1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Hội thảo khoa học cấp trường TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP: QUY ĐỊNH QUỐC TẾ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM

219 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Trách Nhiệm Xã Hội Của Doanh Nghiệp: Quy Định Quốc Tế Và Những Vấn Đề Pháp Lý Đặt Ra Đối Với Việt Nam
Tác giả PGS.TS. Vũ Công Giao, ThS.NCS. Nguyễn Mạnh Tuân, ThS. Phạm Thanh Hằng, ThS.NCS. Nguyễn Hà Thanh, PGS.TS. Nguyễn Bá Bình, ThS. Trần Thu Hiền, PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hà, TS. Nguyễn Thị Anh Thơ, PGS.TS. Bành Quốc Tuấn, ThS. Nguyễn Hoàng Anh, TS. Trần Anh Tuấn, PGS.TS. Nguyễn Thị Thanh Hải
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Bá Bình
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Thể loại kỷ yếu hội thảo
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 219
Dung lượng 2,46 MB
File đính kèm Ky yeu HT cap truong.zip (2 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

rách nhiệm xã hội của doanh nghiệp hiện đã trở thành những tiêu chuẩn toàn cầu, vì vậy, việc nghiên cứu những quy định quốc tế về vấn đề này là rất cần thiết để có thể thúc đẩy trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam. Bài viết nhận diện nội hàm, khái quát hoá và sơ bộ phân tích so sánh những tiêu chuẩn quốc tế cơ bản về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, bài viết liên hệ và gợi mở phương hướng thúc đẩy trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam trong thời gian tới. Từ khoá: Doanh nghiệp, trách nhiệm xã hội, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, hướng dẫn quốc tế. Dẫn nhập: Khái niệm “trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp” (Corporate Social Responsibility CSR) được đề xướng từ thế kỷ XIX và tiếp tục được thảo luận bởi nhiều học giả cho đến ngày nay. Có nhiều định nghĩa khác nhau về CSR. Ví dụ, Keith Davis (1973) cho rằng “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là sự quan tâm và phản ứng của doanh nghiệp với các vấn đề vượt ra ngoài việc thỏa mãn những yêu cầu pháp lý, kinh tế, công nghệ”.1 Trong khi đó, Archie Carroll (1999) cho rằng, “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là tất cả các vấn đề kinh tế, pháp lý, đạo đức và những lĩnh vực khác mà xã hội trông đợi ở doanh nghiệp trong mỗi thời điểm nhất định. Theo đó, nó bao gồm trách nhiệm kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện.”2 Matten và Moon (2004) thì định nghĩa: “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là một khái niệm bao trùm, bao gồm nhiều khái niệm khác như đạo đức kinh doanh, doanh nghiệp làm từ thiện, công dân doanh nghiệp, tính bền vững và trách nhiệm môi trường”.3 Dù vậy, nhìn từ góc độ khái quát quát nhất, có thể hiểu CSR là một nguyên tắc kinh doanh mà các doanh nghiệp tự nguyện chấp nhận, theo đó hoạt động của các doanh nghiệp không chỉ nhằm mục tiêu tạo lợi nhuận mà còn góp phần thúc đẩy các lợi ích chung cho xã hội, môi trường, và cộng đồng nơi mà doanh nghiệp đang kinh doanh. Như vậy, CSR không chỉ là việc doanh nghiệp tiến hành các hoạt động từ thiện,

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA

DOANH NGHIỆP: QUY ĐỊNH QUỐC

TẾ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM

HÀ NỘI, NGÀY 29 THÁNG 9 NĂM 2023

Trang 2

CHƯƠNG TRÌNH HỘI THẢO CẤP TRƯỜNG

“TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP: QUY ĐỊNH QUỐC TẾ VÀ

NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM”

Hà Nội, ngày 29 tháng 9 năm 2023

- Chủ trì: Lãnh đạo Trường/Trưởng Ban tổ chức Hội thảo

- Thư ký: ThS Nguyễn Mai Linh

7h45 – 8h05 Đăng ký đại biểu Ban tổ chức

8h05 – 8h10 Giới thiệu đại biểu Ban tổ chức

8h10 – 8h15 Phát biểu khai mạc Hội thảo Lãnh đạo Trường/Trưởng Ban tổ chức

Phiên I

8h15 – 8h30 Tổng quan quy định quốc tế về trách

nhiệm xã hội của doanh nghiệp

PGS.TS Vũ Công Giao

Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quyền Con người và Quyền Công dân, Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội;

ThS Phạm Thanh Hằng

Phó trưởng Bộ môn Pháp luật thương mại hàng hoá và dịch vụ quốc tế, Khoa Pháp luật thương mại quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội

8h45 – 9h00

Trách nhiệm phòng, chống tham nhũng của doanh nghiệp dưới góc

độ pháp luật hình sự - Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Trang 3

Thời gian Nội dung Thực hiện

ý đối với Việt Nam

TS Nguyễn Thị Anh Thơ

Phó trưởng Khoa Pháp luật thương mại quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội

10h30 – 10h45

Pháp luật về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp - Kinh nghiệm một số quốc gia và khuyến nghị cho Việt Nam

PGS.TS Bành Quốc Tuấn

Giám đốc Viện đào tạo sau đại học, Trường Đại học Thủ Dầu Một;

và ThS.Nguyễn Hoàng Anh

Trường Đại học Thủ Dầu Một

10h45 – 11h00 Pháp luật Việt Nam về trách nhiệm

xã hội của doanh nghiệp

TS Trần Anh Tuấn

Trưởng phòng Pháp luật thương mại, tài chính và tổng hợp, Vụ Pháp luật quốc tế, Bộ Tư pháp

11h00 – 11h30 Thảo luận

11h30 – 11h45 Phát biểu kết thúc Hội thảo Lãnh đạo Trường/ Trưởng Ban tổ chức

TRƯỞNG BAN TỔ CHỨC

PGS.TS Nguyễn Bá Bình Trưởng Khoa Pháp luật thương mại quốc tế

Trang 4

MỤC LỤC BÀI VIẾT HỘI THẢO

1

Tổng quan quy định quốc tế về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

PGS.TS Vũ Công Giao

Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quyền Con người và Quyền Công dân,

Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

ThS.NCS Nguyễn Mạnh Tuân

Trường Đại học Hải Dương

6

2

Bộ nguyên tắc hướng dẫn về kinh doanh và quyền con người của Liên Hợp

quốc và một số lưu ý cho Việt Nam

PGS.TS Nguyễn Bá Bình

Trưởng Khoa Pháp luật thương mại quốc tế,

Trường Đại học Luật Hà Nội

ThS Trần Thu Hiền

Khoa Pháp luật thương mại quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội

21

3

Bộ Nguyên tắc của OECD dành cho các công ty đa quốc gia về kinh doanh

có trách nhiệm và những lưu ý đối với Việt Nam

PGS.TS Nguyễn Ngọc Hà

Phó trưởng Khoa Luật, Trường Đại học Ngoại thương

39

4

Trách nhiệm tôn trọng quyền con người của doanh nghiệp theo các FTA

thế hệ mới và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam

PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Hải

Phó Viện trưởng Viện Quyền Con người, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

61

5

Trách nhiệm bảo vệ quyền con người của doanh nghiệp theo các BIT và

những vấn đề pháp lý đặt ra cho Việt Nam

TS Nguyễn Thị Anh Thơ

Phó trưởng Khoa Pháp luật thương mại quốc tế,

Trường Đại học Luật Hà Nội

71

6

Trách nhiệm bảo vệ môi trường của doanh nghiệp theo các FTA thế hệ mới

và những vấn đề pháp lý đặt ra cho Việt Nam

ThS Phạm Thanh Hằng

Khoa Pháp luật thương mại quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội

90

Trang 5

7

Trách nhiệm bảo vệ môi trường của doanh nghiệp theo các BIT và những

vấn đề pháp lý đặt ra cho Việt Nam

ThS Trần Phương Anh

Khoa Pháp luật thương mại quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội

106

8

Quy định của UN và ILO về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với

nhóm lao động yếu thế và những lưu ý đối với Việt Nam

ThS Đỗ Thu Hương

Khoa Pháp luật thương mại quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội

121

9

Trách nhiệm đảm bảo tiêu chuẩn lao động trong doanh nghiệp theo các

BIT và những vấn đề pháp lý đối với Việt Nam

ThS.NCS Lê Đình Quyết

Khoa Pháp luật thương mại quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội

134

10

Trách nhiệm phòng, chống tham nhũng của doanh nghiệp dưới góc độ

pháp luật hình sự - Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

ThS.NCS Nguyễn Hà Thanh

Phó Vụ trưởng Vụ Pháp luật, Ban Nội chính Trung ương

145

11

Trách nhiệm phòng, chống tham nhũng của doanh nghiệp theo các BIT và

những vấn đề đặt ra cho Việt Nam

TS Trần Thị Hồng Nhung

Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

157

12

Xu hướng nội luật hóa và ban hành các quy định về trách nhiệm xã hội của

doanh nghiệp tại một số quốc gia trên thế giới: một số gợi mở cho Việt

Nam

TS Đào Gia Phúc

Viện trưởng Viện Pháp luật Quốc tế và So sánh, Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

ThS Nguyễn Phương Quỳnh Chi

Nghiên cứu viên Viện Pháp luật Quốc tế và So sánh, Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

167

Trang 6

13

Pháp luật về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp - Kinh nghiệm một số

quốc gia và khuyến nghị cho Việt Nam

PGS.TS Bành Quốc Tuấn

Giám đốc Viện đào tạo sau đại học, Trường Đại học Thủ Dầu Một

ThS Nguyễn Hoàng Anh

Trường Đại học Thủ Dầu Một

182

14

Trách nhiệm của công ty đa quốc gia trong việc đảm bảo việc làm bền

vững cho người lao động: kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt

Trưởng phòng Pháp luật thương mại, tài chính và tổng hợp,

Vụ Pháp luật quốc tế, Bộ Tư pháp

208

Trang 7

TỔNG QUAN QUY ĐỊNH QUỐC TẾ VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA

DOANH NGHIỆP

PGS.TS Vũ Công Giao* ThS.NCS Nguyễn Mạnh Tuân** Tóm tắt: Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp hiện đã trở thành những tiêu

chuẩn toàn cầu, vì vậy, việc nghiên cứu những quy định quốc tế về vấn đề này là rất cần thiết để có thể thúc đẩy trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam Bài viết nhận diện nội hàm, khái quát hoá và sơ bộ phân tích so sánh những tiêu chuẩn quốc tế

cơ bản về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Trên cơ sở đó, bài viết liên hệ và gợi

mở phương hướng thúc đẩy trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam trong thời gian tới

Từ khoá: Doanh nghiệp, trách nhiệm xã hội, trách nhiệm xã hội của doanh

nghiệp, hướng dẫn quốc tế

Dẫn nhập: Khái niệm “trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp” (Corporate

Social Responsibility - CSR) được đề xướng từ thế kỷ XIX và tiếp tục được thảo luận bởi nhiều học giả cho đến ngày nay Có nhiều định nghĩa khác nhau về CSR Ví dụ,

Keith Davis (1973) cho rằng “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là sự quan tâm và

phản ứng của doanh nghiệp với các vấn đề vượt ra ngoài việc thỏa mãn những yêu cầu pháp lý, kinh tế, công nghệ”.1 Trong khi đó, Archie Carroll (1999) cho rằng,

“Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là tất cả các vấn đề kinh tế, pháp lý, đạo đức

và những lĩnh vực khác mà xã hội trông đợi ở doanh nghiệp trong mỗi thời điểm nhất định Theo đó, nó bao gồm trách nhiệm kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện.”2 Matten

và Moon (2004) thì định nghĩa: “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là một khái

niệm bao trùm, bao gồm nhiều khái niệm khác như đạo đức kinh doanh, doanh nghiệp làm từ thiện, công dân doanh nghiệp, tính bền vững và trách nhiệm môi trường”.3

Dù vậy, nhìn từ góc độ khái quát quát nhất, có thể hiểu CSR là một nguyên tắc kinh doanh mà các doanh nghiệp tự nguyện chấp nhận, theo đó hoạt động của các doanh nghiệp không chỉ nhằm mục tiêu tạo lợi nhuận mà còn góp phần thúc đẩy các lợi ích chung cho xã hội, môi trường, và cộng đồng nơi mà doanh nghiệp đang kinh doanh Như vậy, CSR không chỉ là việc doanh nghiệp tiến hành các hoạt động từ thiện,

* Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

** Trường Đại học Hải Dương

1 Davis, K (1973) The Case for and against Business Assumption of Social Responsibilities Academy of Management Journal, 16, 312-323

2 Carroll, A B (1999) Corporate Social Responsibility: Evolution of a Definitional Construct Business & Society, 38(3), 268–295

3 Moon, J., & Matten, D (2004) Corporate Social Responsibility Education Europe Journal of Business Ethics,

54, 323-337

Trang 8

mà nó bao gồm một loạt các hành động và cam kết để đảm bảo rằng hoạt động kinh doanh của họ có ảnh hưởng tích cực đến xã hội và môi trường

Trên thế giới hiện nay, CSR đã trở thành một phần không thể thiếu để xây dựng hình ảnh tích cực cho doanh nghiệp, thu hút nhân tài, tạo lòng tin từ khách hàng và cộng đồng, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong việc đóng góp vào sự phát triển bền vững của xã hội và môi trường tự nhiên4

Để cung cấp một góc nhìn tổng quan về các quy định quốc tế về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, bài viết này khái quát hoá và bước đầu so sánh các quy định cơ bản của bốn văn kiện nêu trên Trên cơ sở đó, bài viết liên hệ và gợi mở phương hướng thúc đẩy trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam trong thời gian tới

1 Khái quát nguồn quy định quốc tế về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

Mặc dù khái niệm CSR chỉ mang tính khuyến khích, song đã được ghi nhận trong nhiều văn kiện quốc tế, trong đó tiêu biểu là: (i) Hướng dẫn của OECD dành cho

Doanh nghiệp Đa quốc gia (OECD Guidelines for Multinational Enterprises); (ii) Hướng dẫn ISO 26000 về Trách nhiệm xã hội (ISO 26000 Guidance on Social

Responsibility), (iii) Hiệp ước toàn cầu của Liên hợp quốc (UN Global Compact - UNGC) và (iv) Các Nguyên tắc hướng dẫn của Liên hợp quốc về Kinh doanh và Nhân

quyền (UN Guiding Principles on Business and Human Rights - UNGP)

Những văn kiện nêu trên đề cập đến những khía cạnh quan trọng nhất của CSR, bao gồm: (i) Trách nhiệm Xã hội: Doanh nghiệp cam kết thực hiện các hoạt động xã hội có lợi, như hỗ trợ cộng đồng, giáo dục, y tế, và các chương trình xã hội khác; (ii) Bảo vệ Môi trường: Doanh nghiệp cam kết thực hiện các biện pháp để giảm tác động của hoạt động kinh doanh lên môi trường, bao gồm tiết kiệm năng lượng, quản lý chất thải, và hỗ trợ cho các giải pháp bền vững; (iii) Đạo đức Kinh doanh: Doanh nghiệp cam kết hành xử có đạo đức trong mọi khía cạnh của hoạt động kinh doanh, tránh tham nhũng và hành xử minh bạch, trung thực; (iv) Quản lý Chuỗi cung ứng: Doanh nghiệp đảm bảo rằng tất cả các đối tác và nhà cung cấp tuân thủ các tiêu chuẩn xã hội

và môi trường; (v) Chất lượng cuộc sống của Nhân viên: Doanh nghiệp cam kết tạo ra môi trường làm việc lành mạnh, công bằng và đảm bảo nhân viên được trả lương công bằng; (vi) Phát triển Kinh tế Bền vững: Doanh nghiệp thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững bằng cách hỗ trợ các hoạt động kinh doanh tạo việc làm và phát triển kinh tế ổn định; (vii) Minh bạch và Báo cáo: Doanh nghiệp cam kết báo cáo và công bố các hoạt động một cách minh bạch để giúp cổ đông và người tiêu dùng đánh giá về trách nhiệm

xã hội của doanh nghiệp

4 Emmanuel Akanpaadgi (2023), Corporate Social Responsibility and Business Practices, Journal of Human Resource and Sustainability Studies, Vol.11 No.1, March 14, 2023

Trang 9

Các văn kiện nêu trên đều thuộc dạng “luật mềm” – tức là không có tính ràng buộc về mặt pháp lý như các điều ước quốc tế, song có giá trị xã hội rất lớn, vì thế ngày càng được các doanh nghiệp tuân thủ

