1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp tiêu thụ nông sản ở việt nam hiện nay

22 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và giải pháp tiêu thụ nông sản ở việt nam hiện nay
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Đề tài
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 154,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam - Gạo vẫn là hàng nông sản xuất khẩu hàng đầu tại Việt Nam : Trong ít nhất mộtthập kỷ nay, hàng nông sản xuất khẩu mạnh nhất tại Vi

Trang 1

là hàng hóa của mình sản suất kinh doanh phải được lưu thông phải được kháchhàng chấp nhận Điều đó có nghĩa là hàng hóa đó phải được tiêu thụ Có làm đượcnhư vậy doanh nghiệp mới thu hồi được chi phí đã bỏ ra, doanh thu được trả bằngtiền và lợi nhuận sẽ dương Điều này có nghĩa rằng nếu sản phẩm được tiêu thụ thìquy trình sản suất kinh doanh có thể quay vòng, doanh nghiệp sẽ tiếp tục tồn tại vàphát triển Như vậy tiêu thụ sản phẩm là khâu không thể thiếu trong chu kỳ sảnsuất kinh doanh của doanh nghiệp Đặc biệt trong cơ chế thị trường hiện nay thìđiều này càng có ý nghĩa, nó quyết định sự sống còn của mỗi sản phẩm sản suất đểbán Không nằm ngoài ý nghĩa đó thị trường sản phẩm nông sản đang là nỗi lo lắngcủa không ít người Khác các mặt hàng khác, nông sản là một sản phẩm đặc thùcủa ngành nông nghiệp mặt hàng này phân bố rải rác khắp nơi do vậy nguồn hàngkhông tập trung mà tính chất sản phẩm lại khó bảo quản ở nước ta hiện nay vớixấp xỉ 70% dân số sống bằng nghề nông do vậy sản suất nông sản có ý nghĩa vôcùng to lớn Vấn đề tiêu thụ mặt hàng này hiện nay đang là bài toán khó giải chocác nhà tiêu thụ Nông sản đang trong tình trạng ứ động chưa có đầu ra ổn định, giá

cả bấp bênh mà khả năng mở rộng thị trường là rất khó Để tìm hiểu sâu hơn vềtiêu thụ nông sản hiện nay ở nước ta, cũng như muốn học hỏi thêm một lĩnh vựcđược sự quan tâm của rất nhiều chủ thể kinh tế hiện nay Điều đó rất hữu ích chomột sinh viên kinh tế Do vậy em chọn đề bài “Thực trạng và giải pháp tiêu thụnông sản ở Việt nam hiện nay” để trình bày

Trang 2

Phần I : Tóm tắt lý thuyết

1 Nông sản là gì ?

Nông sản là những sản phẩm hoặc bán thành phẩm của ngành sản xuất hàng hóathông qua gây trồng và phát triển của cây trồng Sản phẩm nông nghiệp bao gồmnhiều nhóm hàng thực phẩm, tơ sợi, nhiên liệu, nguyên vật liệu, dược phẩm, cácsản phẩm độc đáo đặc thù Ngày nay, nông sản còn hàm nghĩa những sản phẩm từhoạt động làm vườn và thực tế nông sản thường được hiểu là những sản phẩm hànghóa được làm ra từ tư liệu sản xuất là đất

Nông sản chính là những sản ph ẩm hoặc bán thành phẩm được sản xuất ra bởicác nghành nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản và diêm nghiệp

Hiện nay có nông sản hàng hóa, nghĩa là nông sản được sản xuất ra với mục đíchchính là cung cấp, đáp ứng nhu cầu của thị trường Còn một loại nông sản nữa, đó

là nông sản xuất đáp ứng nhu cầu tự sản xuất, tự sử dụng của người dân

2 Phân loại nông sản

 Theo phần khái niệm, hàng nông sản là gì chính là nông sản được sản xuất ravới mục đích chính là cung cấp ra thị trường Và nó bao gồm 3 loại cơ bảnsau đây:

– Sản phẩm nông sản được sản xuất từ hoạt động nông nghiệp: Đây là sản phẩmchính của nông sản hàng hóa Nó bao gồm lúa, gạo lúa mì rồi bột mì Bên cạnh đó,còn có sữa và các loại thịt động vật tươi sống không bao gồm cá cũng như chếphẩm từ cá Ngoài ra, còn có sản phẩm như hồ tiêu, hạt điều, cà phê hay các loạirau quả tươi, chè…

– Sản phẩm nông sản phái sinh: Mặt hàng này bao gồm bánh mì rồi bơ.Ngoài ra,còn có dầu ăn hay là thịt…

– Sản phẩm đã trải qua quá trình chế biến từ các sản phẩm nông nghiệp: Mặt hàngnày bao gồm bánh kẹo hay các chế phẩm được sản xuất từ sữa Bên cạnh đó, còn

có thể kể đến như rượu, bia hay nước ngọt…

 Và nông sản thường được chia làm 2 nhóm chính đó là :

Trang 3

- Nông sản nhiệt đới : Các loại nông sản được sản xuất ở các nước đang phát triển.

