục đích của việc nghiên cứu bởi nó hướng sự chú ýđến những nội dung mà người lãnh đạo phải thực hiện sau khi trúng cử Đạidiện nội dung liên quan nhiều hơn đến các hoạt động về chính sách và kết qủacủa chính sách với những tác động rất lớn đến những người đã ủy quyền [118,tr.20-21].

Ở một góc nhìn khác khi nghiên cứu giới hạn đại diện, trong tác phẩm

“The Federalist with the Letter of Brutus” (Người liên bang với bức thư củaBrutus), Jame Madison đưa ra quan niệm người đại diện là đại diện thay mặt,

họ chỉ đơn giản tuân thủ những ưu tiên mà cử tri đã sắp xếp [127] CònEdmund Burke thì lập luận những người đại biểu Nhân dân là những ngườiđại diện ủy thác, họ đưa ra các quyết định dựa trên kiến thức và sự phán xétriêng của mình Do vậy, giữa hai đại biểu trên, lý luận về đại diện có sự mâuthuẫn nhất định

Tuy nhiên, theo Hana Pitkin, cần phải duy trì những điểm trái ngượcnày Những bất đồng về đại diện có thể được điều hòa một phần bằng việclàm rõ góc nhìn nào về đại diện đang được viện dẫn Pitkin xác định ra bốngóc nhìn về đại diện ở trên chính là cung cấp những cách tiếp nhận khác nhau

về đại diện, những tiêu chuẩn khác nhau về việc đánh giá những người đạidiện Bà cũng cho rằng những bất đồng về việc những người đại diện phảilàm gì bị làm trầm trọng hơn bởi một thực tế mà con người chấp nhận gócnhìn sai về đại diện hay áp dụng sai những tiêu chuẩn về đại diện

Có thể nói, hệ thống những quan điểm của Hana Pitkin vừa mang tính

kế thừa các quan điểm của các nhà triết học, chính trị, pháp lý nổi tiếng, vừa

có cái nhìn mới, sâu sắc và toàn diện về đại diện chính trị Đây là những cơ sở

lý thuyết (chưa được Hana Pitkin kiểm nghiệm trên thực tế) về đại diện, đạidiện Quốc hội cho các học giả phát triển tùy thuộc vào đặc điểm văn hóachính trị, thể chế pháp lý của mỗi quốc gia khi nghiên cứu về tính đại diện củaQuốc hội

Các đại biểu như Philip Norton, Ian Shapiro, Rebekah L Herrick bắtnhịp xu hướng mới của thời đại, trong điều kiện các giá trị dân chủ ngày càng

Trang 24

nâng cao và đảm bảo thực hiện đã thể hiện trong trong các tác phẩm của mìnhmột cách sâu sắc những vấn đề mới như cơ chế đại diện, phạm vi, mối quan

hệ giữa nghị sĩ và cử tri, những tác động của thiết chế bầu cử đối với đại diệnQuốc hội, mối quan hệ giữa Đảng cầm quyền và Quốc hội Tuy nhiên cácnghiên cứu này chỉ dừng lại phạm vi của một nước hay khu vực mà tác giảkhảo cứu chưa mang tính lý thuyết toàn cầu

Ngoài các công trình, bài viết kể trên, còn rất nhiều ấn phẩm của cáchọc giả nước ngoài từ cổ đại tới đương đại bàn đến dân chủ đại diện Khôngviết trực tiếp về đại diện Quốc hội, nhưng trong các tác phẩm này khi bàn về

lý luận nhà nước, nguồn gốc quyền lực, chủ quyền Nhân dân, tổ chức BMNNhay cơ chế phân quyền, người đọc có thể tiếp thu các lý luận về chủ quyền tốicao của Nhân dân, vị trí Quốc hội, cơ chế trao quyền Điều này giúp tác giả cóthể tham khảo, kế thừa, tiếp thu các giá trị phù hợp với quan điểm chính trị ởViệt Nam hiện nay và thể hiện thông qua phần đánh giá chung kết quả cáccông trình nghiên cứu trong 1.3

Đối với các nhà khoa học trong nước, vấn đề đại diện được nghiên cứu

là tính chất, là chức năng hay thuộc tính của Quốc hội Từ đó luận giải về vịtrí, vai trò và cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động của Quốc hội cho phùhợp

Các tác giả Bùi Xuân Đức, Nguyễn Sỹ Dũng, Nguyễn Đăng Dung đitheo hướng nghiên cứu khai thác và lập luận cho rằng, đại diện là một chứcnăng hoặc cần phải quy định là một chức năng của Quốc hội

Trong bài viết “Nhận thức về chức năng đại diện và thực hiện chức

năng đại diện của Quốc hội Việt Nam”, tác giả Bùi Xuân Đức đã luận giải: Cả

trong bốn bản Hiến pháp của Việt Nam đều không nói đến chức năng đại diệncủa Quốc hội Song “sự thể hiện ý chí, nguyện vọng của cử tri, theo ủy nhiệmcủa họ” thì “đại diện là chức năng có ý nghĩa trực diện của Quốc hội trước cửtri đã bầu ra mình” [35]

Tuy nhiên khi phân tích sự thể hiện và thực hiện chức năng đại diện củaQuốc hội Việt Nam, tác giả chỉ ra cơ cấu đại biểu rộng rãi, tính quyền lực caonhất của Quốc hội, đồng thời cho rằng chức năng đại diện thể hiện qua cácmặt hoạt động như: i) Sự phản ánh, thể hiện ý chí và nguyện vọng của cử tri

Trang 25

trong hoạt động của Quốc hội; ii) Qua hoạt động tiếp xúc cử tri, lắng nghe ýkiến của dân, phản ánh tâm tư nguyện vọng của dân, góp phần giải quyết cácbức xúc của dân tại địa phương; iii) Chịu trách nhiệm và sự giám sát của dân.

Tác giả Nguyễn Đăng Dung trong bài viết: “Suy nghĩ về những tiêu chíQuốc hội Việt Nam là đại diện của nhân dân Việt Nam” [118, tr.311] chorằng: “chức năng đại diện như là một trong những chức năng quyết định sựtồn tại và phát triển của Quốc hội Mọi cơ cấu, mọi nhiệm vụ của Quốc hộiđều có điểm xuất phát từ chức năng đại diện của mình”

Theo chiều hướng nghiên cứu đại diện là một thuộc tính của Quốc hội

có các nhà khoa học như: Tác giả Lê Minh Thông, Lương Minh Tuân Nhómcác tác giả này khẳng định rằng, đại diện là một thuộc tính chi phối tổ chức vàhoạt động của Quốc hội Tác giả Trần Ngọc Đường trong nhiều công trìnhnghiên cứu của mình cũng cho rằng, đây là bản chất của Quốc hội xuất phát

từ bản chất nhà nước ta; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân vàQuốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của Nhân dân Bản chất ấy được thểhiện rõ ràng, cụ thể qua ba chức năng lập pháp, giám sát và quyết định cácvấn đề cơ bản Do vậy, cũng theo tác giả này trong một chừng mực đó, tínhđại diện trùng với tính đại biểu của Nhân dân