Dựa trên khái niệm CSR, gần đây các tổ chức quốc tế đã cổ vũ cho một khái niệm mới, có tính ràng buộc cao hơn, đó là khái niệm “thực hành kinh doanh có trách nhiệm” (Responsible Business Practices -RBP) Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), RBP có nghĩa là “đóng góp tích cực cho sự tiến bộ về kinh tế, môi trường và xã hội của các quốc gia mà doanh nghiệp đang hoạt động, phòng tránh và giải quyết những tác động tiêu cực của các hoạt động kinh doanh, bao gồm cả trong chuỗi cung ứng”5 Từ một góc nhìn khác, khái niệm RBP được hiểu là “Việc thực

hành các hoạt động kinh doanh trên cơ sở tuân thủ pháp luật và thực hiện các biện pháp đánh giá rủi ro đối với các yếu tố con người, xã hội và môi trường, đồng thời giải quyết các nguy cơ tiềm ẩn bằng việc phòng ngừa, giảm thiểu hoặc tiến hành biện pháp khắc phục thích hợp khi xảy ra vi phạm các tiêu chuẩn liên quan6

Như vậy, về bản chất khái niệm “thực hành kinh doanh có trách nhiệm” đồng nhất với khái niệm “trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp”, vì vậy, đôi khi hai khái niệm này được dùng lẫn cho nhau.7 Khác biệt chủ yếu giữa hai khái niệm này đó là, nếu như CSR được hiểu là mang tính khuyến khích thì RBP được hiểu là mang tính bắt buộc.8

Trong thời gian qua, Liên hợp quốc và nhiều tổ chức quốc tế khác như Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và Tổ chức Hợp tác Phát triển kinh tế (OECD) đã tích cực tham gia vào việc thúc đẩy xây dựng một văn kiện có tính ràng buộc pháp lý về RBP nhưng chưa thành công9 Chính vì vậy, bốn Hướng dẫn quốc tế tiêu biểu về CSR đề cập ở trên vẫn là nền tảng cho những nỗ lực của các tổ chức quốc tế trong việc thúc đẩy RBP Những nguyên tắc và tiêu chuẩn trong các bản Hướng dẫn đó hiện đang được xem là nội dung nền tảng của RBP

Mặc dù cho đến nay vẫn chưa có một công cụ pháp lý quốc tế nào có tính ràng buộc các quốc gia về RBP, song ngày càng có nhiều ý kiến nhất trí về sự cần thiết phải

có một điều ước quốc tế về vấn đề này Động lực gần đây nhất cho việc xây dựng một

5 OECD, Responsible Business Conduct and the sustainable development goals,

https://mneguidelines.oecd.org/RBC-and-the-sustainable-development-goals.pdf, truy cập ngày 5/9/2023

6 UNGP Nguyên tắc 11, Nguyên tắc nền tảng A

7 Cambridge TECHNICALS LEVEL 3, BUSINESS Unit 17: Responsible business practices,

https://www.ocr.org.uk/Images/505852-responsible-business-practices.pdf, truy cập ngày 5/9/2023 Cũng xem Annmarie Ryan, Lisa O'Malley, Michele o'dwyer (2010), Responsible Business Practice: Re-Framing CSR for

Effective SME Engagement, European J International Management, Vol X, No Y, XXXX

8 UNDP Việt Nam, Tham vấn Chương trình hành động quốc gia về thực hành kinh doanh có trách nhiệm,

13/12/2022, thuc-hanh-kinh-doanh-co-trach-nhiem, truy cập ngày 5/9/2023

https://www.undp.org/vi/vietnam/press-releases/tham-van-chuong-trinh-hanh-dong-quoc-gia-ve-9 Xem thêm Surya Deva, ‘The UN Guiding Principles on Business and Human Rights and Its Predecessors: Progress at a Snail’s Pace?’ in Ilias Bantekas and Michael Ashley Stein (eds.), Cambridge Companion to Business and Human Rights Law (Cambridge: Cambridge University Press, 2021) 145-173

Trang 10

điều ước quốc tế như vậy là việc Ủy ban Châu Âu công bố dự thảo Chỉ thị về sự cẩn

trọng (due deligence) của doanh nghiệp về phát triển bền vững vào tháng 2 năm 202210 Chỉ thị này được xây dựng dựa trên các đạo luật về sự cẩn trọng về quyền con người (HRDD) tại một số quốc gia châu Âu (Pháp, Đức, Na-Uy, Hà Lan và Thụy Sỹ)11

Dù chưa có một điều ước quốc tế riêng, nhưng trong thực tế, vấn đề RBP đã được lồng ghép vào nội dung của nhiều hiệp định song phương và khu vực về đầu tư và thương mại quốc tế, trong đó bao gồm các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (FTA) Liên Hợp Quốc (LHQ) xem RBP là một nội dung quan trọng trong hoạt động của mình trên toàn thế giới, vì thế đã nỗ lực thúc đẩy việc thực hiện các Nguyên tắc hướng dẫn của LHQ về Kinh doanh và quyền con người (UNGP) thông qua việc hỗ trợ các quốc gia xây dựng Kế hoạch hành động quốc gia (NAP) Dựa trên sự hỗ trợ của Liên hợp quốc, nhiều nước đã xây dựng NAP nhằm tạo lập công cụ chính sách để thúc đẩy việc thực hiện RBP12 Tính từ khi UNGP được thông qua đến 2021, đã có khoảng 30 quốc gia đã xây dựng NAP, 21 quốc gia cũng đang trong quá trình xây dựng và 10 quốc gia khác đã dự kiến xây dựng13 Tại châu Á, các nước như Thái Lan, Pakistan, Nhật Bản, Hàn Quốc đã có NAP, trong khi Ấn Độ, Indonesia, Malaysia và Mông Cổ đang trong quá trình xây dựng Kế hoạch này.14 Ngoài ra còn một số nước đã lồng ghép vấn đề RBP vào một số chương trình hành động khác, ví dụ như Trung Quốc

2 Nội dung các văn kiện quốc tế cơ bản về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

2.1 Hướng dẫn của OECD dành cho Doanh nghiệp Đa quốc gia 15

Hướng dẫn của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) dành cho Doanh nghiệp Đa quốc gia là một tài liệu quan trọng nhằm hỗ trợ các công ty đa quốc gia trong việc thực hiện CSR trong quá trình kinh doanh trên thế giới Tài liệu này giúp các doanh nghiệp đa quốc gia và các doanh nghiệp nói chung hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của việc thực hiện CSR trong hoạt động kinh doanh quốc tế, cũng như cách thực thực hiện CSR một cách hiệu quả Dưới đây là một số điểm chính trong Hướng dẫn này16:

10 Xem https://ec.europa.eu/commission/presscorner/detail/en/ip_22_1145, truy cập ngày 5/9/2023

11 https://www.business-humanrights.org/en/big-issues/mandatory-due-diligence/national-regional- on-mhrdd/, truy cập ngày 5/9/2023

developments-12 Nguyễn, M., Bensemann, J và Kelly, S., ‘Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tại Việt Nam: Khung khái niệm’, Tạp chí Quốc tế về Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, (2018), https://doi.org/10.1186/s40991- 018- 0032-5 truy cập ngày 5/9/2023

13 https://globalnaps.org/ và https://www.ohchr.org/en/special-procedures/wg-business/national-action-plans- business-and-human-rights, truy cập ngày 5/9/2023

14 https://globalnaps.org/ và https://www.ohchr.org/en/special-procedures/wg-business/national-action-plans- business-and-human-rights, truy cập ngày 5/9/2023

15 Xem các tài liệu liên quan tại https://mneguidelines.oecd.org/mneguidelines/, truy cập ngày 5/9/2023

16 OECD (2021), Xây dựng chuỗi giá trị toàn cầu có khả năng phục hồi và bền vững hơn thông qua hành

vi kinh doanh có trách nhiệm,https://mneguidelines.oecd.org/rbc-and-trade.htm, truy cập ngày 5/9/2023

Trang 11

- Chấp nhận trách nhiệm xã hội: Hướng dẫn của OECD khuyến khích các doanh nghiệp đa quốc gia chấp nhận trách nhiệm xã hội và trách nhiệm về nhân quyền trong tất cả các khía cạnh của hoạt động kinh doanh, bao gồm cả ở cấp độ quốc tế, và đối với tất cả các đối tác trong chuỗi cung ứng

- Tuân thủ luật pháp quốc tế và quốc gia: Hướng dẫn yêu cầu các doanh nghiệp

đa quốc gia tuân thủ tất cả những quy định của pháp luật quốc tế và quy định của pháp luật các quốc gia liên quan đến kinh doanh của họ, bao gồm các quy tắc và tiêu chuẩn

về môi trường, nhân quyền, lao động và chống tham nhũng

- Tuân thủ đạo đức kinh doanh: Hướng dẫn khuyến nghị rằng các doanh nghiệp

đa quốc gia nên tuân thủ các nguyên tắc và giá trị đạo đức trong các hành vi và quyết định kinh doanh của họ Điều này có thể bao gồm việc phát triển các Chỉ tiêu Xã hội

và Môi trường (ESG) cụ thể

- Trách nhiệm trong Chuỗi Cung ứng: Hướng dẫn khuyến nghị rằng các doanh nghiệp đa quốc gia cần thúc đẩy việc tuân thủ các nguyên tắc CSR trong chuỗi cung ứng của mình và cần hỗ trợ các nhà cung cấp và đối tác trong việc cải thiện hiệu suất

xã hội và môi trường trong hoạt động kinh doanh của họ

- Minh bạch và Báo cáo: Hướng dẫn khuyến nghị rằng các doanh nghiệp đa quốc gia nên báo cáo về các hoạt động CSR của mình một cách minh bạch và đầy đủ

để cho phép cổ đông và các bên liên quan đánh giá hiệu suất xã hội của họ

Như vậy, có thể thấy Hướng dẫn của OECD cung cấp một cơ sở quan trọng để các doanh nghiệp đa quốc gia thực hiện CSR một cách có trách nhiệm và bền vững

Nó cũng giúp tạo ra môi trường kinh doanh quốc tế tích cực và đóng góp vào sự phát

triển bền vững của xã hội và môi trường trên thế giới

2.2 Hướng dẫn ISO 26000 về Trách nhiệm xã hội 17

Hướng dẫn ISO 26000 là một tài liệu quan trọng về CSR, được xây dựng bởi

Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO) Tài liệu này cung cấp ý kiến tư vấn và khung khổ nội dung cho các doanh nghiệp và tổ chức trong việc thực hiện và tích hợp CSR vào hoạt động kinh doanh của họ

Tài liệu bao gồm các định nghĩa, quy định về nền tảng, nguyên tắc và bảy chủ

đề cốt lõi về CSR đó là: quản trị tổ chức, nhân quyền, thực hành lao động, môi trường, điều hành công bằng, quyền của người tiêu dùng và phát triển cộng đồng18 Để cụ thể hoá chủ đề cốt lõi có 37 tiêu chí liên quan

Dưới đây là các nội dung chính trong Hướng dẫn ISO 2600019:

17 ISO 26000 Guidance on Social Responsibility, https://www.iso.org/iso-26000-social-responsibility.html, truy cập ngày 5/9/2023

https://www.iso.org/files/live/sites/isoorg/files/store/en/PUB100259.pdf, truy cập ngày 5/9/2023

https://www.iso.org/files/live/sites/isoorg/files/store/en/PUB100258.pdf, truy cập ngày 5/9/2023

Trang 12

- Phạm vi và Nguyên tắc: ISO 26000 xác định phạm vi của CSR và đề xuất một loạt các nguyên tắc để hướng dẫn các doanh nghiệp và tổ chức tuân thủ CSR Các nguyên tắc này bao gồm trách nhiệm, khả năng đối với tác động xã hội, đạo đức, trong sạch, tuân thủ luật pháp, minh bạch, và tạo giá trị cho xã hội và môi trường

- Các bên liên quan: ISO 26000 nhấn mạnh sự quan tâm đối với các bên liên quan, bao gồm cổ đông, nhân viên, khách hàng, cộng đồng, và môi trường tự nhiên

Nó khuyến khích doanh nghiệp tương tác với các bên liên quan để đáp ứng nhu cầu và

kỳ vọng của họ

- Chuỗi cung ứng: ISO 26000 thúc đẩy việc quản lý trách nhiệm xã hội trong chuỗi cung ứng Doanh nghiệp cần đảm bảo rằng các nhà cung cấp và đối tác của họ cũng tuân thủ các tiêu chuẩn xã hội và môi trường

- Báo cáo và Minh bạch: ISO 26000 khuyến khích việc báo cáo các hoạt động CSR nhằm tạo sự minh bạch trong việc đánh giá hiệu suất xã hội của doanh nghiệp

- Công cụ hỗ trợ: ISO 26000 không nêu ra các yêu cầu bắt buộc, thay vào đó nêu những nguyên tắc cơ bản để các doanh nghiệp và tổ chức có thể tuân thủ Văn kiện cũng cung cấp các công cụ hỗ trợ, ví dụ như lời khuyên, để giúp tổ chức thực hiện CSR một cách hiệu quả và linh hoạt

Có thể thấy nhiều nội dung nêu trên của Hướng dẫn ISO 26000 tương đồng với nội dung Hướng dẫn của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD); vì vậy, đây cũng là một tài liệu quan trọng để hỗ trợ các doanh nghiệp và tổ chức thực hiện CSR một cách có trách nhiệm và bền vững, đóng góp vào sự phát triển bền vững của xã hội

và môi trường tự nhiên

2.3 Hiệp ước toàn cầu của Liên hợp quốc 20

Hiệp ước Toàn cầu của Liên hợp quốc là một sáng kiến chính sách toàn cầu dành cho doanh nghiệp Hiệp ước do Liên Hợp Quốc chủ trương xây dựng, nhằm thúc đẩy các hoạt động của doanh nghiệp mà đóng góp cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững để tạo ra một thế giới tốt đẹp hơn Văn kiện này bao gồm mười nguyên tắc chung cho hoạt động của doanh nghiệp gắn với CSR Các nguyên tắc này được xây dựng dựa trên các công ước quốc tế được thừa nhận rộng rãi trong bốn lĩnh vực: nhân quyền, lao động, môi trường và chống tham nhũng Các doanh nghiệp có từ

10 nhân viên trở lên có thể tham gia Hiệp ước Toàn cầu của Liên hợp quốc và được chấp nhận vào cơ sở dữ liệu của Hiệp ước Khi tham gia, doanh nghiệp phải cam kết biến mười nguyên tắc của Hiệp ước thành một phần trong các hoạt động kinh doanh của mình và báo cáo hàng năm về tiến độ thực hiện Hiệp ước cho Liên hợp quốc.21

20 https://unglobalcompact.org/, truy cập ngày 5/9/2023

21 United Nations, The UN Global Compact: Finding Solutions to Global Challenges,

https://www.un.org/en/un-chronicle/un-global-compact-finding-solutions-global-challenges, truy cập ngày 5/9/2023

Trang 13

Thông thường, các doanh nghiệp tham gia Hiệp ước vì nó có vai trò quan trọng trong việc phát triển và duy trì mối quan hệ tích cực với khách hàng, nhân viên và đối tượng hữu quan khác Bên cạnh đó, khi tham gia Hiệp ước, các doanh nghiệp có thể có lợi thế trong việc tiếp cận các thị trường mới, thu hút và giữ chân các đối tác kinh doanh, phát triển các sản phẩm và dịch vụ mới; làm tăng sự hài lòng và năng suất lao động của nhân viên

10 nguyên tắc của Hiệp ước Toàn cầu của Liên Hợp Quốc bao gồm:22

Nguyên tắc 1: Hỗ trợ và tôn trọng bảo vệ các quyền con người mà đã được cộng đồng quốc tế công nhận

Nguyên tắc 2: Đảm bảo rằng các hoạt động kinh doanh không dính líu đến việc

Nguyên tắc 6: Loại bỏ sự phân biệt đối xử trong tuyển dụng và việc làm

Nguyên tắc 7: Áp dụng phương pháp phòng ngừa đối với các thách thức từ môi trường

Nguyên tắc 8: Thực hiện các hoạt động có trách nhiệm với môi trường

Nguyên tắc 9: Khuyến khích phát triển và phổ biến các công nghệ thân thiện với môi trường

Nguyên tắc 10: Chống tham nhũng dưới mọi hình thức, bao gồm đòi hối lộ và đưa hối lộ

2.4 Nguyên tắc Hướng dẫn của Liên hợp quốc về Kinh doanh và Nhân quyền 23

Các Nguyên tắc Hướng dẫn của Liên hợp quốc về Kinh doanh và Nhân quyền phản ánh quan điểm của Liên hợp quốc về cách thức mà các chính phủ và doanh nghiệp cần hành động trong vấn đề nhân quyền, trong đó bao gồm các quyền trong lĩnh vực lao động Tài liệu này được công bố vào năm 2011 và nhanh chóng được chấp nhận rộng rãi như là một bước tiến quan trọng trong việc xác định và thúc đẩy trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với quyền con người

Các Nguyên tắc Hướng dẫn này được hình thành trên cơ sở thừa nhận: a) Nghĩa

vụ của các quốc gia về việc tôn trọng, bảo vệ và thực thi các quyền và tự do cơ bản của con người; b) Vai trò của các doanh nghiệp, với tư cách là một bộ phận đặc biệt của xã

22 United Nations Global Compact, The Ten Principles of the UN Global Compact,

https://unglobalcompact.org/what-is-gc/mission/principles, truy cập ngày 5/9/2023

23 https://www.ohchr.org/sites/default/files/documents/publications/guidingprinciplesbusinesshr_en.pdf, truy cập ngày 5/9/2023

Trang 14

hội, thực hiện các chức năng đặc thù, được yêu cầu phải tuân thủ tất cả quy định pháp luật hiện hành và tôn trọng quyền con người; c) Sự cần thiết bảo đảm sự tương xứng giữa quyền và nghĩa vụ, cũng như có các biện pháp khắc phục phù hợp và hiệu quả khi

có vi phạm quyền

Văn kiện được áp dụng cho tất cả quốc gia và doanh nghiệp, bao gồm doanh nghiệp xuyên quốc gia và các loại hình khác, bất kể quy mô, lĩnh vực, địa điểm, chủ sở hữu và cơ cấu quản trị Về hình thức, văn kiện là một tổng thể hoàn chỉnh các nguyên tắc mà cần được xem xét, riêng biệt hoặc cùng với nhau, trong một mục tiêu chung nhằm nâng cao các tiêu chuẩn và thực hành liên quan đến kinh doanh và quyền con người, đặc biệt là với các cá nhân và cộng đồng bị ảnh hưởng, từ đó góp phần vào quá trình toàn cầu hoá một cách bền vững

Dưới đây là những nội dung chính của các Nguyên tắc Hướng dẫn của Liên hợp quốc về Kinh doanh và Nhân quyền24:

- Bất kỳ doanh nghiệp nào cũng có nghĩa vụ tôn trọng quyền con người Nguyên tắc này xác định rằng không chỉ chính phủ, mà cả doanh nghiệp cũng phải đảm bảo rằng họ không vi phạm quyền con người trong quá trình kinh doanh của mình

- Nhà nước có trách nhiệm bảo vệ và thúc đẩy quyền con người Mặc dù doanh nghiệp có trách nhiệm tôn trọng nhân quyền, Nhà nước vẫn phải đảm bảo rằng doanh nghiệp tuân thủ các quy tắc và luật pháp về nhân quyền

- Doanh nghiệp nên thực hiện tiêu chuẩn kinh doanh và nhân quyền Các doanh nghiệp nên xác định, ngăn chặn và giảm thiểu tác động tiêu cực đối với quyền con người mà họ có thể gây ra thông qua hoạt động kinh doanh của họ

- Cần tạo ra cơ chế bồi thường cho những người bị ảnh hưởng Khi có vi phạm quyền con người do hoạt động kinh doanh của họ gây ra, doanh nghiệp nên đảm bảo

có cơ chế bồi thường cho những người bị ảnh hưởng

- Tăng cường sự minh bạch và trách nhiệm Doanh nghiệp nên công khai thông tin về tình hình thực hiện các tiêu chuẩn kinh doanh và nhân quyền của họ và phải chịu trách nhiệm về những hậu quả của các vi phạm

3 So sánh nội dung cơ bản của bốn Hướng dẫn quốc tế 25

Mục đích của cả bốn Hướng dẫn nêu trên là thiết lập một nền tảng quốc tế chung cho việc ứng xử kinh doanh có trách nhiệm của các doanh nghiệp Các Hướng

24 OHCHR, Guiding Principles on Business and Human Rights: Implementing the United Nations 'Protect,

https://www.ohchr.org/sites/default/files/documents/publications/guidingprinciplesbusinesshr_en.pdf, truy cập ngày 5/9/2023

25 Mục này tham khảo từ: A comparison of 4 international guidelines for CSR (OECD Guidelines for

Multinational Enterprises ISO 26000 Guidance on Social Responsibility, UN Global Compact, UN Guiding Principles on Business and Human Rights) Prepared by Marie Gradert and Peter Engel, Danish Standards for Danish Business Authority, January 2015 ISBN nr 978-87-90774-62-2

Trang 15

dẫn đó tuy có những nội dung giống nhưng đồng thời có cách tiếp cận và những nội dung đặc thù, bổ sung cho nhau Nội dung của các Hướng dẫn bao gồm rất nhiều vấn

đề lớn và vấn đề phụ, với cách diễn đạt cũng như cách sử dụng các từ và thuật ngữ cụ thể khác nhau đáng kể Điều này tạo cơ hội cho các doanh nghiệp lựa chọn áp dụng các nguyên tắc phù hợp nhất với hoạt động của mình

Một số nội dung xuất hiện trong cả bốn Hướng dẫn, ví dụ như việc đánh giá chi tiết Về cơ bản, đây là một quy trình mà qua đó các điều kiện của doanh nghiệp trong một hoặc nhiều lĩnh vực được phân tích để xác định rủi ro, chi phí và lợi ích Trong cả bốn Hướng dẫn quốc tế về CSR đã nêu trên, đánh giá chi tiết cũng là một phương pháp

để doanh nghiệp xác định cách thức giải quyết những thách thức trong việc thực hiện CSR Phương pháp này bao gồm việc xác định các tác động bất lợi thực sự và có thể xảy ra đối với xã hội, môi trường và kinh tế, ngăn ngừa và giảm thiểu những tác động

đó, khắc phục những thiệt hại đã gây ra và công khai thông tin về quá trình đó thực hiện CSR

Từ góc độ nội dung, cả bốn Hớng dẫn đều đề cập những chủ đề sau, tuy cách thức và mức độ đề cập không đồng nhất như nhau, đó là: Quyền con người; Người lao động; Môi trường; Các vấn đề kinh tế và kinh doanh; Vấn đề người tiêu dùng; Phát triển cộng đồng

Về vấn đề quyền con người: Cả bốn Hướng dẫn đều dựa trên Tuyên ngôn Toàn

cầu về Nhân quyền năm 1948 của Liên hợp quốc để đề cập đến việc tôn trọng quyền con người Bốn Hướng dẫn đều đề cập đến cam kết của Nhà nước và doanh nghiệp trong việc bảo vệ quyền con người Ngoài ra, bốn Hướng dẫn đều quy định, hoạt động của doanh nghiệp phải dựa trên quy trình thẩm định, đánh giá những tác động bất lợi trên thực tế đối với nhân quyền và việc phòng ngừa, giảm thiểu những tác động bất lợi

về nhân quyền, các biện pháp khắc phục cũng như việc công khai thông tin về quá trình đó

Người lao động: Điểm chung của bốn Hướng dẫn là đều dựa trên Tuyên bố của

Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về các Nguyên tắc và Quyền Cơ bản tại nơi làm việc năm 1998 Điều này có nghĩa là các Hướng dẫn đều hướng đến việc giải quyết các vấn

đề liên quan đến quan hệ việc làm, quyền của người lao động, bao gồm quyền tham gia công đoàn và thương lượng tập thể; vấn đề xóa bỏ lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc, xóa bỏ lao động trẻ em và xoá bỏ sự phân biệt đối xử liên quan đến việc làm và nghề nghiệp

Bên cạnh đó, Hướng dẫn của OECD và ISO 26000 còn giải quyết các vấn đề về giới hạn giờ làm việc hàng tuần, sức khỏe và an toàn tại nơi làm việc, tiền lương, việc làm của lực lượng lao động địa phương, việc cung cấp dịch vụ giáo dục và phát triển

kỹ năng, cơ chế xử lý các vấn đề phát sinh giữa người sử dụng lao động và tổ chức của

Trang 16

người lao động Trong khi đó, Hướng dẫn UNGP cung cấp gợi ý cho doanh nghiệp thiết lập quy trình thẩm định về bảo vệ quyền của người lao động, bao gồm việc xác định các tác động bất lợi tiềm ẩn và thực tế đối với nhân quyền, giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu các tác động đó và việc khắc phục, đền bù cho nạn nhân bị vi phạm quyền (ví dụ như bồi thường)

Môi trường: Điểm chung trong các Hướng dẫn của OECD, ISO 26000 và

UNGC là chúng đều được xây dựng dựa trên Tuyên bố Rio của Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển Hơn nữa, cả Hướng dẫn ISO 26000 và OECD đều đề cập đến quản lý môi trường và bộ tiêu chuẩn ISO 14000 (về quản lý môi trường và các công cụ liên quan) như một khuôn khổ tổng thể để giải quyết các vấn đề môi trường một cách

có hệ thống Điểm chung khác trong Hướng dẫn của OECD, ISO 26000 và UNGC là chúng đều đề cập đến cách tiếp cận thận trọng đối với các thách thức về môi trường,

và khuyến nghị các doanh nghiệp nên thực hiện những sáng kiến nhằm thúc đẩy các hoạt động và trách nhiệm thân thiện với môi trường, bao gồm việc phát triển và phổ biến các công nghệ thân thiện với môi trường

Tuy nhiên, nội dung Hướng dẫn ISO 26000 chi tiết hơn UNGC và OECD xét

về quy định cách thức doanh nghiệp có thể đóng góp vào việc này, ví dụ như bằng cách tích cực sử dụng phần lớn sản phẩm từ các nhà cung cấp áp dụng công nghệ và quy trình thân thiện với môi trường và bền vững Cả Hướng dẫn của OECD và ISO

26000 đều tập trung vào cách tiếp cận có hệ thống đối với môi trường nhằm tôn trọng

và thúc đẩy trách nhiệm với môi trường cũng như quản lý rủi ro môi trường Điều này

có thể liên quan đến việc xác định, đo lường, ghi chép, báo cáo, đánh giá và xử lý các vấn đề môi trường Theo đó, một doanh nghiệp nên tìm cách cải thiện liên tục kết quả

và hoạt động môi trường của mình và tốt nhất là trong toàn bộ chuỗi giá trị của mình Hướng dẫn OECD và ISO 26000 cũng đều đề cập đến vấn đề giáo dục và đào tạo nhân viên về môi trường cũng như duy trì các kế hoạch dự phòng để ngăn ngừa, giảm thiểu, kiểm soát thiệt hại nghiêm trọng đối với sức khỏe và môi trường, đồng thời báo cáo với các cơ quan có thẩm quyền Hướng dẫn ISO 26000 cung cấp ý kiến tư vấn cho các doanh nghiệp về cách họ nên làm để ngăn ngừa ô nhiễm, sử dụng tài nguyên bền vững, giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo vệ và phục hồi môi trường Riêng Hướng dẫn UNGP thì không có quy định cụ thể về cách thức giải quyết các vấn đề môi trường

Các vấn đề kinh tế và kinh doanh: Chủ đề này bao gồm một số vấn đề khác

nhau trong các lĩnh vực kinh tế và kinh doanh Liên quan đến chủ đề này, các Hướng dẫn của OECD, ISO 26000 và UNGC đều đề cập đến vấn đề chống tham nhũng, bao gồm cuộc chiến chống đòi và nhận hối lộ Cả ba Hướng dẫn đều tham khảo Công ước

Trang 17

của Liên hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC) năm 2005 cho việc xây dựng các tiêu chuẩn về vấn đề này

Tuy nhiên, Hướng dẫn của OECD và ISO 26000 đề cập đến vấn đề chống tham nhũng rộng rãi hơn UNGC, cụ thể là đề cập đến hành vi đạo đức, đánh giá rủi ro, tuân thủ luật pháp và các quy định, các biện pháp phòng ngừa, các khoản bôi trơn, đào tạo

và nâng cao nhận thức cho nhân viên về việc loại bỏ hối lộ, cung cấp kiểm soát và giám sát liên tục của nhân viên và tiền lương của họ; trách nhiệm liêm chính trong chính trị, tuân thủ pháp luật về thuế, minh bạch thông tin, quản trị tổ chức để thực hiện CSR, sự tham gia và cam kết của các đối tác kinh doanh đối với các quy tắc của CSR

Vấn đề người tiêu dùng: Cả Hướng dẫn của OECD và ISO 26000 đều dựa trên

các Hướng dẫn của Liên Hợp Quốc về Bảo vệ Người tiêu dùng năm 1999 cũng như Khuyến nghị của OECD về Giải quyết và Khắc phục Tranh chấp Người tiêu dùng năm

2007, trong đó đề cập đến hoạt động tiếp thị có trách nhiệm, bảo vệ sức khỏe và sự an toàn của người tiêu dùng, giải quyết khiếu nại và tranh chấp cũng như bảo đảm quyền riêng tư và bảo vệ dữ liệu của người tiêu dùng ISO 26000 chi tiết hơn Hướng dẫn của OECD khi đề cập đến cả những cách thức giải quyết các vấn đề phát sinh liên quan đến người tiêu dùng

Một điểm tương đồng khác nữa là cả Hướng dẫn của OECD và ISO 26000 đều tập trung vào những người tiêu dùng dễ bị tổn thương và thiệt thòi Tuy nhiên, Hướng dẫn của OECD chỉ tính đến người tiêu dùng trong thương mại điện tử, trong khi ISO

26000 quy định rằng doanh nghiệp nên tính đến các nhóm dễ bị tổn thương, đặc biệt là khi xem xét thiết kế sản phẩm và dịch vụ có khả năng ứng dụng phổ biến Ngoài ra, ISO 26000 còn đề cập đến tiêu dùng bền vững, nghĩa là tiêu dùng sản phẩm và tài nguyên ở mức độ phù hợp với sự phát triển bền vững ISO 26000 cũng đề cập đến việc tiếp cận các dịch vụ thiết yếu, bao gồm các dịch vụ tiện ích như điện, ga, nước, dịch vụ

xử lý nước thải, thoát nước thải và viễn thông Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, ISO 26000 đề cập đến vấn đề giáo dục và nâng cao nhận thức, bao gồm các sáng kiến về giáo dục và thông tin cho người tiêu dùng để cung cấp cho họ đầy đủ thông tin về quyền và trách nhiệm của họ để có thể đưa ra các quyết định sáng suốt Trong ISO 26000, vấn đề phúc lợi động vật cũng được đề cập, nằm trong các vấn đề

về môi trường và người tiêu dùng Hướng dẫn UNGP và UNGC không đề cập trực tiếp đến các vấn đề của người tiêu dùng

Phát triển cộng đồng: Cả Hướng dẫn của OECD và ISO 26000 đều đề cập đến

chủ đề này ISO 26000 có một nội dung cụ thể về vấn đề tham gia và phát triển cộng đồng, trong đó đề cập đến việc làm thế nào để các doanh nghiệp thể hiện cam kết một cách chủ động và tham gia vào cộng đồng, qua đó đóng góp cho sự phát triển Cả hai Hướng dẫn đều bao gồm các vấn đề phụ về tạo việc làm và phát triển kỹ năng trong

Trang 18

cộng đồng Trong khi ISO 26000 có những hướng dẫn đặc biệt về vấn đề này, Hướng dẫn của OECD kết hợp vấn đề khoa học và công nghệ, bao gồm cả đóng góp của doanh nghiệp, vào việc phát triển năng lực đổi mới trong cộng đồng trong lĩnh vực khoa học và công nghệ ISO 26000 cũng bao gồm một vấn đề tương ứng về phát triển

và tiếp cận công nghệ trong sự kết nối với các vấn đề như tạo ra của cải và thu nhập, bảo vệ sức khỏe và đầu tư vào cộng đồng Chủ đề phát triển cộng đồng không có trong UNGC và UNGP

Kết luận

Các tiêu chuẩn trong bốn Hướng dẫn quốc tế về CSR chỉ mang tính chất tự nguyện, tuy nhiên, chúng phản ánh những kỳ vọng chung của cộng đồng quốc tế đối với hoạt động kinh doanh có trách nhiệm của doanh nghiệp trên phạm vi toàn cầu Ngày nay, trong nền kinh tế toàn cầu hoá, ý thức của nhân loại về các nguy cơ đối với môi trường sống và về các vấn đề xã hội trong hoạt động kinh doanh ngày càng cao thì yêu cầu về CSR cũng ngày càng tăng lên.26 Những tiêu chuẩn quốc tế về CSR hiện mang giá trị về mặt luân lý và xã hội, là nguồn cảm hứng và cơ sở để thiết lập một khuôn khổ tổng thể về kinh doanh có trách nhiệm xã hội đối với tất cả các loại hình doanh nghiệp, không phân biệt ngành và vị trí địa lý Hiện tại, tất cả các doanh nghiệp