Tuy góc độ nghiên cứu còn khác biệt, song các tác giả đều thống nhất

những vấn đề cơ bản sau: Một là, khẳng định tầm quan trọng, ý nghĩa và sự cần thiết phải hiến định tính đại diện của Quốc hội Hai là, dù nhận định là

thuộc tính, là bản chất hay là chức năng thì “đại diện” là vấn đề quan trọngchi phối tới tổ chức, cơ chế hoạt động của Quốc hội, là vấn đề cần được bảođảm thực hiện trên thực tế để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Quốc

hội trong giai đoạn hiện nay Ba là, tùy thuộc vào góc độ nghiên cứu của từng người, các tác giả bước đầu đưa ra các quan điểm, nhận định về một số vấn đề

riêng lẻ như: Hiến định nguyên tắc tự do bầu cử, nhận diện mức độ đại diện,

xây dựng các tiêu chí đánh giá Quốc hội Việt Nam là đại diện của Nhân dânViệt Nam, xác lập các yếu tố đảm bảo tính đại diện của Quốc hội Đây thực

sự là những tư tưởng định hướng cho xu hướng nghiên cứu đề tài của tác giả

Trang 26

Bên cạnh các nhà nghiên cứu Việt Nam, trong Hội thảo: “Chức năngđại diện của Quốc hội trong nhà nước pháp quyền” [118, tr.311], hệ thốngtham luận, bài viết của các tác giả nước ngoài đã đóng góp nhiều quan điểm,

so sánh những điểm tương đồng, những nét riêng trong nhận thức và phápluật về chức năng đại diện của Quốc hội/Nghị viện ở một số nước Một sốtham luận chuyên sâu như “Measuring the degrees of representation inIndonesia” (Đo mức độ đại diện ở In-đô-nê-xi-a) của Bà Bivitri Susanti cho

rằng: đại diện là một trong ba vai trò của Nghị viện và thật khó có thể xác

định vai trò đại diện của Nghị viện vì các Nghị viện thường được xem xétthông qua các sản phẩm hữu hình được tạo ra từ vai trò lập pháp và giám sát.Cho đến nay cũng chưa có một khuôn khổ hoặc tiêu chuẩn nào được đưa ra đểghi nhận chức năng đại diện của Quốc hội In-đô-nê-xi-a

Tham luận của đại biểu đến từ Phi-lip-pin lại khẳng định, chức năng đạidiện của Nghị viện được đề cập đến trong Hiến pháp và được thể hiện trên banội dung: đại diện trong quy trình lập pháp; trong quy trình giám sát và tronghoạch định chính sách ở cấp độ quốc gia

Một số bài viết của các đại biểu Thái Lan, Ấn Độ, Đức lại chỉ ra rằng,

dù Hiến pháp không trực tiếp quy định Quốc hội có chức năng đại diện,nhưng đây thực sự là những cơ quan mang bản chất đại diện Nhân dân thôngqua việc hiến định nguyên tắc: quyền lực nhà nước bắt nguồn từ Nhân dân(Điều 20, Hiến pháp Đức) [118, tr.240], hay chỉ rõ “các thành viên củaThượng viện, Hạ viện là đại diện của người Thái và thực hiện một cách trungthực các bổn phận vì lợi ích chung của người Thái” (Điều 149, Hiến phápThái Lan năm 1997) [118, tr.126] …

Như vậy, tùy thuộc vào đặc thù thể chế chính trị của mỗi nước mà cáctham luận trình bày, so sánh đối chiếu quan điểm về đại diện là chức năng, vaitrò hay là nguyên tắc hoạt động của Quốc hội; lý giải sự cần thiết hay khôngcần thiết hiến định cũng như các điều kiện bảo đảm chức năng đại diện củaQuốc hội trên thực tế Theo tác giả, đây là những quan điểm làm cơ sở choviệc so sánh, đối chiếu, và tham khảo học tập kinh nghiệm khi xác lập tính đạidiện của một số mô hình Quốc hội trên thế giới

Trang 27

1.2.1.2 Về các yếu tố bảo đảm, các hình thức thể hiện đại diện của Quốc hội

Trong bài viết: “Những yếu tố ảnh hưởng đến chức năng đại diện củaQuốc hội”của Trần Thị Hạnh Dung [15], đã liệt kê các yếu tố ảnh hưởng đếnchức năng đại diện như: Các đại biểu phải được bầu trực tiếp, tự do, bìnhđẳng thông qua bầu cử phổ thông và bỏ phiếu kín; Nhiệm kỳ của các đại diệnkhông nên quá dài; Tần suất hoạt động của Quốc hội; Các đại biểu hoạt độngchuyên trách và giữ mối quan hệ với cử tri; Sự trung thành của đại biểu đốivới cử tri trước các nhóm lợi ích khác nhau; Nguồn lực đảm bảo cho các đạibiểu hoạt động; Tính đại diện đa dạng trong Quốc hội; Cơ chế dân chủ trựctiếp; Sự kiểm soát, chế ngự quyền lực của cơ quan đại diện

Nghiên cứu sâu ở góc độ xây dựng thiết chế bầu cử, đảm bảo tính đạidiện của Quốc hội, tác giả Vũ Văn Nhiêm trong luận án tiến sĩ và trên một sốbài viết của mình đưa ra các yếu tố đảm bảo tính đại diện Quốc hội bao gồm:i) Đại diện theo đảng phái; ii) Đảm bảo sự bình đẳng và cơ hội như nhau chocác đại biểu;

iii) Đảm bảo tỷ lệ đại diện cho các tầng lớp thế yếu trong xã hội [70, tr.22]

Tác giả Lê Minh Thông trong nghiên cứu của mình cũng chỉ ra bốn yếu

tố đảm bảo đại diện Quốc hội là: cơ cấu đại biểu trong mỗi khóa; mô hình mộtviện; chất lượng đại biểu; trách nhiệm của đại biểu trước cử tri [118, tr.226-238]

Một số tác giả không trực diện nghiên cứu về điều kiện đảm bảo tínhđại diện của Quốc hội, nhưng chỉ ra các yếu tố tác động tới hiệu quả hoạtđộng của Quốc hội mà việc nghiên cứu nó có tác dụng đảm bảo, nâng caohiệu quả hoạt động của cơ quan đại diện Tác giả Bùi Ngọc Thanh, khi nghiêncứu về điều kiện hoạt động của ĐBQH cũng chỉ ra rằng: “… để thực hiệnđược trọng trách đó, ĐBQH rất cần phải có những điều kiện nhất định trongquá trình hoạt động”, đó là: “Nhóm điều kiện do luật định”; “Nhóm điều kiệncủa bản thân đại biểu”; “Nhóm điều kiện về các phương tiện hoạt động hàngngày” [90, tr.104] Tác giả Đặng Đình Luyến chỉ ra năm vấn đề tác động đólà: i) Năng lực, trình độ của đại biểu; ii) Các quy định về nhiệm vụ, quyền hạncủa ĐBQH; iii) Đại biểu tham gia các hoạt động của Quốc hội, các cơ quan

Trang 28

Quốc hội; iv) Sự quan tâm, đánh giá của cử tri; v) Các điều kiện đảm bảo hoạtđộng (chuyên trách, lương, phụ cấp) [56].