đa quốc gia đều đã tự nguyện tuân thủ các tiêu chuẩn về CSR trong các Hướng dẫn quốc tế đã nêu, và ngày càng có nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các quốc gia tự nguyện tuân thủ các tiêu chuẩn đó Chứng chỉ tuân thủ một số Hướng dẫn đã trở thành một tài liệu không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, đặc biệt

là trong thương mại quốc tế

Đi xa hơn trong vấn đề này, Liên Hợp Quốc (LHQ) đã coi thực hành kinh doanh có trách nhiệm (một bước tiến trong việc thể chế hoá CSR) là một vấn đề quan trọng trong hoạt động của mình trên toàn thế giới Thể hiện cụ thể là Liên hợp quốc đang hỗ trợ các quốc gia thực hiện một trong bốn Hướng dẫn quốc tế vể CSR đã đề cập

ở trên, cụ thể là UNGP, thông qua việc xây dựng Kế hoạch hành động quốc gia về việc thực hiện UNGP Kế hoạch hành động quốc gia được Liên hợp quốc xem là một chính sách chiến lược để tăng cường thực hành kinh doanh có trách nhiệm ở các quốc gia phù hợp với UNGP.22

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tuy không phải là một thực tế mới, nhưng

là một thuật ngữ, phạm trù tương đối mới ở Việt Nam Ở Việt Nam, việc thực hiện CSR từ trước đến nay thường được xem là hành động của doanh nghiệp góp phần giải quyết các vấn đề xã hội, vì thế chủ yếu nhằm mục đích từ thiện và nhân đạo Trong khi

26 Phạm Xuân Thành, Trần Việt Hùng …, Đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong

nền kinh tế thị trường, Tạp chí Tài chính online:

https://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-kinh-doanh/dao-duc-kinh-doanh-va-trach-nhiem-xa-hoi-cua-doanh-nghiep-trong-nen-kinh-te-thi-truong-315658.html truy cập ngày 5/9/2023

Trang 19

đó, như đã phân tích trong bài viết này, CSR theo quan điểm chung của cộng đồng quốc tế hiện nay được hiểu là cách thức mà một doanh nghiệp đạt được sự cân bằng hoặc kết hợp những yêu cầu về kinh tế, môi trường và xã hội, đồng thời đáp ứng những kỳ vọng của các cổ đông và các bên đối tác, trong đó có kỳ vọng về sự liêm chính trong hoạt động kinh doanh Nói cách khác, theo cách hiểu hiện đại, CSR không dừng lại ở các vấn đề từ thiện, nhân đạo, mà bao gồm tất cả những cách thức mà doanh nghiệp tương tác với cổ đông, người lao động, khách hàng, nhà cung cấp, chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức quốc tế và với cộng đồng nói chung.27 Như vậy, quan niệm về CSR theo nghĩa hiện đại rộng hơn nhiều so với cách hiểu truyền thống ở Việt Nam

Do CSR hiện đã trở thành những tiêu chuẩn toàn cầu, việc thúc đẩy CSR là rất cần thiết và cấp bách để Việt Nam có thể hội nhập quốc tế thành công và trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 như mục tiêu mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định Để thúc đẩy CSR, đầu tiên cần tăng cường phổ biến, giáo dục về vấn

đề này trong các doanh nghiệp và trong xã hội, bởi lẽ đây vẫn còn là vấn đề tương đối mới ở Việt Nam Tiếp theo đó, cần tìm cách mở rộng và thể chế hoá tiêu chuẩn trong các Hướng dẫn quốc tế về CSR, trước mắt là vào các bộ quy tắc đạo đức, các bộ tiêu chuẩn sản phẩm, dịch vụ…của hệ thống các doanh nghiệp, sau đó là vào một số văn bản pháp quy của Nhà nước điều chỉnh một số hoạt động kinh doanh Bằng cách đó, dần dần có thể xây dựng thói quen và văn hoá “thực hành kinh doanh có trách nhiệm” (RBP) mà đang được Liên hợp quốc cổ vũ và đang trở thành một trong các quan tâm hàng đầu cả ở tầm quốc tế, khu vực cũng như ở nhiều quốc gia./

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 C., Ferrell, O (January 2016) Business ethics : ethical decision making and cases

Fraedrich, John., Ferrell, Linda (Eleventh ed.) Boston, MA ISBN 9781305500846 OCLC 937450119

2 Carroll, A B (1999) Corporate Social Responsibility: Evolution of a Definitional

Construct Business & Society, 38(3), 268–295

3 Davis, K (1973) The Case for and against Business Assumption of Social

Responsibilities Academy of Management Journal, 16, 312-323

27 Hoàng Ngọc Hải, Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Tạp chí

Tài chính online: trong-boi-canh-hoi-nhap-quoc-te-310809.html, truy cập ngày 5/9/2023

Trang 20

https://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-kinh-doanh/trach-nhiem-xa-hoi-cua-doanh-nghiep-viet-nam-4 Emmanuel Akanpaadgi (2023), Corporate Social Responsibility and Business

Practices, Journal of Human Resource and Sustainability Studies, Vol.11 No.1,

March 14, 2023

5 Hà Hồng Hà, Xây dựng môi trường kinh doanh liêm chính thông qua hành động tập

thể, Báo Nhân dân điện tử:

https://nhandan.vn/tin-tuc-kinh-te/xay-dung-moi-truong-kinh-doanh-liem-chinh-thong-qua-hanh-dong-tap-the-290252/

6 Hoàng Ngọc Hải, Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội

nhập quốc tế, Tạp chí Tài chính online:

https://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-kinh-quoc-te-310809.html (ngày đăng: 05/8/2019, truy cập lần cuối: 22/7/2021)

doanh/trach-nhiem-xa-hoi-cua-doanh-nghiep-viet-nam-trong-boi-canh-hoi-nhap-7 ISO 26000, Guidance on Social Responsibility,

11 Marie Gradert and Peter Engel, ISO 26000, Guidance on Social Responsibility, UN

Global Compact, UN Guiding Principles on Business and Human Rights, Danish

Standards for Danish Business Authority, January 2015 ISBN nr 978-87-90774-62-2

12 Moon, J., & Matten, D (2004) Corporate Social Responsibility Education Europe

Journal of Business Ethics, 54, 323-337

13 Moriarty, Jeffrey, "Business Ethics", The Stanford Encyclopedia of Philosophy (Summer 2021 Edition), Edward N Zalta (ed.), URL =

http://tapchicongthuong.vn/bai-viet/trach-nhiem-xa-hoi-cua-doanh-nghiep-theo-quy-16 OECD, A Comparison of 4 International Guidelines for CSR (OECD Guidelines for

Multinational Enterprises

Trang 21

17 OHCHR, Guiding Principles on Business and Human Rights: Implementing the

United Nations 'Protect, Respect and Remedy' Framework,

https://www.ohchr.org/sites/default/files/documents/publications/guidingprinciplesbusinesshr_en.pdf

18 Phạm Xuân Thành, Trần Việt Hùng …, Đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội

của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, Tạp chí Tài chính online:

xa-hoi-cua-doanh-nghiep-trong-nen-kinh-te-thi-truong-315658.html

https://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-kinh-doanh/dao-duc-kinh-doanh-va-trach-nhiem-19 Trần Trọng Toàn, Vai trò của đạo đức kinh doanh trong phát triển doanh nghiệp”

https://www.un.org/en/un-chronicle/un-global-compact-finding-solutions-global-22 VCCI, Sáng kiến Xây dựng tính Nhất quán và Minh bạch trong Quan hệ kinh doanh

tại Việt Nam (ITBI), Link tải bản pdf:

ge1bbadi-doanh-nghie1bb87p.pdf

https://anhnguyet.files.wordpress.com/2012/12/1-itbi_coc_t12_2012_bc3a1o-cc3a1o-23 https://mneguidelines.oecd.org/mneguidelines/

24 https://unglobalcompact.org/

25 https://www.ohchr.org/sites/default/files/documents/publications/guidingprinciplesbusinesshr_en.pdf

Trang 22

21

BỘ NGUYÊN TẮC HƯỚNG DẪN VỀ KINH DOANH VÀ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA LIÊN HỢP QUỐC VÀ MỘT SỐ LƯU Ý CHO VIỆT NAM

PGS.TS Nguyễn Bá Bình* ThS Trần Thu Hiền** Tóm tắt: Bộ nguyên tắc hướng dẫn về kinh doanh và quyền con người của Liên

hợp quốc (Bộ nguyên tắc hướng dẫn) ra đời năm 2011 nhằm thúc đẩy việc thực hành kinh doanh có trách nhiệm đối với quyền con người trên toàn cầu Nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, đã hưởng ứng tích cực các khuyến nghị này của Liên hợp quốc Bài viết này bắt đầu bằng việc làm rõ bối cảnh ra đời của Bộ nguyên tắc hướng dẫn

Ở phần tiếp theo, bài viết phân tích các nội dung cơ bản của Bộ nguyên tắc hướng dẫn Phần cuối của bài viết là một số lưu ý cho Việt Nam trong việc thúc đẩy thực hành kinh doanh có trách nhiệm đối với quyền con người

Từ khóa: Quyền con người, Bộ nguyên tắc hướng dẫn, Doanh nghiệp, Việt

của Liên hợp quốc về trách nhiệm về quyền con người của các doanh nghiệp đa quốc gia và các doanh nghiệp khác” (“Draft Norms on the Responsibility of Transnational Corporations and Other Business Enterprises with Regard to Human Rights”) đã được

đưa ra vào năm 200329, nhưng không được thông qua vì bị cho là thiếu tính linh hoạt trong tiếp cận vấn đề trách nhiệm đối với quyền con người của doanh nghiệp Mặc dù

dự thảo này bị từ chối, nhưng nhiều quốc gia ở các khu vực khác nhau trên thế giới tin rằng vấn đề kinh doanh và quyền con người cần được quan tâm hơn nữa Cùng với đó, việc đối mặt với nhiều vấn đề pháp lý và kiện tụng cũng khiến bản thân các doanh nghiệp thấy cần có sự minh thị đối với trách nhiệm về quyền con người liên quan tới hoạt động kinh doanh của mình Vì thế, năm 2005, Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc đã đề ra một nhiệm vụ đối với vấn đề kinh doanh và quyền con người Nhiệm vụ

* Trưởng khoa Pháp luật thương mại quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội

** Giảng viên Khoa Pháp luật thương mại quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội

28 Neglia, M (2016), The UNGPs - five years on: From consensus to divergence in public regulation on business and human rights, Netherlands Quarterly of Human Rights, 34(4), 289-317 Xem: file:///C:/Users/Tran%20Thu%20Hien/Downloads/34NethQHumRts289.pdf, truy cập ngày 20/8/2023

29 https://documents-dds-ny.un.org/doc/UNDOC/GEN/G03/160/08/PDF/G0316008.pdf?OpenElement, truy cập ngày 31/8/2023

Trang 23

22

này được đảm nhiệm bởi Giáo sư Ruggie30 - “Đại diện đặc biệt của Tổng Thư kí Liên

hợp quốc” (“UN Special Representative of the Secretary General”) về lĩnh vực quyền

con người và các doanh nghiệp đa quốc gia.31

Năm 2008, Giáo sư Ruggie đề xuất Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc một Khung chính sách để xử lý các thách thức về quyền con người liên quan tới kinh doanh Khung chính sách này có tên gọi là “Khuôn khổ Bảo vệ, Tôn trọng và Khắc

phục” (“Protect, Respect and Remedy Framework”)32 Khuôn khổ Bảo vệ, Tôn trọng

và Khắc phục bao gồm 3 trụ cột: i) Nhà nước có nghĩa vụ bảo vệ để chống lại sự vi phạm quyền con người của bên thứ ba, bao gồm doanh nghiệp; ii) Doanh nghiệp có trách nhiệm tôn trọng quyền con người; iii) Nạn nhân có khả năng tiếp cận nhiều hơn các biện pháp khắc phụ hiệu quả - cả tư pháp lẫn phi tư pháp Khuôn khổ này đã được Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc hoan nghênh Đây là dấu mốc đầu tiên một cơ quan liên chính phủ của Liên hợp quốc đã có quan điểm chính sách mang tính thực chất về quyền con người liên quan tới kinh doanh.33 Để vận hành Khuôn khổ trên,

tháng 3 năm 2011, Giáo sư Ruggie tiếp tục đệ trình Bộ nguyên tắc hướng dẫn về kinh

doanh và quyền con người (“Guiding Principles on Business and Human Rights” -

UNGPs) lên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc và được Hội đồng nhất trí thông qua vào ngày 16/6/2011

Bộ nguyên tắc hướng dẫn, cũng như Khuôn khổ Bảo vệ, Tôn trọng và Khắc phục, là sản phẩm được chủ trì thực hiện bởi Giáo sư Ruggie sau 6 năm nghiên cứu, tham vấn rộng rãi - với 47 cuộc tham vấn quốc tế được tổ chức ở tất cả các khu vực trên toàn cầu cùng với một chương trình nghiên cứu công phu và các xuất bản phẩm Quá trình nghiên cứu, tham vấn này có sự tham gia của các chính phủ, các viện nghiên cứu quyền con người quốc gia, các tổ chức xã hội, các tổ chức đại diện người lao động, giới học giả, chuyên gia pháp lý cũng như các doanh nghiệp và hiệp hội doanh nghiệp Bộ nguyên tắc hướng dẫn không chỉ được thông qua “trên giấy” bởi Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc mà thực sự đã được áp dụng tích cực bởi nhiều tổ chức khác nhau và nhận được sự đồng thuận quốc tế.34 Bộ nguyên tắc hướng dẫn, cùng với

30 Giáo sư John G Ruggie (1944-2021) là Giáo sư nổi tiếng về quyền con người và quan hệ quốc tế ở Đại học Harvard

31 John Ruggie, ‘Global Governance and “New Governance Theory”: Lessons from Business and Human

file:///C:/Users/Tran%20Thu%20Hien/Downloads/20GlobalGovernance5.pdf, truy cập ngày 20/8/2023

32 Olivier De Schutter, ‘The Challenge of Imposing Human Rights Norms on Corporate Actors’ in Olivier De Schutter, Transnational Corporations and Human Rights (2006)

33 https://www.ihrb.org/pdf/Ruggie-protect-respect-remedy-framework.pdf, truy cập ngày 31/8/2023

34 https://www.ituc-csi.org/IMG/pdf/12-04-23_ruggie_background_fd.pdf, truy cập ngày 31/8/2023

Trang 24

vụ pháp luật quốc tế mới cho các quốc gia và doanh nghiệp đối với việc bảo vệ và tôn trọng quyền con người trong hoạt động kinh doanh Tuy nhiên, nội dung của UNGPs

mô tả kỹ lưỡng các hàm ý về chuẩn mực và thực tiễn hiện hành đối với quốc gia và doanh nghiệp, đồng thời chứa đựng các quy định khác nhau trong luật quốc tế và luật quốc gia.36 UNGPs bao gồm 31 nguyên tắc thực thi Khuôn khổ Bảo vệ, Tôn trọng và Khắc phục, được xây dựng trên cơ sở 03 trụ cột: (i) Nghĩa vụ của quốc gia trong việc bảo vệ quyền con người khỏi sự lạm dụng bởi các chủ thể, bao gồm doanh nghiệp, thông qua xây dựng chính sách, pháp luật và xét xử (10 nguyên tắc, từ 1 - 10); (ii) Nghĩa vụ của doanh nghiệp trong việc tôn trọng quyền con người xuyên suốt hoạt động kinh doanh của mình, theo đó doanh nghiệp cần hành xử cẩn trọng để tránh gây

ra hoặc góp phần gây ra các tác động tiêu cực thông qua các hoạt động kinh doanh của

họ và xử lý khi các ảnh hưởng tiêu cực đó xảy ra (14 nguyên tắc, từ 11 đến 24); (iii) Các nạn nhân cần được đảm bảo tiếp cận các biện pháp khắc phục trong trường hợp quyền con người bị lạm dụng, bao gồm biện pháp tư pháp và phi tư pháp (7 nguyên tắc, từ 25 đến 31) Đối với mỗi trụ cột, các nguyên tắc của UNGPs đều được chia làm hai nhóm: nhóm nguyên tắc nền tảng và nhóm nguyên tắc vận hành Bộ nguyên tắc hướng dẫn cũng đưa ra các bình luận kèm theo mỗi nguyên tắc để làm rõ hơn nội dung những nguyên tắc này

2 Nội dung cơ bản của Bộ nguyên tắc hướng dẫn về kinh doanh và quyền con người của Liên hợp quốc

2.1 Nghĩa vụ bảo vệ quyền con người của Nhà nước

Theo UNGPs, yêu cầu đầu tiên trong việc thúc đẩy thực hành kinh doanh có trách nhiệm đối với quyền con người trên phạm vi toàn cầu chính là trách nhiệm của các chính phủ Cụ thể là 10 Nguyên tắc đầu tiên trong UNGPs được đề ra nhằm thiết

35 Dấu mốc đầu tiên là các năm 1976 và 1977 với việc thông qua 2 văn kiện quốc tế quan trọng về trách nhiệm

xã hội của doanh nghiệp: i) Hướng dẫn của OECD đối với các doanh nghiệp đa quốc gia (The OECD Guidelines for Multinational Enterprises); ii) Tuyên bố ba bên của Tổ chức Lao động quốc tế về các nguyên tắc liên quan tới doanh nghiệp đa quốc gia và chính sách xã hội (The International Labour Organisation’s Tripartite Declaration of Principles concerning Multinational Enterprises and Social Policy)

36 Office of the United Nations High Commissioner for Human Rights, “The Corporate Responsibility to respect Human Rights – an Interpretative Guide”, November 2011, tr.1 Xem: https://www.ohchr.org/sites/default/files/Documents/Issues/Business/RtRInterpretativeGuide.pdf, truy cập ngày 31/8/2023

Trang 25

Các nguyên tắc từ 3 đến 10 đưa ra các nghĩa vụ vận hành cụ thể mà Nhà nước nên thực hiện trên cơ sở 2 nguyên tắc nền tảng 1 và 2, và được nhóm thành 4 lĩnh vực: i) Các chức năng mang tính chính sách và quy định chung của quốc gia (Nguyên tắc 3); ii) Mối quan hệ giữa Nhà nước và doanh nghiệp (Nguyên tắc 4-6); iii) Hỗ trợ doanh nghiệp tôn trọng quyền con người trong các khu vực bị ảnh hưởng bởi xung đột; iv) Đảm bảo thống nhất chính sách (Nguyên tắc 8-10)

Đối với việc thực hiện các chức năng mang tính chính sách và quy định chung của quốc gia, Nguyên tắc 3 yêu cầu các quốc gia nên:

(a) Thực thi các luật có mục tiêu hoặc có hệ quả là buộc doanh nghiệp tôn trọng quyền con người; định kỳ đánh giá tính phù hợp của các luật đó và xử lý các

“khoảng trống pháp lý”;

37 Lagoutte, S (2014), The State Duty to Protect Against Business-Related Human Rights Abuses, Unpacking Pillar 1 and 3 of the UN Guiding Principles on Human Rights and Business Unpacking Pillar, 1 Xem:

file:///C:/Users/Tran%20Thu%20Hien/Downloads/SSRN-id2496355.pdf, truy cập ngày 20/8/2023

38 Backer, L (2015), Moving forward the UN guiding principles for business and human rights: between enterprise social norm, state domestic legal orders, and the treaty law that might bind them all, Fordham

International Law Journal, 38(2), 457-542 Xem: https://ir.lawnet.fordham.edu/ilj/vol38/iss2/3/, truy cập ngày 20/8/2023

39 The Danish Government, Danish National Action Plan - implementation of the UN Guiding Principles on

https://www.ohchr.org/sites/default/files/Documents/Issues/Business/NationalPlans/Denmark_NationalPlanBHR pdf, truy cập ngày 31/8/2023

Trang 26

25

(b) Đảm bảo các luật khác và chính sách điều chỉnh việc thành lập và hoạt động của doanh nghiệp, như luật doanh nghiệp, không hạn chế, mà tạo điều kiện cho doanh nghiệp tôn trọng quyền con người;

(c) Cung cấp các hướng dẫn hiệu quả cho doanh nghiệp về vấn đề tôn trọng quyền con người trong suốt quá trình hoạt động;

(d) Khuyến khích và trong trường hợp cần thiết thì yêu cầu các doanh nghiệp thông tin về việc họ đã giải quyết những vấn đề có tác động tới quyền con người như thế nào

Khi thực thi nghĩa vụ bảo vệ của mình thông qua chính sách và quy định pháp luật, các quốc gia cần xác định rõ mục tiêu là nhằm đảm bảo các chuẩn mực xã hội trong kinh doanh rồi mới cụ thể hóa chúng thành quy định pháp luật phù hợp với các chính sách và hoàn cảnh hiện hành40 Đồng thời, cần lưu ý là cùng hoạt động kinh doanh nhưng tùy thuộc vào các đặc điểm nhất định mà doanh nghiệp sẽ được phân chia thành một số loại khác nhau, do đó biện pháp thúc đẩy trách nhiệm đối với quyền con người cũng sẽ khác nhau về mức độ và phạm vi đối với từng loại hình doanh nghiệp Nói cách khác, việc doanh nghiệp phải hiện thực hóa trách nhiệm đối với quyền con người như thế nào còn liên quan và phụ thuộc vào quy mô, ngành nghề, phạm vi hoạt động và cơ cấu của doanh nghiệp41 Một số quy định của Việt Nam trong pháp luật về doanh nghiệp yêu cầu công ty cổ phần phải công khai một số thông tin nhất định nhưng không yêu cầu công khai thông tin về môi trường, xã hội và quản trị Trong khi đó, công ty đại chúng - công ty cổ phần tiến hành huy động vốn rộng rãi từ công chúng thông qua phát hành chứng khoán, có nghĩa vụ phải công khai những thông tin mang tính phi tài chính này42

Đối với mối quan hệ giữa Nhà nước và doanh nghiệp, UNGPs quy định các quốc gia nên:

- Nguyên tắc 4: Thực hiện thêm các bước bảo vệ chống lại hành vi xâm phạm quyền con người do các doanh nghiệp nhà nước sở hữu hoặc kiểm soát, hoặc nhận sự

hỗ trợ hay dịch vụ đáng kể từ các cơ quan nhà nước ví dụ như các cơ quan tín dụng xuất khẩu, cơ quan bảo đảm và bảo hiểm đầu tư chính thức, bao gồm yêu cầu rà soát

về quyền con người trong trường hợp cần thiết

40 Office of the United Nations High Commissioner for Human Rights, Guiding Principles on Business and

https://www.ohchr.org/sites/default/files/documents/publications/guidingprinciplesbusinesshr_en.pdf, truy cập ngày 31/8/2023

41 Andreas Graf and Andrea Iff, Enhanced Human Rights Due Diligence in Conflict Affected and High-Risk Areas, Swiss Peace foundation, Berr, 2016, 15 Xem: https://www.connectingbusiness.org/system/files/2018-

11/Enhanced-Human-Rights-Due-Diligence-in-Conflict-Affected-and-High-Risk-Areas.pdf, truy cập ngày 20/8/2023

42 Thông tư 115/2015/TT-BTC ngày 06/10/2015 của Bộ Tài chính về hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán

Trang 27

26

- Nguyên tắc 5: Thực hiện hoạt động giám sát tương xứng nhằm đáp ứng nghĩa

vụ quyền con người quốc tế khi họ thỏa thuận với hoặc ban hành pháp luật cho các doanh nghiệp nhằm thực hiện các dịch vụ có khả năng ảnh hưởng đến việc thụ hưởng quyền con người

- Nguyên tắc 6: Đẩy mạnh tôn trọng quyền con người ở doanh nghiệp mà họ có giao dịch thương mại

Các nguyên tắc về mối quan hệ giữa Nhà nước và doanh nghiệp yêu cầu Chính phủ cần cẩn trọng trong xây dựng một hệ thống chính sách duy nhất hài hòa quy định dành cho mọi loại doanh nghiệp để có thể đảm bảo thực thi một cách hiệu quả Ví dụ, trong trường hợp doanh nghiệp nhà nước hoặc doanh nghiệp chịu sự chi phối lớn từ Nhà nước về mặt pháp lý thì Nhà nước càng có thêm cơ sở để thắt chặt chính sách đảm bảo việc tôn trọng quyền con người của doanh nghiệp đó43 Tại Việt Nam, doanh nghiệp nhà nước phải báo cáo định kỳ một số thông tin nhất định, nhưng trong đó lại không bao gồm yêu cầu công bố thông tin về môi trường, xã hội và quản trị (ESG)44

Để phù hợp hơn với UNGPs, doanh nghiệp nhà nước cần phải đáp ứng được tiêu chuẩn về trách nhiệm xã hội, bao gồm trách nhiệm đối với quyền con người, cao hơn, tương xứng với nguồn lực Nhà nước đã phân bổ và đầu tư Doanh nghiệp nhà nước nên có những chính sách và quy trình rõ ràng để tự nhận thức được ảnh hưởng của hoạt động kinh doanh lên xã hội, môi trường cũng như trách nhiệm minh bạch và công khai những thông tin này Bên cạnh đó, nghĩa vụ của Nhà nước không chỉ đơn thuần là xây dựng lên một chương trình hành động quốc gia (gồm chính sách, pháp luật, quy định…) mà còn cần đảm bảo thực thi luật liên quan thông qua công tác quản lý, giám sát, giải quyết hành vi xâm phạm nhằm định hình hành vi của doanh nghiệp liên quan đến quyền con người

Do rủi ro về các vi phạm quyền con người nghiêm trọng ở các khu vực bị ảnh hưởng bởi xung đột gia tăng, UNGPs đã đưa ra Nguyên tắc 7 để hỗ trợ doanh nghiệp tôn trọng quyền con người trong các khu vực này Cụ thể, theo UNGPs, các quốc gia cần đảm bảo rằng doanh nghiệp đang hoạt động trong bối cảnh đó không liên quan tới những hành vi xâm phạm quyền con người, bao gồm:

(a) Tham gia cùng với doanh nghiệp từ giai đoạn sớm nhất có thể nhằm giúp doanh nghiệp nhận diện, ngăn ngừa và giảm thiểu các rủi ro quyền con người trong hoạt động và mối quan hệ kinh doanh của họ;

43 Office of the United Nations High Commissioner for Human Rights, Guiding Principles on Business and

https://www.ohchr.org/sites/default/files/documents/publications/guidingprinciplesbusinesshr_en.pdf, truy cập ngày 31/8/2023

44 Khoản 1 Điều 109 Luật Doanh nghiệp 2020

Trang 28

27

(b) Hỗ trợ đầy đủ cho doanh nghiệp nhằm đánh giá và giải quyết những nguy

cơ xâm phạm đang tăng cao, đặc biệt chú ý đến các hành vi bạo lực tình dục và bạo lực giới;

(c) Từ chối hỗ trợ và cung ứng dịch vụ công cho doanh nghiệp liên quan đến các hành vi xâm phạm quyền con người và không hợp tác giải quyết vấn đề;

(d) Bảo đảm hiệu quả của các chính sách, pháp luật, quy định và biện pháp thực thi của Quốc gia trong việc giải quyết rủi ro về doanh nghiệp có liên quan đến những hành vi xâm phạm quyền con người nghiêm trọng

Về đảm bảo thống nhất chính sách, UNGPs quy định ở các Nguyên tắc 8-10, bao gồm:

- Nguyên tắc 8: Các Quốc gia nên đảm bảo rằng các cơ quan, văn phòng của chính phủ và các cơ quan trực thuộc nhà nước khác có tham gia vào việc hình thành nên thực tiễn kinh doanh, đều nhận thức và tuân thủ nghĩa vụ Quốc gia về quyền con người khi thực thi chức năng nhiệm vụ của mình, bao gồm việc cung cấp thông tin, đào tạo và hỗ trợ cho các cơ quan, tổ chức này;

- Nguyên tắc 9: Các Quốc gia nên duy trì không gian chính sách quốc gia đầy

đủ để đáp ứng nghĩa vụ quyền con người khi theo đuổi những mục tiêu chính sách liên quan đến hoạt động kinh doanh với những quốc gia hay doanh nghiệp khác, ví dụ như thông qua các hiệp định hoặc hợp đồng đầu tư;

- Nguyên tắc 10: Các Quốc gia, với tư cách thành viên của các tổ chức đa phương có liên quan đến hoạt động kinh doanh, nên: Cố gắng đảm bảo rằng những tổ chức này không gây hạn chế khả năng của Quốc gia thành viên trong việc thực hiện nghĩa vụ bảo vệ quyền con người, cũng như không cản trở các doanh nghiệp tôn trọng quyền con người; Khuyến khích các tổ chức này, trong phạm vi quyền hạn và năng lực của mình, thúc đẩy việc tôn trọng quyền con người và doanh nghiệp và, khi được yêu cầu, cần giúp đỡ các Quốc gia thực hiện nghĩa vụ bảo vệ khỏi những hành vi xâm phạm quyền con người do doanh nghiệp gây ra, thông qua các hỗ trợ kỹ thuật, phát triển năng lực và nâng cao nhận thức; Dựa trên các Nguyên tắc hướng dẫn này để nâng cao hiểu biết chung và tăng cường hợp tác quốc tế trong việc quản lý các thách thức về hoạt động kinh doanh và quyền con người

Để có thể thúc đẩy doanh nghiệp thực thi kinh doanh có trách nhiệm đối với quyền con người hiệu quả, Chính phủ cần đảm bảo tính thống nhất của các chính sách liên quan cũng như phương án triển khai đồng bộ trên phạm vi quốc gia lẫn quốc tế Đương nhiên, các quốc gia thường sẽ rất dè dặt và cẩn trọng trong các vấn đề liên quan đến nguồn luật áp dụng hay quyền tài phán, nên việc xác định trách nhiệm pháp lý về vấn đề quyền con người của doanh nghiệp xuyên quốc gia thường gặp nhiều vướng mắc, chưa nói đến việc áp dụng chế tài hay những biện pháp khắc phục hành vi xâm

Trang 29

Những nguyên tắc thuộc trụ cột đầu tiên (Nguyên tắc 1 - 10) của UNGPs đã đưa

ra những nguyên tắc cơ bản, mang tính định hướng cho Nhà nước trong việc bảo về quyền con người và thúc đẩy kinh doanh có trách nhiệm của doanh nghiệp Đơn giản bởi mỗi quốc gia sẽ có hệ thống pháp luật, chính sách, cơ cấu bộ máy Nhà nước, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội… rất khác nhau, một chuẩn mực quá rập khuôn không thể áp dụng cho tất cả các quốc gia47 Ngược lại, trụ cột thứ hai của UNGPs gồm các nguyên tắc liên quan đến nghĩa vụ tôn trọng quyền con người của doanh nghiệp khi thực hiện hoạt động kinh doanh lại được trình bày tương đối rõ ràng và cụ thể48

2.2 Nghĩa vụ tôn trọng quyền con người của doanh nghiệp

UNGPs đưa ra 5 Nguyên tắc nền tảng về nghĩa vụ tôn trọng quyền con người của doanh nghiệp (Nguyên tắc 11 - 15), theo đó: i) doanh nghiệp cần tránh vi phạm quyền con người và giải quyết các ảnh hưởng tiêu cực về quyền con người (Nguyên tắc 11); ii) Quyền con người được xác định là quyền con người theo chuẩn mực toàn cầu (Nguyên tắc 12); iii) Tránh gây ra hoặc góp phần gây ra cũng như giải quyết các tác động tiêu cực đến quyền con người thông qua các hoạt động của doanh nghiệp; cố gắng ngăn ngừa hoặc giảm thiểu các ảnh hưởng tiêu cực đến quyền con người có liên quan trực tiếp đến hoạt động, sản phẩm hoặc dịch vụ trong các mối quan hệ kinh doanh của doanh nghiệp, ngay cả khi các doanh nghiệp này không góp phần gây ra các tác động đó (Nguyên tắc 13); iv) Trách nhiệm tôn trọng quyền con người của các doanh nghiệp áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp không phân biệt quy mô, ngành, bối cảnh hoạt động, quyền sở hữu và cơ cấu của doanh nghiệp Tuy nhiên, cấp độ và tính

45 Davis, J (2006), Justice without borders: Human rights cases in US courts, Law & Policy, 28(1), 60-82 Xem:

https://onlinelibrary.wiley.com/doi/abs/10.1111/j.1467-9930.2005.00217.x, truy cập ngày 20/8/2023

46 Chương 13 về thương mại và phát triển bền vững của Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu

Âu (EVFTA)