Trong một nghiên cứu mang tính hệ thống gần đây, dựa trên quan điểm

lý thuyết của Hana Pitkin khi nghiên cứu đại diện chính trị, tác giả HoàngMinh Hiếu lại đưa các yếu tố bảo đảm tính đại diện của Quốc hội đáp ứng yêucầu xây dựng NNPQ XHCN gồm: i) Các yếu tố bảo đảm tính đại diện trongcách thức hình thành mối quan hệ đại diện; ii) Các yếu tố bảo đảm tính tươngđồng giữa ĐBQH và cử tri; iii) Các yếu tố bảo đảm năng lực đại diện củaĐBQH; iv) Các yếu tố bảo đảm nội dung đại diện [41]

Đối với các nhà nghiên cứu nước ngoài, trong các công trình khảo cứutrên cũng đề cập đến các điều kiện đảm bảo tính đại diện Quốc hội như tínhđảng phái chính trị; nghị sĩ bầu cử trực tiếp, tự do, bình đẳng, phổ thông vàkín; mối quan hệ thường xuyên giữa nghị sĩ và cử tri; nghị sĩ là chuyên trách;trong trường hợp có xung đột với đảng phái của mình, các nghị sĩ phải cóchính kiến; các nguồn lực hỗ trợ [118, tr.241-247];

Như vậy, các điều kiện bảo đảm tính đại diện của Quốc hội đã đượcnhiều tác giả đề cập, xem xét đến khi bàn về hiệu quả hoạt động của Quốchội, song chưa mang tính hệ thống, triết lý Thường là sự liệt kê, nhiều khi có

sự trùng lặp ngay trong một quan điểm, chưa phân biệt được các nhóm điềukiện trên các góc độ pháp lý, chính trị và thực tiễn

Về các hình thức thể hiện đại diện, hiện chưa có công trình nào nghiên

cứu cụ thể, chuyên sâu Tuy nhiên, trong khi đề cập đến tổ chức, hoạt độngcủa Quốc hội, một số tác giả đưa ra các hình thức hoạt động như: kỳ họp,phiên họp của Quốc hội; hoạt động tiếp xúc cử tri trước và sau mỗi kỳ họp;hoạt động tiếp nhận đơn thư khiếu nại tố cáo của người dân Nhiều quan điểmcùng thống nhất, để “nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan dân cử” phải

đề cao và nâng cao chất lượng của các hoạt động tiếp dân, tiếp nhận đơn thư,giám sát việc giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân [6, tr.67] Tác giả BùiXuân Đức khi nghiên cứu về vấn đề này cũng chỉ ra các hình thức thực thithông qua hoạt động đại diện của Quốc hội và các ĐBQH như: i) Sự phản

Trang 29

ánh, thể hiện ý chí và nguyện vọng của cử tri trong hoạt động của Quốc hội;ii) Trong hoạt động tiếp xúc cử tri, gần gũi, lắng nghe ý kiến, phản ánh tâm tưnguyện vọng, góp phần giải quyết các bức xúc của Nhân dân tại địa phương,

cơ sở; iii) Chịu sự giám sát, chịu trách nhiệm trước Nhân dân [35, tr.62]

Tác giả Trần Ngọc Đường cũng lập luận: Tính đại diện cao nhất củaNhân dân xuyên suốt quá trình thực hiện các chức năng lập pháp, quyết địnhnhững vấn đề trọng đại của đất nước và giám sát tối cao toàn bộ hoạt độngcủa nhà nước hay thước đo đánh giá Quốc hội thực quyền hay không thựcquyền đó chính là khi thực hiện các chức năng của mình [33]

Cùng quan điểm trên tác giả Mai Hồng Quỳ khi bàn đến nâng cao hiệuquả hoạt động của Quốc hội cũng nghiên cứu ở các góc độ: hoạt động lậppháp; hoạt động quyết định ngân sách nhà nước và quyền giám sát tối cao củaQuốc hội [78]

Tóm lại, khi nghiên cứu về các hình thức thể hiện đại diện của Quốchội, chưa có công trình nào nghiên cứu trực diện mà thể hiện quan điểm giántiếp qua việc nghiên cứu tổ chức và hoạt động của Quốc hội, từ đó có ý nghĩatrong việc nâng cao hiệu quả của cơ quan dân cử tại Việt Nam

1.2.1.3 Xét trên góc độ đánh giá thực trạng đại diện của Quốc hội Việt Nam

Ở nội dung này, hầu hết các tác giả đều chưa đi sâu phân tích thựctrạng đại diện của Quốc hội mà chủ yếu đánh giá thực trạng thực hiện từngchức năng, nhiệm vụ cụ thể của Quốc hội theo luật định như: thực trạng hoạtđộng lập pháp, thực trạng hoạt động quyết định, thực trạng hoạt động giám sátcủa Quốc hội Các công trình, bài viết tuy đa dạng, phong phú nhưng tựutrung các tác giả đều thống nhất những vấn đề sau:

i) Trong thời gian qua, thực tiễn các hoạt động lập pháp, quyết định,giám sát tối cao của Quốc hội còn chưa hiệu quả, chưa tương xứng với vị tríhiến định của Quốc hội trong BMNN cũng như sự mong chờ của cử tri Nhiềulúc, nhiều nơi, hoạt động của Quốc hội, các Ủy ban, các Ban, của ĐBQH cònmang tính hình thức

Trang 30

ii) Tuy nhiên, việc nhận thức đúng đắn về vai trò, vị trí của Quốchội; sự thức tỉnh các giá trị dân chủ và lớn mạnh năng lực thực hành dânchủ của công dân; sự đổi mới trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội đãkhiến cho hoạt động lập pháp có những bước phát triển vượt bậc so vớitrước về cả số lượng và chất lượng; hoạt động quyết định đem lại nhữnggiá trị kinh tế - xã hội to lớn cho đất nước; hoạt động giám sát hạn chế tínhhình thức, chồng chéo, đảm bảo nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc vềNhân dân.

iii) Đối với các điều kiện đảm bảo đại diện Quốc hội: thể chế bầu cửcòn có những quy định chưa đảm bảo tính đại diện của Quốc hội; các quyđịnh về phụ cấp, chế độ đãi ngộ chưa tương xứng với tính chất công việc đadạng, phức tạp của đại biểu; bộ máy giúp việc của Quốc hội mới thực hiện tốtchức năng phục vụ, chức năng tham mưu còn có những hạn chế nhất định

Đây là những khảo sát, nhận định có ý nghĩa thực tiễn để tác giả luận

án so sánh, đối chiếu, đánh giá thực trạng đảm bảo, thực trạng các hình thứcthể hiện đại diện của Quốc hội tại Chương 3