47 Parker, K (1988), Jus cogens: compelling the law of human rights, Hastings Int'l & Comp L Rev., 12, 411

Xem:

https://repository.uclawsf.edu/cgi/viewcontent.cgi?article=1234&context=hastings_international_comparative_la w_review, truy cập ngày 20/8/2023

48 Nguyên tắc thứ 12 của UNGPs nhấn mạnh trách nhiệm của doanh nghiệp “được hiểu theo nội dung thể hiện trong Luật Nhân quyền Quốc tế và các nguyên tắc liên quan đến những quyền cơ bản nêu trong Tuyên bố của Tổ chức Lao động Quốc tế về Nguyên tắc và Quyền cơ bản tại Nơi làm việc”

Trang 30

29

chất phức tạp của các phương tiện mà thông qua đó các doanh nghiệp thực hiện nghĩa

vụ này có thể khác nhau tùy theo các yếu tố nêu trên và mức độ của các ảnh hưởng tiêu cực đối với quyền con người (Nguyên tắc 14); 3 phương tiện để thực hiện việc tôn trọng quyền con người: Cam kết chính sách; Quy trình rà soát về quyền con người; Các quy trình khắc phục ảnh hưởng tiêu cực đến quyền con người (Nguyên tắc 15)

Trên cơ sở 5 nguyên tắc nền tảng trên, 9 nguyên tắc vận hành được thiết kế thành 4 nhóm: i) Cam kết chính sách (Nguyên tắc 16); ii) Quy trình rà soát về quyền con người (Nguyên tắc 17 - 21); iii) Quy trình khắc phục (Nguyên tắc 22 - 23); iv) Trách nhiệm tôn trọng quyền con người trong từng bối cảnh cụ thể (Nguyên tắc 24)

Về mặt cam kết chính sách, doanh nghiệp cần cam kết bằng một tuyên bố về chính sách với các yêu cầu sau: i) được phê duyệt ở cấp cao nhất của doanh nghiệp; ii) được thông báo bởi bộ phận chuyên môn trong doanh nghiệp và/hoặc bên ngoài doanh nghiệp; iii) được công khai và thông báo tới tất cả nhân viên, đối tác và các bên có liên quan khác trong nội bộ cũng như ngoài doanh nghiệp; iv) được phản ánh trong các chính sách hoạt động và thủ tục cần thiết nhằm áp dụng trong toàn bộ doanh nghiệp Nguyên tắc 16 được coi là yêu cầu đầu tiên trong việc thực hiện trách nhiệm tôn trọng quyền con người của doanh nghiệp Nguyên tắc 16 khuyến khích doanh nghiệp đưa ra những cam kết liên quan đến quyền con người, ban hành những cam kết đó như một chính sách độc lập hoặc như một phần trong điều lệ hoạt động Các doanh nghiệp nên tiến hành những hoạt động này một cách công khai, minh bạch để đảm bảo các cam kết này đến được với mọi bên liên quan

Về quy trình rà soát về quyền con người, UNGPs yêu cầu doanh nghiệp thực hiện: i) Đánh giá tác động thực tế và tiềm ẩn; ii) Tích hợp và hành động dựa trên kết quả; iii) Theo dõi các phản hồi; iv) Thông tin về cách giải quyết Việc rà soát về quyền con người cần được thực hiện càng sớm càng tốt trong quá trình tiến hành một hoạt động hay thiết lập một quan hệ mới (chẳng hạn ngay từ khi soạn thảo hợp đồng) và cần thực hiện thường xuyên Doanh nghiệp cần xác định lĩnh vực chung có nguy cơ cao về vi phạm quyền con người (ví dụ: khu vực sản xuất) để ưu tiên rà soát về quyền con người trong lĩnh vực này Khi đánh giá rủi ro về quyền con người, doanh nghiệp cần tham vấn các bên liên quan và chuyên gia Để ngăn ngừa và giảm thiểu tác động bất lợi đến quyền con người, doanh nghiệp nên lồng ghép kết quả đánh giá tác động vào tất cả các bộ phận chức năng (kinh doanh, nhân sự, pháp chế…) Doanh nghiệp cần theo dõi một cách có hiệu quả biện pháp ứng phó đối với vi phạm quyền con người: Dựa trên phản hồi của cả bên trong và ngoài doanh nghiệp (ví dụ: hòm thư góp

ý vô danh); Việc theo dõi có thể dựa trên các công cụ như rà soát hợp đồng, bản điều tra… Doanh nghiệp cần cung cấp thông tin về vấn đề giải quyết tác động đến quyền con người Hoạt động cung cấp thông tin nên theo hình thức và một mức độ thường

Trang 31

30

xuyên nhằm phản ánh được các ảnh hưởng tới quyền con người của doanh nghiệp cũng như đảm bảo những đối tượng mục tiêu có thể tiếp cận được Chẳng hạn có thể tổ chức đối thoại, giải trình cho các cá nhân bị ảnh hưởng, họp trực tiếp/online/tham vấn các bên có quyền lợi liên quan/báo cáo giải quyết vấn đề ảnh hưởng Với những nguyên tắc này, UNGPs khuyến khích doanh nghiệp đẩy mạnh việc tôn trọng quyền con người liên quan đến hoạt động kinh doanh trên cả phạm vi tuân thủ pháp luật đơn thuần, bằng những hành động ngăn ngừa hoặc giảm thiểu tác động tiêu cực của hành

vi xâm phạm quyền con người49 Nguyên tắc 19 đề cập đến tính chất phức tạp khi doanh nghiệp xem xét đưa ra các biện pháp thích hợp để giải quyết các tác động tiêu cực, chủ yếu vẫn phải phù hợp với từng hoàn cảnh thực tế Có hai điều kiện chính cần tính đến đó là: mối quan hệ của doanh nghiệp với tác động tiêu cực (gây ra, góp phần gây ra hay liên quan trực tiếp) và khả năng khắc phục của doanh nghiệp đó (liệu có thể thực hiện mà không gây nên tác động tiêu cực không mong muốn khác)

Về quy trình khắc phục và trách nhiệm tôn trọng quyền con người trong từng bối cảnh cụ thể, UNGPs quy định: i) Doanh nghiệp cần cung cấp/hợp tác để khắc phục

vi phạm thông qua quy trình hợp pháp: Hội đàm/cung cấp cơ chế khiếu kiện cho những người bị ảnh hưởng; ii) Việc khắc phục phải tuân thủ quy định pháp luật và tôn trọng những quyền con người được quốc tế công nhận, cho dù doanh nghiệp hoạt động

ở bất kỳ đâu; iii) Nếu phải ưu tiên, thì ngăn ngừa/giảm thiểu những tác động nghiêm trọng nhất (ví dụ vi phạm nghiêm trọng đối với trẻ em, phụ nữ…)

Xét về phạm vi trách nhiệm, trụ cột thứ hai của UNGPs đã đưa ra một loạt các nguyên tắc nhằm đảm bảo doanh nghiệp xem xét những tác động tiêu cực (nếu có) đến quyền con người xuyên suốt toàn bộ hoạt động kinh doanh của mình Nhìn ở góc độ thực tế thì nhiều doanh nghiệp trên toàn cầu cũng đã công bố hoặc cập nhật chính sách thực hành kinh doanh có trách nhiệm đối với quyền con người của mình tương thích với các tiêu chuẩn được đặt ra trong UNGPs Trong số các nguyên tắc của UNGPs, trách nhiệm của doanh nghiệp khi kinh doanh phải tuân thủ các quy định pháp luật hiện hành về môi trường và tôn trọng các tiêu chuẩn xã hội thông qua việc bảo vệ môi trường là một phần quan trọng50

2.3 Nạn nhân được đảm bảo khắc phục việc bị lạm dụng quyền con người

Phần cuối cùng của UNGPs (Nguyên tắc 25 - 31) thiết lập những cơ sở và tiêu chuẩn để bảo đảm quyền tiếp cận với các biện pháp khắc phục trong trường hợp xảy ra

49 UN Human Rights Council, Business and human rights : towards operationalizing the "protect, respect and remedy" framework : report of the Special Representative of the Secretary-General on the Issue of Human Rights and Transnational Corporations and Other Business Enterprises, 22 April 2009, A/HRC/11/13, available

at: https://www.refworld.org/docid/49faf98a2.html, truy cập ngày 04/9/2023

50 Nguyễn Thị Thanh Hải (trưởng nhóm), Đánh giá sơ bộ Khung pháp lý của Việt Nam về thực hành kinh doanh

có trách nhiệm, 2020, tr.66 Xem:

https://www.undp.org/sites/g/files/zskgke326/files/migration/vn/Prelim-Assess_Resp-Bus-Practice-VN_2020_Tieng-Viet.pdf, truy cập ngày 31/8/2023

Trang 32

31

hành vi xâm phạm quyền con người Ngoài ra, bảy nguyên tắc của trụ cột thứ ba cũng

mở ra một góc nhìn đa chiều hơn bằng cách nhấn mạnh vai trò của nhiều tổ chức xã hội khác nhau trong quá trình triển khai chính sách thực hành kinh doanh có trách nhiệm đối với quyền con người51 Kết nối với các nguyên tắc ở trụ cột thứ nhất,

Nguyên tắc nền tảng của trụ cột thứ ba (Nguyên tắc 25) của UNGPs đã nhận định “một

phần nghĩa vụ của các quốc gia trong việc bảo vệ chống lại hành vi xâm phạm quyền con người liên quan tới doanh nghiệp” chính là “phải có những biện pháp phù hợp về

tư pháp, hành chính, lập pháp hoặc các biện pháp thích hợp khác, để đảm bảo khi những hành vi ngược đãi/xâm phạm xảy ra trong phạm vi lãnh thổ và/hoặc phạm vi thẩm quyền của họ, những người bị ảnh hưởng có khả năng tiếp cận những biện pháp

xử lý hiệu quả” Tiếp theo nguyên tắc nền tảng này là 6 nguyên tắc vận hành tương

ứng, nghĩa vụ đảm bảo tiếp cận các biện pháp khắc phục khi có hành vi xâm phạm xảy

ra được tiến hành thông qua: (i) Cơ chế tư pháp (Nguyên tắc 26); (ii) Cơ chế khiếu kiện Nhà nước mang tính phi tư pháp (Nguyên tắc 27); và (iii) Cơ chế khiếu kiện phi Nhà nước (các Nguyên tắc 28 - 30) Nguyên tắc 31 kết thúc UNGPs bằng cách bổ

sung “Những tiêu chí đảm bảo hiệu quả của cơ chế khiếu kiện phi tư pháp” đã được đề

cập ở các Nguyên tắc 27 - 30 Trụ cột thứ ba của UNGPs có xu hướng tập trung vào khía cạnh thủ tục của các biện pháp khắc phục - toàn bộ quy trình của cơ chế khiếu kiện và cách mà các biện pháp xử lý được tiến hành Cụ thể, cơ chế khiếu kiện bao hàm những thủ tục mang tính tư pháp hay phi tư pháp, nhà nước hay phi nhà nước; trong đó khiếu kiện nhà nước, bất kể là tư pháp hay phi tư pháp, được UNGPs xem là

cơ sở chủ yếu để thực thi các biện pháp xử lý rộng hơn52

Cơ chế tư pháp trong nước được thiết lập nhằm đảm bảo cho việc tiếp cận các biện pháp xử lý (Nguyên tắc 2653), dù vậy, việc xử lý toàn bộ hành vi xâm phạm của một quốc gia không thể chỉ phụ thuộc duy nhất vào đó bất kể hệ thống tư pháp có hoàn thiện đến đâu Nguyên tắc 2754 nhấn mạnh tầm quan trọng của cơ chế khiếu kiện Nhà nước mang tính phi tư pháp với vai trò bổ sung hiệu quả cho cơ chế tư pháp truyền

51 Backer, L (2015), Moving forward the UN guiding principles for business and human rights: between enterprise social norm, state domestic legal orders, and the treaty law that might bind them all, Fordham

International Law Journal, 38(2), 471 Xem: https://ir.lawnet.fordham.edu/ilj/vol38/iss2/3/, truy cập ngày 20/8/2023

52 Office of the United Nations High Commissioner for Human Rights, Guiding Principles on Business and

https://www.ohchr.org/sites/default/files/documents/publications/guidingprinciplesbusinesshr_en.pdf, truy cập ngày 31/8/2023

53 “Các Quốc gia phải tiến hành các biện pháp thích hợp để đảm bảo tính hiệu quả của cơ chế tư pháp trong nước khi giải quyết hành vi xâm phạm quyền con người của doanh nghiệp, bao gồm cả việc xem xét để giảm thiểu các rào cản pháp lý, rào cản thực tiễn và các rào cản khác có liên quan có thể gây trở ngại cho việc áp dụng các biện pháp xử lý.”

54 “Bên cạnh cơ chế tư pháp, các Quốc gia cần xây dựng các cơ chế khiếu kiện mang tính phi tư pháp phù hợp

và hiệu quả, coi các cơ chế này như một phần của toàn bộ hệ thống khắc phục của nhà nước đối với những hành

vi xâm phạm quyền con người liên quan tới doanh nghiệp.”

Trang 33

32

thống “những khoảng trống trong các quy định về biện pháp xử lý hành vi xâm phạm

quyền con người liên quan tới doanh nghiệp có thể được khỏa lấp”55 Vai trò đó sẽ càng được phát huy hơn nữa tại những quốc gia sở hữu hệ thống tư pháp chưa ổn định, trong khi quá trình hoàn thiện sửa đổi khung pháp luật thường kéo dài thì các công cụ phi tư pháp có thể được xây dựng trong thời gian ngắn và áp dụng ngay vào thực tiễn56 Tùy thuộc vào một số yếu tố liên quan, nhiều quy trình phi tư pháp có thể giải quyết hiệu quả khiếu kiện hành vi xâm phạm mà không cần đưa ra tòa án miễn là chúng đáp ứng các tiêu chí trong Nguyên tắc 3157

Bên cạnh cơ chế khiếu kiện nhà nước (cả tư pháp và phi tư pháp) thì cơ chế khiếu kiện phi nhà nước, dù không thể thay thế hoàn toàn cho những biện pháp tư pháp, lại là sự bổ sung cần thiết nhằm đảm bảo các cơ chế khiếu kiện được tiếp cận rộng rãi (Nguyên tắc 28 - 30)58 Khác với cơ chế khiếu kiện nhà nước, những quy trình này lại được tiến hành chủ yếu bởi các doanh nghiệp như là một phần của nghĩa vụ tôn trọng quyền con người đã ghi nhận ở trụ cột thứ hai59 Một mặt, cơ chế khiếu kiện phi nhà nước có thể giúp các vấn đề bị khiếu kiện được xử lý nhanh chóng và ít tốn kém

55 Office of the United Nations High Commissioner for Human Rights, Guiding Principles on Business and

https://www.ohchr.org/sites/default/files/documents/publications/guidingprinciplesbusinesshr_en.pdf, truy cập ngày 31/8/2023

56 Ruggie, J G (2013), Just business: Multinational corporations and human rights (Norton global ethics series), WW Norton & Company, 80

57 “Để đảm bảo tính hiệu quả, các cơ chế khiếu kiện phi tư pháp trên cơ sở nhà nước hay phi nhà nước đều cần đáp ứng các điều kiện sau: (a) Tính hợp pháp: phải gây dựng lòng tin từ các bên có quyền lợi liên quan khi chính họ là chủ thể sử dụng cơ chế này, và có trách nhiệm giải trình về đảm bảo công bằng trong quá trình khiếu kiện; (b) Khả năng tiếp cận: phải được tất cả các bên liên quan biết đến khi họ là chủ thể sử dụng cơ chế này, và phải hỗ trợ đầy đủ cho những đối tượng có thể gặp những rào cản nhất định khi muốn tiếp cận các cơ chế này; (c) Tính dự đoán được: đưa ra một thủ tục rõ ràng với khung thời gian cụ thể cho từng giai đoạn, kèm theo miêu tả cụ thể về loại quy trình và các kết quả có thể xảy ra, cũng như các phương tiện giám sát việc thực thi; (d) Tính công bằng: phải đảm bảo rằng bên bị thiệt hại có thẻ tiếp cận với các nguồn thông tin, hoạt động tư vấn và kiến thức chuyên môn cần thiết để tiến hành quy trình khiếu kiện một cách công bằng, được thông tin đầy

đủ và được tôn trọng; (e) Tính minh bạch: thông báo cho bên khiếu kiện về tiến độ của quá trình xử lý và cung cấp đầy đủ thông tin về hoạt động của cơ chế để xây dựng niềm tin về tính hiệu quả của cơ chế, cũng như bảo vệ bất kỳ lợi ích công cộngn ào có nguy cơ bị xâm phạm; (g) Sự tương thích với các quyền: đảm bảo rằng kết quả

và các biện pháp xử lý là phù hợp những quyền con người mà quốc tế công nhận; (h) Liên tục học hỏi và phát triển: tự rút ra bài học bằng việc sử dụng những cách thức phù hợp để xác định, nhằm cải thiện các cơ chế và ngăn chặn hành vi xâm phạm trong tương lai; Cơ chế ở cấp độ vận hành cũng nên: (h) Dựa trên sự tham gia và đối thoại: tham khảo ý kiến các nhóm có lợi ích liên quan về những biện pháp đượ cthiết kế và áp dụng, và tập trung vào đối thoại như một biện pháp xử lý và giải quyết các khiếu kiện.”

58 Nguyên tắc 28: “Các Quốc gia nên xem xét những cách thức tạo thuận lợi cho việc tiếp cận các cơ chế khiếu kiện phi quốc gia hiệu quả khi đối phó với vi phạm quyền con người có liên quan đến doanh nghiệp” Nguyên tắc 29: “Để có thể xem xét nhanh chóng và xử lý trực tiếp các khiếu nại, các doanh nghiệp cần thiết lập hoặc tham gia vào những cơ chế thực hành xử lý vi phạm hiệu quả dành cho những cá nhân hay những cộng đồng có thể bị ảnh hưởng bất lợi” Nguyên tắc 30: “Các ngành công nghiệp, các bên có quyền lợi liên quan và các chương trình sáng kiến hợp tác khác, dựa trên việc tuân thủ những chuẩn mực quyền con người, phải đảm bảo sẵn có các cơ chế khiếu kiện hiệu quả.”

59 Drimmer, J C., & Laplante, L J (2015), The third pillar: Remedies, reparations and the Ruggie principles

The business and human rights landscape: Moving forward, looking back, 329 Xem: https://deliverypdf.ssrn.com/delivery.php?ID=76012211806709708609808612508806601106003200900902308 500512411612500911202511402209204110302710110906304107612102502112102800605006902907303702 607411508301712702400301808600408302612011810109302706512708706706907600110607010910312600 1014122090098066071&EXT=pdf&INDEX=TRUE, truy cập ngày 20/8/2023

Trang 34

Nhìn chung, các nguyên tắc trong UNGPs đã thiết lập nên một nền tảng pháp lý

cơ bản làm cơ sở để các quốc gia có thể xác định rõ ràng vai trò, mục tiêu và nhiệm vụ

cụ thể, từ đó hình thành nên một chương trình hành động (‘National Action Plan’ - NAP) hài hòa nhằm đảm bảo các chuẩn mực quốc tế về trách nhiệm đối với quyền con người của doanh nghiệp60 Chương trình hành động quốc gia về thực hành kinh doanh

có trách nhiệm (NAP) được coi là một công cụ chính sách quan trọng mà Chính phủ

sử dụng để thúc đẩy thực hành kinh doanh có trách nhiệm đối với quyền con người phù hợp với bối cảnh thực tiễn của mỗi nước Từ khi UNGPs được thông qua, nhiều quốc gia đã tiếp cận, ban hành và thực hiện NAP ở những cấp độ khác nhau Theo số liệu thống kê, đến nay có 59 quốc gia đã ban hành, đang xây dựng NAP hoặc đưa ra các sáng kiến phi nhà nước khác về thực hành kinh doanh có trách nhiệm, trong đó có

32 quốc gia đã ban hành NAP.61 Kinh nghiệm xây dựng, thực hiện NAP ở các quốc gia như Đan Mạch,62 Thụy Sĩ63 và Hoa Kỳ64 cho thấy mỗi quốc gia có cách tiếp cận và hoạch định xây dựng chính sách rất khác nhau Dù cùng được thiết kế dựa trên nền tảng UNGPs, NAP được các chính phủ xây dựng, ban hành và thực hiện theo hướng riêng nhằm phù hợp tình hình chính sách, kinh tế, xã hội, văn hóa quốc gia và mục tiêu thúc đẩy kinh doanh có trách nhiệm

Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững của Liên hợp quốc (Chương trình nghị sự 2030) cũng kêu gọi các quốc gia chung tay vì một môi trường kinh doanh quốc tế năng động nhưng vãn phải đảm bảo được các tiêu chuẩn quốc tế,

60 U.N Working Group on Business and Human Rights, Guidance on National Action Plans on Business and

https://www.ohchr.org/sites/default/files/Documents/Issues/Business/UNWG NAPGuidance.pdf, truy cập ngày 04/9/2023

61 https://globalnaps.org/country/, truy cập ngày 31/8/2023

62 Danish Government, Responsible Growth - Action Plan for Corporate Social Responsibility 2012-2015, http://www.truevaluemetrics.org/DBpdfs/Countries/Denmark/Denmark-Responsible-Growth-Action-Plan-for- CSR-2012.pdf, truy cập ngày 31/8/2023

63 Bueno, N (2019), The Swiss popular initiative on responsible business: from responsibility to liability, Enneking et al.(eds), Business Operations and the Law: Providing Justice for Corporate Human Rights

https://deliverypdf.ssrn.com/delivery.php?ID=94209406807300210109210311509212108603400805906808904 310212509910408500207308911707610305203806010502910900106507912111809703105207802702804809 012101900809011301402909504306410210012507208900107308202009509802611901003112207400811303 1086008088088097067&EXT=pdf&INDEX=TRUE, truy cập ngày 20/8/2023

64 International Corporate Accountability Roundtable, “Shadow” National Baseline United States, Pillar I

(03/2015) (xem: https://globalnaps.org/wp-content/uploads/2023/01/ICAR-Shadow-U.S.-NBA-Pillar-I.pdf, truy

cập ngày 31/8/2023) International Corporate Accountability Roundtable, “Shadow” National Baseline United States, Pillar III (06/2015) (xem: https://globalnaps.org/wp-content/uploads/2023/01/ICAR-Shadow-U.S.-NBA-

Pillar-3.pdf, truy cập ngày 31/8/2023)

Trang 35

34

trong đó có UNGPs.65 Ở Việt Nam, với các ưu điểm của UNGPs và trên cơ sở cam kết thực hiện Chương trình nghị sự 2030, những năm gần đây Chính phủ đã chủ động và tích cực nghiên cứu nội dung UNGPs, tham vấn rộng rãi các bên liên quan để xây dựng Chương trình quốc gia về thực hành kinh doanh có trách nhiệm Ngày 14/7/2023, theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 843/QĐ-TTG ban hành Chương trình hành động quốc gia hoàn thiện chính sách và pháp luật nhằm thúc đẩy thực hành kinh doanh có trách nhiệm tại Việt Nam giai đoạn

2023 – 2027 (Chương trình hành động quốc gia của Việt Nam) Quyết định này đã nêu

rõ Chương trình hành động quốc gia Việt Nam được xây dựng nhằm góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) của Liên Hợp quốc Tuy Chương trình hành động quốc gia Việt Nam không nhắc đến UNGPs, nhưng thực tế quá trình xây dựng Chương trình hành động này Chính phủ và các Bộ ngành cũng đã tổ chức nhiều hoạt động nghiên cứu, tham vấn các chủ thể có liên quan về UNGPs Đặc biệt, để thực hiện SDGs thì việc tham chiếu và thực hiện tốt các khuyến nghị của UNGPs là hết sức cần thiết và mang tính nền tảng Giáo sư Ruggie, trong bài phát biểu ở phiên toàn thể của Diễn đàn Liên hợp quốc về kinh doanh và quyền con người năm 2016 đã khẳng

định mối quan hệ gắn bó chặt chẽ giữa UNGPs và SDGs như sau: “UNGPs thiết lập

tiêu chuẩn chung toàn cầu về cái mà doanh nghiệp phải làm để thể hiện sự tôn trọng quyền con người xuyên suốt hoạt động và trong các mối quan hệ kinh doanh của mình Trong khi đó, SDGs là một tuyên bố về tầm nhìn và kế hoạch hành động nhằm đạt được sự bền vững về xã hội và môi trường trên hành tinh của chúng ta Theo một cách hợp lý và trên thực tế thì cả UNGPs và SDGs phải được liên kết chặt chẽ với nhau, trong đó UNGPs thiết lập nền tảng cho các cấu phần xã hội của SDGs mà doanh nghiệp được kỳ vọng sẽ đóng góp vào”.66

Chương trình hành động quốc gia của Việt Nam xác định rõ các nhiệm vụ, giải pháp để thúc đẩy thực hành kinh doanh có trách nhiệm, bao gồm trách nhiệm đối với quyền con người, ở Việt Nam đó là: i) Nâng cao nhận thức, tăng cường năng lực cho các cơ quan, tổ chức có liên quan và doanh nghiệp, người dân về chính sách, pháp luật

về thực hành kinh doanh có trách nhiệm; ii) Hoàn thiện chính sách và pháp luật; iii) Nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành chính sách, pháp luật; iv) Chia sẻ thông tin, kết quả của các hoạt động trong các chương trình, đề án, diễn đàn, hội nghị quốc tế liên

65 Peter Messerli and Endah Murniningtyas (Co-chair), Global Sustainable Development report 2019: the Future

is now – Science for Achieving Sustainable Development, 2019 Xem: https://sdghelpdesk.unescap.org/sites/default/files/2019-09/24797GSDR_report_2019.pdf, truy cập ngày 12/9/2023

66 John G.Ruggie, Keynote Address at United Nations Forum on Business & Human Rights, Palais Des Nations,

https://www.ohchr.org/sites/default/files/Documents/Issues/Business/ForumSession5/Statements/JohnRuggie.pd

f, truy cập ngày 12/9/2023

Trang 36

35

quan đến thực hành kinh doanh có trách nhiệm; v) Sơ kết, tổng kết, đánh giá việc triển khai Chương trình Việt Nam cũng xác định 5 lĩnh vực trọng tâm về hoàn thiện chính sách và pháp luật là: đầu tư, lao động, quyền của nhóm dễ bị tổn thương, bảo vệ môi trường, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Với sự hữu hạn về nguồn lực và điều kiện thực tế của mỗi quốc gia, tương tự như NAP các nước thì đây chính là những lĩnh vực được ưu tiên thúc đẩy thực hành kinh doanh có trách nhiệm ở Việt Nam

Để thực hiện tốt Chương trình hành động quốc gia của Việt Nam trên cơ sở tham chiếu UNGPs một cách hiệu quả, thiết nghĩ các cơ quan nhà nước có liên quan nên lưu ý một số vấn đề sau đây:

Thứ nhất, việc triển khai thực hiện nội dung Chương trình hành động quốc gia

của Việt Nam nên đảm bảo phù hợp với các nguyên tắc của UNGPs Tuy nhiên, những tiêu chuẩn về hành vi kinh doanh có trách nhiệm này nên được lồng ghép khéo léo để đảm bảo hài hòa quyền lợi giữa doanh nghiệp và những người bị ảnh hưởng (hoặc có nguy cơ bị ảnh hưởng) từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Môi trường kinh doanh ở Việt Nam không giống với các quốc gia khác, trong khi các vấn đề liên quan đến hành vi kinh doanh có trách nhiệm cũng khác nhau ở từng lĩnh vực, từng ngành và từng doanh nghiệp Do đó, cơ quan có thẩm quyền muốn ban hành chính sách và pháp luật hiệu quả để buộc doanh nghiệp phải hành xử có trách nhiệm, thì cùng với việc tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế còn cần xem xét đến tình hình thực tế và các yếu tố đặc thù của quốc gia

Thứ hai, việc thực hiện NAP có thể chú trọng vào một số lĩnh vực nhất định,

thường là những lĩnh vực đóng vai trò chủ chốt, những lĩnh vực nhạy cảm hoặc những lĩnh vực có mức độ rủi ro cao liên quan đến hành vi kinh doanh thiếu trách nhiệm (chẳng hạn vấn đề môi trường hay lao động trẻ em) Thay vì tham vọng hướng tới một

hệ thống chính sách pháp luật toàn diện, sâu rộng mà thật hiệu quả về kinh doanh có trách nhiệm, các quốc gia thường có xu hướng ưu tiên lĩnh vực hoặc doanh nghiệp mũi nhọn để quản lý chặt chẽ và đưa ra nhiều biện pháp ngăn ngừa hành vi xâm phạm

Thứ ba, khi ban hành các Kế hoạch chi tiết để thực hiện NAP cũng như khi thực

hiện NAP, các Bộ Ngành, cơ quan chủ trì nên khuyến khích và kêu gọi sự tham gia rộng rãi của các bên liên quan từ cơ quan nhà nước, đại diện Bộ ban ngành, doanh nghiêp, nhà nghiên cứu, hay các tổ chức kinh tế xã hội, cá nhân khác có liên quan Một trong những hình thức tham vấn lấy ý kiến có hiệu quả cao là tổ chức đối thoại trực tiếp Bên cạnh các buổi tham vấn trực tiếp, cơ quan chủ trì có thể tổ chức các sự kiện mang tính cộng đồng trong khuôn khổ nhất định, ưu tiên hướng tới một số đối tượng chủ thể yếu thế cụ thể như: phụ nữ, người dân tộc thiểu số, người khuyết tật và người cao tuổi… Ở nước ta, nhận thức về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp còn khá hạn

Trang 37

36

chế Do đó, việc tổ chức các hoạt động như vậy vừa là một kênh thu thập ý kiến vừa có thể nâng cao nhận thức cộng đồng./

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Andreas Graf and Andrea Iff, Enhanced Human Rights Due Diligence in Conflict

Affected and High-Risk Areas, Swiss Peace foundation, Berr, 2016, 15 Xem:

Due-Diligence-in-Conflict-Affected-and-High-Risk-Areas.pdf, truy cập ngày 20/8/2023

https://www.connectingbusiness.org/system/files/2018-11/Enhanced-Human-Rights-2 Backer, L (2015), Moving forward the UN guiding principles for business and

human rights: between enterprise social norm, state domestic legal orders, and the treaty law that might bind them all, Fordham International Law Journal, 38(2), 457-

542 Xem: https://ir.lawnet.fordham.edu/ilj/vol38/iss2/3/, truy cập ngày 20/8/2023

3 Bueno, N (2019), The Swiss popular initiative on responsible business: from

responsibility to liability, Enneking et al.(eds), Business Operations and the Law:

Providing Justice for Corporate Human Rights Violations in Global Value Chains

https://deliverypdf.ssrn.com/delivery.php?ID=942094068073002101092103115092121086034008059068089043102125099104085002073089117076103052038060105029109001065079121118097031052078027028048090121019008090113014029095043064102100125072089001073082020095098026119010031122074008113031086008088088097067&EXT=pdf&INDEX=TRUE, truy cập ngày 20/8/2023

4 Danish Government, Responsible Growth - Action Plan for Corporate Social

Responsibility 2012-2015, March 2012 Xem: http://www.truevaluemetrics.org/DBpdfs/Countries/Denmark/Denmark-Responsible-Growth-Action-Plan-for-CSR-2012.pdf, truy cập ngày 31/8/2023

5 Davis, J (2006), Justice without borders: Human rights cases in US courts, Law &

Policy, 28(1), 60-82 Xem: 9930.2005.00217.x, truy cập ngày 20/8/2023

https://onlinelibrary.wiley.com/doi/abs/10.1111/j.1467-6 Drimmer, J C., & Laplante, L J (2015), The third pillar: Remedies, reparations and

the Ruggie principles The business and human rights landscape: Moving forward,

https://deliverypdf.ssrn.com/delivery.php?ID=76012211806709708609808612508806601106003200900902308500512411612500911202511402209204110302710110906304107612102502112102800605006902907303702607411508301712702400301

Trang 38

37

8086004083026120118101093027065127087067069076001106070109103126001014122090098066071&EXT=pdf&INDEX=TRUE, truy cập ngày 20/8/2023

7 Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA)

8 International Corporate Accountability Roundtable, “Shadow” National Baseline United States, Pillar I (03/2015) https://globalnaps.org/wp-content/uploads/2023/01/ICAR-Shadow-U.S.-NBA-Pillar-I.pdf

9 International Corporate Accountability Roundtable, “Shadow” National Baseline United States, Pillar III (06/2015) https://globalnaps.org/wp-content/uploads/2023/01/ICAR-Shadow-U.S.-NBA-Pillar-3.pdf

10 John Ruggie, ‘Global Governance and “New Governance Theory”: Lessons from

Business and Human Rights’ (2014) 20 Global Governance 5 Xem:

file:///C:/Users/Tran%20Thu%20Hien/Downloads/20GlobalGovernance5.pdf, truy cập ngày 20/8/2023