1.2.1.4 Xét trên nội dung giải pháp nâng cao vai trò đại diện của Quốc hội

Thực hiện chủ trương của Đảng về xây dựng NNPQ XHCN của Nhândân, do Nhân dân, vì Nhân dân từ đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đến nay,

có rất nhiều công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo, bài viết nghiên cứu vềđổi mới tổ chức BMNN, đặc biệt là Quốc hội đáp ứng yêu cầu của thời kỳmới Nhiều tác giả khẳng định vì Quốc hội là cơ quan đại diện Nhân dân nênphải đảm bảo, tăng cường, phát huy tính đại diện trên tất cả các phương diệnhoạt động của Quốc hội

Trong hoạt động lập pháp, “phải phát huy vai trò đại diện Nhân dân củaĐBQH” [33]; “phải bảo đảm tính Nhân dân, tính dân chủ trong hoạt động lậppháp”, coi trọng việc tổ chức lấy ý kiến các ngành, các cấp và ý kiến Nhândân đối với các dự án luật, pháp lệnh [126] …

Trang 31

Trong hoạt động quyết định, phải bảo đảm quyền quyết định, phêchuẩn dự toán ngân sách nhà nước có ý nghĩa thực quyền, nâng cao khả năngkiểm soát thực tế của Quốc hội, ĐBQH trong thực thi quyền quyết định cácvấn đề quan trọng của đất nước [96, tr.95].

Trong hoạt động giám sát tối cao, có nhà nghiên cứu lập luận, “Quốchội trong quan hệ phân công quyền lực là cơ quan thực hiện quyền lập pháp,nhưng về vị trí lại là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và là cơ quan đạidiện cao nhất của Nhân dân Do vậy, Quốc hội có quyền kiểm soát toàn bộquá trình thực thi quyền lực nhà nước, kể cả quyền hành pháp và quyền xétxử” [96, tr.95-96] Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao thông qua việc

ủy quyền cho các cơ quan, tổ chức thực hiện quyền này như UBTVQH, các

Ủy ban của Quốc hội, các cơ quan bảo hiến, tòa Hành chính [78]

Nhiều công trình đưa ra các giải pháp đảm bảo đại diện và thực thi đạidiện như:

- Tiếp tục đổi mới làm cho hoạt động của Quốc hội ngày càng thiếtthực, hiệu quả, đáp ứng mong mỏi của cử tri và Nhân dân cả nước [1]

- Sửa đổi, bổ sung Luật Bầu cử ĐBQH, đảm bảo các nguyên tắc bầu cử

đã được hiến định [70, tr.22-31]

- Đa dạng hóa và đổi mới các hình thức tiếp xúc cử tri, giữ mối liên hệchặt chẽ với cử tri đảm bảo cho tiếng nói của đại biểu tại nghị trường là ý chí

và nguyện vọng của công dân [4]

- Nâng cao chất lượng ĐBQH để làm tốt chức năng đại diện [35, tr.77]

- Hoàn thiện tổ chức và đổi mới nội dung hoạt động của các cơ quanchuyên môn của Quốc hội [87, tr.36], đảm bảo các điều kiện cơ sở vật chất,chế độ đãi ngộ với đại biểu và có cơ chế kiểm tra, giám sát đại biểu trong khithực hiện nhiệm vụ dân cử

- Tăng cường sự lãnh đạo của ĐCS đối với nhà nước nói chung, đối vớiQuốc hội nói riêng trong bảo đảm quyền lực thuộc về Nhân dân [80], đặc biệtđổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bầu cử [82, tr.30-35]

Trang 32

1.2.2 Những nội dung đƣợc tiếp tục nghiên cứu trong luận án

Như đã đề cập ở trên, các công trình nghiên cứu hiện có ở trong và ngoàinước đã cung cấp một lượng tri thức, thông tin lớn và khá toàn diện về đạidiện của Quốc hội ở Việt Nam cũng như trên thế giới Những tri thức, thôngtin đó là tiền đề quan trọng để tác giả tiếp tục tìm hiểu, phân tích những vấn

đề đặt ra trong luận án Từ những đánh giá ở trên, những nội dung sau đây sẽđược luận án tiếp tục làm rõ:

Một là, luận án tiếp tục nghiên cứu những vấn đề lý luận đại diện Trong

đó, luận án sẽ nghiên cứu để chỉ ra các khái niệm như: đại diện, đại diện chínhtrị, đại diện của Quốc hội… Đây là những khái niệm nền tảng, nếu nội hàmchưa được làm rõ sẽ khó xác định vị trí, vai trò đại diện cao nhất của Quốchội trong BMNN Vì vậy, trong luận án này sẽ phân tích và xác định nội hàmcủa những khái niệm quan trọng đã nêu

Hai là, luận án chỉ ra các hình thức thể hiện đại diện cao nhất của Quốc hội.

Ba là, trên cơ sở các nghiên cứu tản mạn, chưa đầy đủ về điều kiện đảm

bảo tính đại diện của Quốc hội, luận án chỉ ra hệ thống các điều kiện đảm bảomang tính đồng bộ, tương hỗ lẫn nhau trong việc đảm bảo tính đại diện Nhândân cao nhất của Quốc hội được xác lập trên các phương diện: chính trị, pháp

lý, tổ chức, nhân sự

Bốn là, luận án khảo sát và đánh giá thực trạng thể hiện đại diện, các

đảm bảo đại diện cao nhất đối với Quốc hội Việt Nam dựa trên phần lý luận

đã được hệ thống, xây dựng

Năm là, chưa có một nghiên cứu nào chỉ ra tổng thể các quan điểm và

giải pháp đảm bảo Quốc hội - cơ quan đại diện cao nhất của Nhân dân ViệtNam trên cơ sở luận giải, đánh giá các vấn đề lý luận và thực tiễn đối với vấn

đề này Vì vậy, luận án phân tích, xây dựng hệ thống quan điểm, đề xuất cácgiải pháp theo hướng xây dựng Quốc hội thực quyền, là thiết chế hữu hiệu đểhiện thực hóa quyền lực Nhân dân

Trang 33

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Qua khảo sát tác giả nhận thấy, các nghiên cứu về Quốc hội rất đadạng, phong phú, chủ yếu được khai thác sâu ở góc độ từng chức năng củaQuốc hội Nhiều công trình trong khi luận bàn về hoạt động của Quốc hội đềuthống nhất ở các quan điểm phải đảm bảo nguyên tắc Nhân dân là chủ thể tốicao của quyền lực nhà nước và tất cả quyền lực nhà nước xuất phát từ chủquyền Nhân dân Từ việc thống nhất tính đại diện cao nhất của Quốc hộitrong tổ chức BMNN Việt Nam, nhiều công trình nghiên cứu thực trạng đạidiện Quốc hội thông qua các chức năng của Quốc hội Đồng thời các tác giảđều có xu hướng đưa ra các giải pháp đảm bảo tính đại diện, tính thực quyềncủa Quốc hội trong thực thi quyền lực nhà nước