11 John G.Ruggie, Keynote Address at United Nations Forum on Business & Human Rights, Palais Des Nations, Geneva, Switzerland, 14 November 2016 Xem: https://www.ohchr.org/sites/default/files/Documents/Issues/Business/ForumSession5/Statements/JohnRuggie.pdf, truy cập ngày 12/9/2023

15 https://www.ituc-csi.org/IMG/pdf/12-04-23_ruggie_background_fd.pdf, truy cập ngày 31/8/2023

16 Lagoutte, S (2014), The State Duty to Protect Against Business-Related Human

Rights Abuses, Unpacking Pillar 1 and 3 of the UN Guiding Principles on Human

Rights and Business Unpacking Pillar, 1 Xem: file:///C:/Users/Tran%20Thu%20Hien/Downloads/SSRN-id2496355.pdf, truy cập ngày 20/8/2023

17 Luật Doanh nghiệp 2020

18 Peter Messerli and Endah Murniningtyas (Co-chair), Global Sustainable

Development report 2019: the Future is now – Science for Achieving Sustainable Development, 2019 Xem: https://sdghelpdesk.unescap.org/sites/default/files/2019-

09/24797GSDR_report_2019.pdf, truy cập ngày 12/9/2023

19 Neglia, M (2016), The UNGPs - five years on: From consensus to divergence in

public regulation on business and human rights, Netherlands Quarterly of Human

Trang 39

38

file:///C:/Users/Tran%20Thu%20Hien/Downloads/34NethQHumRts289.pdf, truy cập ngày 20/8/2023

20 Olivier De Schutter, ‘The Challenge of Imposing Human Rights Norms on

Corporate Actors’ in Olivier De Schutter, Transnational Corporations and Human Rights (2006)

21 Office of the United Nations High Commissioner for Human Rights, “The

Corporate Responsibility to respect Human Rights – an Interpretative Guide”,

https://www.ohchr.org/sites/default/files/Documents/Issues/Business/RtRInterpretativeGuide.pdf, truy cập ngày 31/8/2023

22 Office of the United Nations High Commissioner for Human Rights, Guiding

Principles on Business and Human Rights, 2011 Xem: https://www.ohchr.org/sites/default/files/documents/publications/guidingprinciplesbusinesshr_en.pdf, truy cập ngày 31/8/2023

23 Nguyễn Thị Thanh Hải (trưởng nhóm), Đánh giá sơ bộ Khung pháp lý của Việt Nam

về thực hành kinh doanh có trách nhiệm, 2020, tr.66 Xem: https://www.undp.org/sites/g/files/zskgke326/files/migration/vn/Prelim-

Assess_Resp-Bus-Practice-VN_2020_Tieng-Viet.pdf, truy cập ngày 31/8/2023

24 Parker, K (1988), Jus cogens: compelling the law of human rights, Hastings Int'l &

https://repository.uclawsf.edu/cgi/viewcontent.cgi?article=1234&context=hastings_international_comparative_law_review, truy cập ngày 20/8/2023

25 Ruggie, J G (2013), Just business: Multinational corporations and human rights

(Norton global ethics series), WW Norton & Company, 80

26 The Danish Government, Danish National Action Plan - implementation of the UN

Guiding Principles on Business and Human Rights, 2014, tr.11 Xem:

https://www.ohchr.org/sites/default/files/Documents/Issues/Business/NationalPlans/Denmark_NationalPlanBHR.pdf, truy cập ngày 31/8/2023

27 Thông tư 115/2015/TT-BTC ngày 06/10/2015 của Bộ Tài chính về hướng dẫn công

bố thông tin trên thị trường chứng khoán

28 U.N Working Group on Business and Human Rights, Guidance on National Action

Plans on Business and Human Rights (2014) Xem: https://www.ohchr.org/sites/default/files/Documents/Issues/Business/UNWG NAPGuidance.pdf, truy cập ngày 04/9/2023

Trang 40

39

BỘ NGUYÊN TẮC CỦA OECD DÀNH CHO CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA

VỀ KINH DOANH CÓ TRÁCH NHIỆM VÀ NHỮNG LƯU Ý

ĐỐI VỚI VIỆT NAM

PGS.TS Nguyễn Ngọc Hà* Tóm tắt: Các công ty đa quốc gia, vì phạm vi hoạt động rộng rãi của mình, có

thể có những tác động bất lợi đến xã hội, môi trường, quyền con người… trong quá trình thực hiện hoạt động đầu tư tại các quốc gia tiếp nhận đầu tư Vì vậy, Bộ Nguyên tắc chỉ đạo của OECD dành cho các công ty đa quốc gia về kinh doanh có trách nhiệm, được ban hành từ năm 1976 và được rà soát thường xuyên, đã được sử dụng như một công cụ hiệu quả để điều chỉnh trách nhiệm xã hội của những công ty này Trên cơ sở phân tích nội dung, thực trạng áp dụng và đánh giá về Bộ Nguyên tắc, bài viết cũng sẽ đưa ra những phân tích về khả năng áp dụng của Bộ Nguyên tắc tại Việt Nam

Từ khóa: Công ty đa quốc gia, trách nhiệm xã hội, Bộ Nguyên tắc, OECD,

Việt Nam

Các công ty đa quốc gia ngày càng trở thành một nhân tố quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế và thương mại quốc tế Những đóng góp của các công ty đa quốc gia cho sự giàu có và tăng trưởng kinh tế đối với thế giới nói chung và với các quốc gia nói riêng là không thể phủ nhận Như Phòng Thương mại Quốc tế từng nhấn

mạnh: “Vai trò của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường là tạo ra của cải

cho cổ đông, cho nhân viên, cho khách hàng và cho toàn bộ xã hội”67, do đó, các công ty đa quốc gia, ngoài việc tối đa hoá lợi nhuận và giá trị tài chính cho chính mình, cần phải quan tâm đến việc tạo ra “của cải”, bao gồm không chỉ vật chất mà cả các giá trị phi tài chính - những yếu tố không thể thiếu góp phần tạo nên sự phát triển bền vững, cho xã hội loài người Nói cách khác, các công ty đa quốc gia, với tầm ảnh hưởng rộng lớn và nguồn lực dồi dào, là những chủ thể được kêu gọi quan tâm đến

và thực thi những chính sách liên quan đến trách nhiệm xã hội (corporate social responsibility, CSR), nhất là trong hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các quốc gia đang và kém phát triển

Bên cạnh những bộ quy tắc ứng xử về trách nhiệm xã hội và môi trường do chính các công ty này tự xây dựng cho mình, các tổ chức quốc tế, với mục đích biến CSR của các công ty đa quốc gia thành hiện thực, đồng thời giúp cho việc thực thi

* Phó trưởng Khoa Luật, Trường Đại học Ngoại thương

67 “The role of business in an open market economy system is to create wealth for shareholders, employees an

society at large” Xem ICC, Business in society – Marking a positive and responsible contribution A volontary commitment by business to manage its activities responsibility”

Ngày đăng: 20/12/2023, 13:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Antal, Ariane Berthoin, and André Sobczak. “Corporate Social Responsibility in France: A Mix of National Traditions and International Influences.” Business &amp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Corporate Social Responsibility in France: A Mix of National Traditions and International Influences
Tác giả: Ariane Berthoin Antal, André Sobczak
Nhà XB: Business
2. Berger-Walliser, Gerlinde, and Inara Scott. “Redefining Corporate Social Responsibility in an Era of Globalization and Regulatory Hardening: Re-Creating Corporate Social Responsibility.” American Business Law Journal 55, no. 1 (March 2018): 167–218 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Redefining Corporate Social Responsibility in an Era of Globalization and Regulatory Hardening: Re-Creating Corporate Social Responsibility
Tác giả: Gerlinde Berger-Walliser, Inara Scott
Nhà XB: American Business Law Journal
Năm: 2018
3. Bowen, Howard R. Social Responsibilities of the Businessman. University of Iowa Press. 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Social Responsibilities of the Businessman
Tác giả: Howard R. Bowen
Nhà XB: University of Iowa Press
Năm: 2013
4. Buhmann, Karin. “Corporate Social Responsibility: What Role for Law? Some Aspects of Law and CSR.” Corporate Governance: The International Journal of Business in Society 6, no. 2 (2006): 188–202 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Corporate Social Responsibility: What Role for Law? Some Aspects of Law and CSR.” "Corporate Governance: The International Journal of Business in Society
Tác giả: Buhmann, Karin. “Corporate Social Responsibility: What Role for Law? Some Aspects of Law and CSR.” Corporate Governance: The International Journal of Business in Society 6, no. 2
Năm: 2006
5. Carroll, Archie B. “Carroll’s Pyramid of CSR: Taking Another Look.” International Journal of Corporate Social Responsibility 1, no. 1 (May 7, 2016):3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Carroll’s Pyramid of CSR: Taking Another Look
Tác giả: Archie B. Carroll
Nhà XB: International Journal of Corporate Social Responsibility
Năm: 2016
6. ———. “Corporate Social Responsibility: Evolution of a Definitional Construct.” Business & Society 38, no. 3 (1999): 268–95 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Corporate Social Responsibility: Evolution of a Definitional Construct
Nhà XB: Business & Society
Năm: 1999
7. Chapple, Wendy, and Jeremy Moon. “Corporate Social Responsibility (CSR) in Asia: A Seven-Country Study of CSR Web Site Reporting.” Business & Society 44, no. 4 (2005): 415–41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Corporate Social Responsibility (CSR) in Asia: A Seven-Country Study of CSR Web Site Reporting.” "Business & Society
Tác giả: Chapple, Wendy, and Jeremy Moon. “Corporate Social Responsibility (CSR) in Asia: A Seven-Country Study of CSR Web Site Reporting.” Business & Society 44, no. 4
Năm: 2005
8. Dashwood, Hevina S. “CSR Norms and Organizational Learning in the Mining Sector.” Corporate Governance: The International Journal of Business in Society 12, no. 1 (2012): 118–38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: CSR Norms and Organizational Learning in the Mining Sector
Tác giả: Hevina S. Dashwood
Nhà XB: Corporate Governance: The International Journal of Business in Society
Năm: 2012
9. Davis, Keith. “The Case for and against Business Assumption of Social Responsibilities.” Academy of Management Journal 16, no. 2 (1973): 312–22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Case for and against Business Assumption of Social Responsibilities.” "Academy of Management Journal
Tác giả: Davis, Keith. “The Case for and against Business Assumption of Social Responsibilities.” Academy of Management Journal 16, no. 2
Năm: 1973
10. Delbard, Olivier. “CSR Legislation in France and the European Regulatory Paradox: An Analysis of EU CSR Policy and Sustainability Reporting Practice.” Sách, tạp chí
Tiêu đề: CSR Legislation in France and the European Regulatory Paradox: An Analysis of EU CSR Policy and Sustainability Reporting Practice
Tác giả: Olivier Delbard
11. Dhooge, Lucien J. “The Shirts on Our Backs: Teleological Perspectives on Factory Safety in Bangladesh.” J. Legal Stud. Educ. 33 (2016): 379 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Shirts on Our Backs: Teleological Perspectives on Factory Safety in Bangladesh.” "J. Legal Stud. Educ
Tác giả: Dhooge, Lucien J. “The Shirts on Our Backs: Teleological Perspectives on Factory Safety in Bangladesh.” J. Legal Stud. Educ. 33
Năm: 2016
12. Dong, Shidi, and Lei Xu. “The Impact of Explicit CSR Regulation: Evidence from China’s Mining Firms.” Journal of Applied Accounting Research 17, no. 2 (2016): 237–58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Impact of Explicit CSR Regulation: Evidence from China’s Mining Firms
Tác giả: Shidi Dong, Lei Xu
Nhà XB: Journal of Applied Accounting Research
Năm: 2016
13. Eberhard-Harribey, Laurence. “Corporate Social Responsibility as a New Paradigm in the European Policy: How CSR Comes to Legitimate the European Regulation Process.” Corporate Governance: The International Journal of Business in Society 6, no. 4 (2006): 358–68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Corporate Social Responsibility as a New Paradigm in the European Policy: How CSR Comes to Legitimate the European Regulation Process.” "Corporate Governance: The International Journal of Business in Society
Tác giả: Eberhard-Harribey, Laurence. “Corporate Social Responsibility as a New Paradigm in the European Policy: How CSR Comes to Legitimate the European Regulation Process.” Corporate Governance: The International Journal of Business in Society 6, no. 4
Năm: 2006
14. Enuoh, Rebecca O. “Corporate Social Responsibility and Psychological Contract Sách, tạp chí
Tiêu đề: Corporate Social Responsibility and Psychological Contract
Tác giả: Rebecca O. Enuoh
15. Fordham, Anne Elizabeth, and Guy M. Robinson. “Mapping Meanings of Corporate Social Responsibility – an Australian Case Study.” International Journal of Corporate Social Responsibility 3, no. 1 (December 2018).https://jcsr.springeropen.com/articles/10.1186/s40991-018-0036-1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mapping Meanings of Corporate Social Responsibility – an Australian Case Study
Tác giả: Anne Elizabeth Fordham, Guy M. Robinson
Nhà XB: International Journal of Corporate Social Responsibility
Năm: 2018
16. Gatti, Lucia, Babitha Vishwanath, Peter Seele, and Bertil Cottier. “Are We Moving beyond Voluntary CSR? Exploring Theoretical and Managerial Implications of Mandatory CSR Resulting from the New Indian Companies Act.” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Are We Moving beyond Voluntary CSR? Exploring Theoretical and Managerial Implications of Mandatory CSR Resulting from the New Indian Companies Act
Tác giả: Lucia Gatti, Babitha Vishwanath, Peter Seele, Bertil Cottier
18. Guan, Jenny, and Carlos Noronha. “Corporate Social Responsibility Reporting Research in the Chinese Academia: A Critical Review.” Social Responsibility Journal 9, no. 1 (2013): 33–55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Corporate Social Responsibility Reporting Research in the Chinese Academia: A Critical Review
Tác giả: Jenny Guan, Carlos Noronha
Nhà XB: Social Responsibility Journal
Năm: 2013
19. Gunningham, Neil, Darren Sinclair, and Peter Grabosky. “Smart Regulation: Designing Environmental Policy. Clarendon.” Oxford. 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Smart Regulation: Designing Environmental Policy. Clarendon
22. Hessekiel, David. “2023 CSR Trend Forecasts.” Forbes. accessed September 5, 2023 https://www.forbes.com/sites/davidhessekiel/2023/01/19/23-csr-trend-forecasts/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: 2023 CSR Trend Forecasts
Tác giả: David Hessekiel
Nhà XB: Forbes
Năm: 2023
25. Iamandi, Irina-Eugenia. “The Application of Corporate Social Responsibility Models in Romania in the Context of the Post-Accession to the European Union.” Economy Transdisciplinarity Cognition 14, no. 1 (2011): 27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Application of Corporate Social Responsibility Models in Romania in the Context of the Post-Accession to the European Union
Tác giả: Iamandi, Irina-Eugenia
Nhà XB: Economy Transdisciplinarity Cognition
Năm: 2011

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tóm tắt các khuyến nghị của Bộ nguyên tắc về CSR cho công ty đa - Hội thảo khoa học cấp trường TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP: QUY ĐỊNH QUỐC TẾ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Bảng 1 Tóm tắt các khuyến nghị của Bộ nguyên tắc về CSR cho công ty đa (Trang 48)
Hình 1: Số lượng các tình huống đặc biệt được NCP tiếp nhận và xử lý trong - Hội thảo khoa học cấp trường TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP: QUY ĐỊNH QUỐC TẾ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Hình 1 Số lượng các tình huống đặc biệt được NCP tiếp nhận và xử lý trong (Trang 54)
Hình 2: Số lượng các tình huống đặc biệt được tiếp nhận bởi NCP năm 2020 - Hội thảo khoa học cấp trường TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP: QUY ĐỊNH QUỐC TẾ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Hình 2 Số lượng các tình huống đặc biệt được tiếp nhận bởi NCP năm 2020 (Trang 55)
Bảng thống kê về số BITs được ký từ 1959 đến 2016 có chứa điều khoản về - Hội thảo khoa học cấp trường TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP: QUY ĐỊNH QUỐC TẾ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Bảng th ống kê về số BITs được ký từ 1959 đến 2016 có chứa điều khoản về (Trang 161)
Bảng này chỉ ra số lượng các BITs có điều khoản liên quan tới tham nhũng rất - Hội thảo khoa học cấp trường TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP: QUY ĐỊNH QUỐC TẾ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Bảng n ày chỉ ra số lượng các BITs có điều khoản liên quan tới tham nhũng rất (Trang 162)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w