Tuy nhiên, do chưa thống nhất về nhận thức lý luận, nên khi bàn đếnđại diện, đại diện Quốc hội, các tác giả còn có sự tranh luận chưa thống nhất.Tương tự như vậy, khi phân tích các điều kiện đảm bảo tính đại diện củaQuốc hội, thường có sự liệt kê, trùng lặp hoặc chưa đầy đủ Từ đó, khi phântích đánh giá thực trạng đại diện hiện nay ở Việt Nam, những phân tích còntản mạn, chưa hệ thống, chưa rõ ràng về phương diện hoạt động (lập pháp,quyết định, giám sát) hay những hành động cụ thể (chất vấn, giải trình, tiếpxúc cử tri, tiếp dân, chuyển đơn thư khiếu nại, tố cáo) thực thi nhiệm vụ củaQuốc hội, ĐBQH

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước nói trên lànhững tri thức lý luận quý đã được chắt lọc, làm tiền đề, cơ sở cho nhữngnghiên cứu mới mang tính tổng quát, hệ thống Đồng thời có giá trị thực tiễnkhi tiến hành đổi mới, hoàn thiện BMNN, đặc biệt là tổ chức và hoạt độngcủa Quốc hội ở Việt Nam hiện nay

Trang 34

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUỐC HỘI - CƠ QUAN ĐẠI DIỆN

CAO NHẤT CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM

2.1 KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA QUỐC HỘI - CƠ QUAN ĐẠI DIỆN CAO NHẤT CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM

2.1.1 Khái niệm Quốc hội - cơ quan đại diện cao nhất của Nhân dân Việt Nam

Để làm rõ khái niệm Quốc hội - cơ quan đại diện cao nhất của Nhândân Việt Nam, cần phải tìm hiểu thuật ngữ đại diện Trong cuộc sống hàngngày, thuật ngữ đại diện thường được sử dụng trong các quan hệ, giao dịchdân sự Đại diện được hiểu là sự “thay mặt cho cá nhân hoặc tập thể” [125,tr.279] Người đại diện nhân danh cá nhân, tập thể đó tiến hành các hoạt động

và hoạt động này thường gắn với lợi ích, bổn phận, nghĩa vụ của người đượcđại diện

Trong dân sự đại diện thường được hiểu là việc một người (gọi làngười đại diện) nhân danh và vì lợi ích của người khác (gọi là người được đạidiện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi thẩm quyền đại diện.Người đại diện là người nhân danh người được đại diện xác lập quan hệ vớingười thứ ba, vì lợi ích của người được đại diện Người được đại diện làngười tiếp nhận các hậu quả pháp lý từ quan hệ do người đại diện xác lập,thực hiện đúng thẩm quyền đại diện

Đại diện dân sự thường được phân chia thành hai loại: đại diện theopháp luật và đại diện ủy quyền Dù xác lập quan hệ đại diện theo loại nàocũng cần phải đáp ứng các tiêu chí: i) Xác định tư cách, năng lực, điều kiệncủa chủ thể đại diện; ii) Xác định nội dung, giới hạn, phương thức, thời gianđại diện, các lợi ích đạt được đối với hai bên chủ thể; iii) Các chế tài hay tráchnhiệm đối với hai bên trong trường hợp có vi phạm thỏa thuận, vi phạm phápluật, cũng như trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp nếu có

Từ khái niệm đại diện khá phổ biến trong dân sự, ở các lĩnh vực chuyênngành, mỗi quốc gia có thể đưa thêm những quy định về chủ thể đại diện, lợiích đại diện, thời hạn đại diện để bảo hộ pháp lý, đảm bảo tính kinh tế, tính

Trang 35

chính trị cho các quan hệ đó như đại diện thương mại, đại diện ngoại giao, đạidiện quốc gia, khu vực.

Tóm lại: đại diện hiểu theo nghĩa thông thường là việc người đại diệnthông qua hành vi của mình, nhân danh và vì lợi ích của người được đại diệnxác lập, thực hiện giao dịch trong phạm vi đại diện

Cùng với đại diện dân sự, trong đời sống xã hội còn ra đời khái niệm

“đại diện chính trị” Tuy nhiên, loại đại diện này có những điểm khác biệt vớiđại diện dân sự Đại diện chính trị không đơn thuần là những thỏa thuận,những hợp đồng, giao dịch có tính chất hàng hóa - tiền tệ Đó là quan hệ giữamột cộng đồng với những người thay thế mình thực hiện quyền lực nhà nước

mà quyền lực đó vốn luôn có xu hướng quay lại áp đặt các quy tắc, những quyphạm pháp luật đối với người được đại diện Đại diện chính trị luôn gắn vớiphạm trù “Nhân dân”, “quyền lực”, “dân chủ”; nó gắn với mối quan hệ lợi íchcủa các cử tri trong đơn vị bầu cử và cử tri trên toàn quốc gia; nó đan xen giữa

“trách nhiệm” phản ánh nhu cầu, nguyện vọng của cử tri hay bao gồm cảnhững tư duy, lập luận, nhận định riêng của người đại diện khi thực hiệnnhiệm vụ

Trong nền dân chủ đầu tiên của loài người, thuật ngữ đại diện chưađược nhắc đến và quyền lực nhà nước thực thi trực tiếp thông qua hoạt độngbàn bạc, thảo luận, quyết định của công dân (Nhân dân hay công dân theoquan điểm của nhà nước Hy Lạp cổ đại là khái niệm dùng để chỉ một nhómngười hạn chế trong xã hội như: nam giới trưởng thành, người tự do, người cótài sản, …) Quyền lực nhà nước khi này được quan niệm là sự hình thànhmột cách tự nhiên, do con người sống thành xã hội tạo nên Vì vậy, Nhân dân

là chủ thể của quyền lực và trực tiếp điều hành, thực thi mọi công việc củanhà nước

Đến thời kỳ cận hiện đại, vấn đề quyền lực của Nhân dân được đề cậpmột cách rõ ràng về yếu tố chủ thể và phương thức thực hiện quyền chủ thể

Vì Nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước nên quyền lực nhà nước chính

là quyền lực của các cá nhân trong xã hội tự nguyện trích một phần quyền tựnhiên của mình thông qua một thỏa thuận xã hội Sự trao lại cho nhà nướcquyền ấy nhằm duy trì trật tự chung của xã hội và bảo vệ các quyền tự nhiên

Trang 36

của công dân trong xã hội có nhà nước Như vậy, nhà nước là chủ thể đạidiện, tiếp nhận quyền lực Nhân dân Sự đại diện này ra đời bởi những lý lẽcăn bản sau đây:

Một là, trên phạm vi lãnh thổ quốc gia, sự khác biệt về địa lý, văn hóa,

tập quán, thành phần dân cư khiến tập hợp Nhân dân cùng thảo luận, quyếtđịnh, điều hành những việc chung của đất nước là rất khó thực hiện

Hai là, dân cư là một tập hợp đám đông với sự khác biệt về nhận thức,

trí tuệ, cảm xúc Trong khi đó, hoạt động quản lý đòi hỏi những cá nhân phảihội tụ nhiều yếu tố như: năng lực, trình độ, uy tín, đạo đức cá nhân … Có nhưvậy mới đáp ứng được yêu cầu của nhà quản lý trong việc giải quyết các mâuthuẫn, xung đột lợi ích của đám đông

Chính vì vậy, thông qua cơ chế ủy quyền, Nhân dân có thể lựa chọn ranhững người thay mặt, đó là những con người ưu tú trong xã hội, có trình độquản lý để đại diện cho ý chí và lợi ích của mình

Ý nghĩa mới của từ “đại diện” xuất hiện vào khoảng thế kỷ XIII - XIV.Người “đại biểu” được dùng để chỉ người tham gia và Hội đồng nhà thờ hayNghị viện Anh [135] Tới thế kỷ XVII, khi việc bầu các thành viên của Nghịviện trở nên phổ biến thì đại diện trở thành một quyền chính trị thiêng liêng

và mang tính truyền thống của người Anh, gắn liền với Chính phủ đại diện

Có thể nói, nước Anh là “cha đẻ” của hình thức dân chủ đại diện Ngay

từ thế kỷ XIII, ở Anh đã hình thành thể chế dân chủ đại diện Vào năm 1254,vua Henry tiến hành cuộc chiến tranh với nước Pháp và cần rất nhiều tiền đểduy trì cuộc chiến Ông đã triệu tập các hiệp sĩ từ các hạt đến dự cuộc họp bàn

về vấn đề này Năm 1265, Nghị viện đầu tiên của nước Anh được thành lập,gồm đại biểu là các quý tộc, tăng lữ, hiệp sỹ và cả các thị dân Năm 1295,Nghị viện được chia tách thành hai viện: Viện Quý tộc (Thượng viện) baogồm các giám mục, bá tước, công tước và các nhà quý tộc cao hơn từ các hạt;Viện bình dân (Hạ viện) bao gồm các hiệp sĩ, mỗi khu dân cư cử hai đại diện.Với thành phần như vậy, Nghị viện Anh hoạt động và quyết định mọi vấn đềtrên danh nghĩa của những người mà họ đại diện Sau cuộc cách mạng Vinhquang (1688-1689), Nghị viện hầu như trở thành chế định trung tâm trong hệthống chính trị Anh quốc Hình thức cử đại diện vào cơ quan lập pháp là một

Trang 37

phần quan trọng trong tiến trình chính trị, được nhiều nước biết đến, nghiêncứu và vận dụng những hạt nhân hợp lý trong việc tìm kiếm cách thức xâydựng một thiết chế đại diện để thực hiện quyền lực Nhân dân.

Bước vào thời kỳ hiện đại, rất nhiều nhà nghiên cứu, các chính kháchcũng luận đàm về vấn đề đại diện và coi đại diện là vấn đề tất yếu của sự tồntại thể chế Nghị viện:

Edmund Burke (1729-1797), một chính khách, người đã phục vụ nhiềunăm trong Viện Thứ dân Vương quốc Anh khi xây dựng luận điểm của mình

đã nhấn mạnh, đề cao quyền cá nhân trong xã hội Ông ủng hộ một nền dânchủ tự do có bầu cử công bằng, công khai mà mọi công dân đều được hưởngquyền bình đẳng trước pháp luật và có cơ hội thành công như nhau Kết quảcủa hoạt động bầu cử là sự ra đời của cơ quan đại diện, đây là cơ chế tất yếutrong việc thiết lập một cơ quan quyền lực với những giới hạn nhất định đểđảm bảo quyền tự do cá nhân, quyền công dân được pháp luật công nhận

Khi bàn về hình thức đại diện, Edmund Burke [135] lập luận rằng,

những người đại biểu của Nhân dân là những người đại diện ủy thác; họ đưa

ra các quyết định không chỉ phụ thuộc vào đòi hỏi, mong muốn của cử tri bầu

ra họ mà còn phải dựa trên những kiến thức và phán xét của mình, để thựchiện những gì tốt nhất theo quan điểm, nhận thức lý trí của người đại diện

James Madison (1751-1836), Tổng thống thứ 4 của Hoa Kỳ cũng làmột nhà lý luận nghiên cứu, ủng hộ sự đại diện cho rằng người dân là nhữngngười có quyền quyết định tham gia hay không tham gia vào chính trị Trongmột số bài viết, tác phẩm của mình, J Madison đã nói về việc xây dựng nềncộng hòa dựa trên các thể chế đại diện, xây dựng một hệ thống Chính phủ đại

diện và có trách nhiệm Những người đại diện chỉ là đại diện thay mặt, họ chỉ

đơn giản tuân thủ những ưu tiên mà cử tri của mình đã biểu hiện [127]

Hanna Pitkin, giáo sư tại trường đại học California, Berkeley; người đãtích cực tranh luận trong nhiều hội thảo về vấn đề đại diện chính trị luôn xemxét “đại diện” dưới nhiều góc cạnh Bà cho rằng: “Những ý kiến của chúng ta

về đại diện chính trị phụ thuộc vào những thực tiễn chính trị về đại diện đangtồn tại Hiểu biết của chúng ta về đại diện được định hình một cách không thểtháo gỡ theo lối mà ở đó con người hiện tại đang được đại diện” [135]

Trang 38

Trong cuốn sách “The Concept of Reprentation” (Khái niệm đại diện),Hanna Pitkin không tập trung đưa ra một khái niệm “đại diện” riêng biệt, màphân tích một cách khá toàn diện các vấn đề liên quan đến đại diện chính trị.Trên cơ sở tán đồng, kế thừa quan điểm của các nhà nghiên cứu trước đó, bàlập luận, diễn giải, phân loại đại diện thành bốn loại cơ bản: đại diện hìnhthức, đại diện đồng dạng và đại diện nội dung [135].

Lý luận về vai trò đại diện thay mặt và đại diện ủy thác có những điểmmâu thuẫn nhất định với cách phân chia của Hanna Pikin Tuy nhiên, Bà chorằng, cần phải duy trì những quan điểm này, các công dân phải đảm bảo cho

người đại diện có quyền tự quyết nhất định trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

Mặc dù mỗi quan niệm đưa ra những cách tiếp cận khác nhau về đạidiện chính trị, nhưng đều có những điểm chung thống nhất Chúng đều có thể

sử dụng ở những góc độ khác nhau để giải thích về tiến trình công dân tiếnhành lựa chọn các nhà lãnh đạo của mình Các cuộc bầu cử là cơ chế chínhthống để cử tri trao quyền của mình cho những người đại diện Nếu người đạidiện không thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, thì phát sinh tính chịu tráchnhiệm của họ, đồng thời cử tri có lựa chọn đúng đắn trong các cuộc bầu cửtiếp theo Một điểm chung mà các nhà nghiên cứu gặp nhau chính là khi họlập luận giới hạn đại diện cho ý chí, lợi ích hay cả hai yếu tố đó

Nếu đại diện cho ý chí của cử tri, người đại diện phải truyền đạt đúng ýchí của người bầu ra mình Khi đó cả ý chí và lợi ích chưa đúng, chưa phùhợp cũng phải được phản ánh trung thực Nếu là đại diện cho lợi ích thì trên

cơ sở chức năng, nhiệm vụ, điều kiện, hoàn cảnh, người đại diện vận dụng trítuệ của mình để lựa chọn và đưa ra các quyết định tối ưu nhất, bảo vệ tốt nhấtcho lợi ích của cử tri (hay nói cách khác, người đại diện chỉ thực hiện các hoạtđộng vì lợi ích, nhu cầu chính đáng, hợp pháp của cử tri) Ở khía cạnh này,quan điểm đại diện lợi ích được nhiều học giả tán thành bởi lý do cử tri bầunên người đại diện là mong muốn tìm ra một nhà chính trị thông thái và cóđạo đức để có thể phán đoán và thực hiện các hoạt động quản lý xã hội tốthơn nhiều so với người được đại diện tự mình thực hiện

Tuy nhiên, quan niệm về đại diện cho lợi ích này có thể gây khó khăn

về giới hạn đại diện trong trường hợp người đại diện viện nhiều lý do (từ

Trang 39

chính cái đầu thông minh và lập luận khôn ngoan của họ), để không phản

ánh đúng, đủ hay lợi ích, nguyện vọng chính đáng của Nhân dân trong các

quyết sách của mình (thông qua cơ chế làm việc tập thể, quyết định theo đa

số, biểu quyết kín, …) Trong trường hợp này, nhiều khi người được đạidiện lại bị phụ thuộc, trông chờ vào chính người mà mình đã ủy quyền cho

họ Cho dù pháp luật nhiều quốc gia (trong đó có Việt Nam) có cơ chếmiễn nhiệm, bãi nhiệm đại biểu không còn xứng đáng với sự tín nhiệm,song để làm được điều đó, không phải nhóm cử tri nào (đặc biệt các nhómthế yếu: phụ nữ, người dân tộc thiểu số, người khuyết tật) cũng có đủ điềukiện yêu cầu và thực hiện trên thực tế mà thông thường chấp nhận hếtnhiệm kỳ để có sự lựa chọn mới

Trên thực tế, dù được bầu cử theo phương pháp đa số tương đối hay đa

số tuyệt đối, người đại diện đều phải đại diện cho cử tri bầu ra mình cũng như

cử tri cả nước Do đó, nghiêng về bảo vệ bên nào là công việc đòi hỏi nhà đạidiện phải “cân não” sao cho hài hòa lợi ích, tránh các xung đột hay nếu có thìphải giải thích, dàn xếp thỏa đáng cho những người đã ủy quyền cho mình

Chính vì vậy, hiện nay các quan điểm về đại diện chính trị đều chungthống nhất về giới hạn đại diện, đó là đại diện cho ý chí và quyền lợi (chínhđáng) của cử tri trên cơ sở hoạt động thực tiễn (gắn liền với trí tuệ mẫn thiệp

và phẩm chất đạo đức chính trị) của đại biểu dân cử Để hài hòa lợi ích cử tri

hay vùng lãnh thổ, địa giới hành chính, hệ thống lưỡng viện ra đời cùng cơ

chế phối hợp hoạt động, được phát triển rộng khắp là bài toán giải đáp cho

nhiều nước Ở những nước có hình thức đơn viện, người đại diện sẽ thực hiện

hai “nghĩa vụ”, đó là đại diện cho nhóm cử tri đã bầu ra mình và đại diệnchung cho cử tri cả nước Mỗi hình thức đều có tính ưu việt và những hạn chếriêng của nó Việc các quốc gia lựa chọn hình thức đơn viện, lưỡng viện hoặccùng một quốc gia, qua các thời kỳ lịch sử có thể tồn tại các loại hình thứckhác nhau phụ thuộc vào các yếu tố riêng như chính trị, lịch sử, pháp lý củadân tộc đó

“Đại diện” của Quốc hội là đại diện chính trị Nó là một thuộc tính phổbiến của Quốc hội, nhờ thuộc tính vốn có này mà Quốc hội tồn tại và trả lờicho câu hỏi: Quốc hội là gì, vì sao phải có Quốc hội?

Trang 40

Nếu đại diện trong dân sự thường thiết lập giữa các bên chủ thể thôngqua một hợp đồng, khế ước với những thông số cụ thể về thời gian, nghĩa vụ,lợi ích, sự cam kết, phạt vi phạm … thì đại diện của Quốc hội được thiết lậptrên cơ sở pháp luật quốc gia (Hiến pháp, Luật tổ chức BMNN, Luật bầu cử)mang tính biểu tượng quyền lực, danh dự quốc gia với các tiêu chí rất khóđịnh tính, định lượng khi các bên ủy quyền cho nhau Các cử tri khi bầu cửđại diện cho mình là lựa chọn: (i) Người có tài đức, có điều kiện hơn mình đểtham gia các công việc xã hội, giải quyết công việc xã hội ; (ii) Người cóđường lối chính trị đúng đắn, phù hợp với thời điểm lịch sử để các quyết sách(sau trúng cử) đem lại hiệu quả kinh tế và xã hội cho cử tri; (iii) Người sẽtrung thành và dũng cảm bảo vệ lợi ích cử tri (có thể phát sinh sau khi bầucử) Như vậy, đối tượng lợi ích mà cử tri hướng tới khi trao quyền cho nhà đạidiện nhiều khi chưa phát sinh, chưa định hình tại thời điểm bầu cử, nó nằm ởdạng “mong chờ” và “tin tưởng” Mặt khác hiện nay, Quốc hội các nước trênthế giới thường theo xu hướng đại diện ủy thác nên hiệu quả hoạt động củaQuốc hội phụ thuộc một phần rất lớn vào năng lực và đạo đức cá nhân ngườiđại diện Chính vì vậy, khái niệm đại diện Quốc hội không thể chỉ hiểu phiênsang từ khái niệm đại diện trong dân sự, bởi nó không phản ánh mối quan hệ

và ý nghĩa chính trị giữa người đại diện và người được đại diện

Đại diện của Quốc hội có những đặc điểm khác đại diện ủy quyền/thừa

lệnh trong hành pháp hay nhân danh quyền lực nhà nước trong tư pháp khituyên án Đó là, đại diện của Quốc hội là đại diện cao nhất, hay nói cách khác,

Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của Nhân dân Việt Nam Tính cao nhất

được quy định bởi chính cách thức hình thành, tổ chức và hoạt động của Quốchội khác với các thiết chế khác của BMNN

Thứ nhất, Quốc hội là tổ chức duy nhất do Nhân dân cả nước trực tiếp

bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, bỏ phiếu kín Đối với các quốcgia áp dụng bầu Quốc hội qua phiếu đại cử tri, thì cử tri phổ thông khi bầu rađại cử tri (để những người này trực tiếp bầu đại biểu Quốc hội), họ lựa chọnđại cử tri dựa trên quan điểm của đảng chính trị mà đại cử tri đó là thành viênhoặc ủng hộ Vì vậy có thể nói, sự hình thành, tồn tại của Quốc hội là ý chíthống nhất của Nhân dân cả nước

Ngày đăng: 18/10/2023, 19:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn An (2006), Để mãi mãi xứng đáng là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, Diễn văn tại Lễ kỷ niệm 60 năm Quốc hội Việt Nam, Hà Nội, ngày 05/01/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để mãi mãi xứng đáng là cơ quan đại biểu caonhất của nhân dân
Tác giả: Nguyễn Văn An
Năm: 2006
2. Nguyễn Hồng Anh (2007), Chế độ bầu cử của một số nước trên thế giới , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ bầu cử của một số nước trên thế giới
Tác giả: Nguyễn Hồng Anh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2007
4. Ban Chỉ đạo Đề án đổi mới công tác tiếp xúc cử tri (2010), Tờ trình số 437/TTr-ĐĐQH12 ngày 19/11/2010 về đổi mới công tác tiếp cúc cử tri của đại biểu Quốc hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tờ trình số437/TTr-ĐĐQH12 ngày 19/11/2010 về đổi mới công tác tiếp cúc cửtri của đại biểu Quốc hội
Tác giả: Ban Chỉ đạo Đề án đổi mới công tác tiếp xúc cử tri
Năm: 2010
5. Ban Công tác đại biểu (2007), Báo cáo số 106/BCTĐB tổng kết hoạt động nhiệm kỳ Quốc hội khóa XI, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 106/BCTĐB tổng kết hoạtđộng nhiệm kỳ Quốc hội khóa XI
Tác giả: Ban Công tác đại biểu
Năm: 2007
6. Ban Công tác Lập pháp (2009), Hội thảo tăng cường tính đại diện của đại biểu Quốc hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo tăng cường tính đại diện củađại biểu Quốc hội
Tác giả: Ban Công tác Lập pháp
Năm: 2009
7. Ban soạn thảo Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân (2014), Báo cáo tổng quan về Luật bầu cử một số nước trên thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng quan về Luật bầu cử một số nước trên thếgiới
Tác giả: Ban soạn thảo Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân
Năm: 2014
8. Bộ Chính trị (2008), Thông báo số 44-TB/TW ngày 31/3/2008 của Bộ Chính trị về một số vấn đề về tổ chức, hoạt động của Quốc hội và Đảng đoàn Quốc hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo số 44-TB/TW ngày 31/3/2008 của BộChính trị về một số vấn đề về tổ chức, hoạt động của Quốc hội vàĐảng đoàn Quốc hội
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2008
9. Cù Huy Cận (2000), Vai trò của Quốc hội trong công cuộc xây dựng và đổi mới, Kỷ yếu hội thảo, Văn phòng Quốc hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của Quốc hội trong công cuộc xây dựng vàđổi mới
Tác giả: Cù Huy Cận
Năm: 2000
10. Chính phủ (2012), Báo cáo thi hành tổng kết Hiến pháp năm 1992, số 32/BC-CP ngày 29/02/2012, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thi hành tổng kết Hiến pháp năm 1992, số32/BC-CP ngày 29/02/2012
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2012
11. R.H. Davidson và W.J. Oleszek (2002), Quốc hội và các thành viên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc hội và các thành viên
Tác giả: R.H. Davidson và W.J. Oleszek
Nhà XB: NxbChính trị quốc gia
Năm: 2002
12. Nguyễn Đăng Dung (2001), “Các mô hình Quốc hội”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (01) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các mô hình Quốc hội”, "Tạp chí Nghiêncứu lập pháp
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Năm: 2001
13. Nguyễn Đăng Dung, Bùi Ngọc Sơn (2004), Thể chế chính trị, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể chế chính trị
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung, Bùi Ngọc Sơn
Nhà XB: Nxb Lýluận chính trị
Năm: 2004
14. Nguyễn Đăng Dung (Chủ biên) (2007), Quốc hội Việt Nam trong Nhà nước pháp quyền, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc hội Việt Nam trong Nhànước pháp quyền
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
15. Trần Thị Hạnh Dung (2010), “Những yếu tố ảnh hưởng đến chức năng đại diện của Quốc hội”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (16), tr 12-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những yếu tố ảnh hưởng đến chức năngđại diện của Quốc hội”, "Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Trần Thị Hạnh Dung
Năm: 2010
16. Nguyễn Sĩ Dũng (Chủ biên) (2002), Tổ chức và hoạt động của Quốc hội một số nước, Văn phòng Quốc hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức và hoạt động của Quốc hộimột số nước
Tác giả: Nguyễn Sĩ Dũng (Chủ biên)
Năm: 2002
17. Nguyễn Sĩ Dũng (2003), “Đại biểu Quốc hội, chuyên trách hay chuyên nghiệp”, Quốc hội Việt Nam - những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Tư pháp 2006, tr. 147-151 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại biểu Quốc hội, chuyên trách hay chuyênnghiệp”, "Quốc hội Việt Nam - những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Sĩ Dũng
Nhà XB: Nxb Tư pháp 2006
Năm: 2003
18. Nguyễn Sĩ Dũng, Trần Tuyết Mai, Nguyễn Đức Lam, Hoàng Minh Hiếu (2006), Thường thức về hoạt động giám sát của Quốc hội, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thường thức về hoạt động giám sát của Quốc hội
Tác giả: Nguyễn Sĩ Dũng, Trần Tuyết Mai, Nguyễn Đức Lam, Hoàng Minh Hiếu
Nhà XB: Nxb Tưpháp
Năm: 2006
19. Nguyễn Sĩ Dũng (Chủ biên) (2014), Tổ chức và hoạt động của Nghị viện một số nước trên thế giới, Văn phòng Quốc hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức và hoạt động của Nghị việnmột số nước trên thế giới
Tác giả: Nguyễn Sĩ Dũng (Chủ biên)
Năm: 2014
20. Hoàng Duy - Hoàng Minh Hiếu (2000), “Trao đổi về hoạt động giám sát của Quốc hội”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (3), tr.12-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trao đổi về hoạt động giám sátcủa Quốc hội”, "Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Hoàng Duy - Hoàng Minh Hiếu
Năm: 2000
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1986

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Tổng số văn bản luật, pháp lệnh đƣợc ban hành  trong 12 nhiệm kỳ Quốc hội Việt Nam - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC HIỆN VỀ QUỐC HỘI
Bảng 3.1 Tổng số văn bản luật, pháp lệnh đƣợc ban hành trong 12 nhiệm kỳ Quốc hội Việt Nam (Trang 84)
Bảng 3.2: Tỷ lệ số lƣợng các phiên họp Quốc hội về lập pháp (Khóa XI) Kỳ họp S/Lƣợng các phiên - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC HIỆN VỀ QUỐC HỘI
Bảng 3.2 Tỷ lệ số lƣợng các phiên họp Quốc hội về lập pháp (Khóa XI) Kỳ họp S/Lƣợng các phiên (Trang 87)
Bảng  3.3:  Số  lượng  đại  biểu,  ý  kiến  đại  biểu  phát  biểu  tại  hội  trường trong các kỳ họp của Quốc hội có liên quan đến hoạt động xây dựng pháp luật - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC HIỆN VỀ QUỐC HỘI
ng 3.3: Số lượng đại biểu, ý kiến đại biểu phát biểu tại hội trường trong các kỳ họp của Quốc hội có liên quan đến hoạt động xây dựng pháp luật (Trang 88)
Bảng 3.4: Cơ cấu đại biểu Quốc hội các khóa XI, XII, XIII - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC HIỆN VỀ QUỐC HỘI
Bảng 3.4 Cơ cấu đại biểu Quốc hội các khóa XI, XII, XIII (Trang 118)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w