Và sản phẩm thuộc nhóm này là các loại quả, các sản phẩm đồ uống như chè, càphê hay cacao cùng với bông và nhóm sản phẩm có sợi

- Nhóm còn lại

3 Những mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam

- Gạo vẫn là hàng nông sản xuất khẩu hàng đầu tại Việt Nam : Trong ít nhất mộtthập kỷ nay, hàng nông sản xuất khẩu mạnh nhất tại Việt Nam luôn luôn là gạo.Gạo Việt Nam được xuất khẩu đến nhiều nơi trên thế giới gồm các nước trongĐông Nam Á và Châu Á Với lợi thế địa lý thời tiết nhiệt đới gió mùa cùng kinhnghiệm canh tác lâu năm, nền nông nghiệp sản xuất lúa gạo của Việt Nam càngngày càng phát triển với nhiều giống lúa ngắn ngày lại cho sản lượng cao

- Cà phê là mặt hàng nông sản xuất khẩu chưa bao giờ giảm nóng : Bên cạnh gạo,hàng nông sản xuất khẩu đóng vai trò quan trọng thứ 2 là hạt cà phê Hạt cà phêcủa Việt Nam được toàn thế giới đánh giá rất cao vì chất lượng thơm ngon, đồngđều Hiện nay, Đức và Hoa Kỳ được liệt kê là hai thị trường có mức độ tiêu thụ càphê Việt Nam một cách mạnh mẽ nhất Thông qua thương hiệu cà phê TrungNguyên nổi tiếng thế giới, giá trị xuất khẩu hạt cà phê của Việt Nam đang ngàycàng tăng cao

- Hạt điều, sắn, cao su và chè là những mặt hàng nông sản xuất khẩu tiềm năng :Hàng nông sản xuất khẩu của nền nông nghiệp Việt Nam không chỉ có gạo và càphê mà còn hạt điều, sắn, cao su và chè Đây đều là những thứ nông sản quenthuộc, dễ trồng, dễ thu hoạch, mang lại năng suất cao cho người nông dân ViệtNam Đặc biệt là cao su Đây là loại cây trồng lâu năm, có khả năng thu lợi nhuậncao trong thời gian dài mà không tốn nhiều công sức, tiền bạc đầu tư, chăm sóc

=> Hàng nông sản xuất khẩu Việt Nam không chỉ dừng lại ở nông sản tươi, mà còn

đa dạng các loại nông sản chế biến sẵn và các loại quả đặc trưng của Việt Nam nhưnhãn, vải, chôm chôm… Hầu hết, bạn bè thế giới đều rất đón nhận các mặt hàngnông sản xuất khẩu từ Việt Nam Nhờ sự phát triển các mặt hàng nông sản xuấtkhẩu chế biến sẵn mà đời sống người nông dân Việt Nam được thay đổi và cảithiện tốt hơn

Trang 4

4.Thành tựu về xuất khẩu nông sản

Năm 2019 là năm dịch bệnh gây thiệt hại chưa từng có trong ngành chăn nuôi,hoạt động xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đối mặt với những biến động gây bất lợilớn Tuy nhiên, ngành nông nghiệp đã khép lại năm 2019 với kết quả hoàn thành

và vượt ¾ chỉ tiêu theo kế hoạch

- Chỉ tiêu vượt kế hoạch đầu tiên phải kể đến là xuất khẩu Trong bối cảnh xungđột thương mại ảnh hưởng tới nền kinh tế toàn cầu, một số thị trường (nhất làTrung Quốc) áp dụng chặt các quy định về nhập khẩu nông, thủy sản từ Việt Nam,các mặt hàng nông sản giảm giá từ 10-15%

- Tuy nhiên cả năm 2019, tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản ước đạt41,3 tỷ USD, tăng khoảng 3,5% so với với năm 2018 Trong đó, riêng lĩnh vực lâmnghiệp ước đạt trên 11 tỷ USD, tăng gần 20%

- Thặng dư thương mại toàn ngành ước đạt mức kỷ lục 9,9 tỷ USD, tăng 14%, caohơn 1,12 tỷ USD so với năm 2018 10 nhóm mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu trên1,0 tỷ USD tiếp tục được duy trì, trong đó có 5 mặt hàng trên 3 tỷ USD, gồm: gỗ

và sản phẩm gỗ; tôm; rau quả; cà phê; hạt điều

- Đáng chú ý, trong năm 2019 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã chỉ đạocác đơn vị tích cực đàm phán để có thêm các loại quả tươi có giá trị cao xuất khẩusang các thị trường Mỹ, Australia, Nhật Bản, Trung Quốc ; đồng thời, thúc đẩyxuất khẩu thịt gà chế biến đi Nhật Bản; xuất khẩu lợn sữa vào Malaysia, HongKong; xuất khẩu mật ong đi EU, Hoa Kỳ

- Đối với lĩnh vực thủy sản, Mỹ đã công nhận tương đương đối với mặt hàng cá datrơn Việt Nam, giảm thuế nhập khẩu cá tra, tôm từ nước ta vào Mỹ, hầu hết ở mức0%; Trung Quốc đã chấp thuận nhập khẩu chính ngạch 48 loài thủy sản sống và

128 loại sản phẩm thủy sản sơ chế, chế biến từ Việt Nam

- Đối với lĩnh vực lâm nghiệp, việc phê chuẩn và triển khai thực hiện Hiệp địnhVPA/FLEGT và tham gia các Hiệp định thương mại tự do (FTAs) đã mang lạinhiều cơ hội cho ngành chế biến, xuất khẩu gỗ và lâm sản

Trang 5

- Hai chỉ tiêu hoàn thành tiếp theo là tỷ lệ che phủ của rừng đạt 41,85% và tỷ lệ xãđạt tiêu chí nông thôn mới là 54% với 111 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn/hoàn thànhnhiệm vụ xây dựng nông thôn mới.

- Chỉ tiêu đạt thấp là tăng trưởng GDP 2,2% Nguyên nhân tăng trưởng nôngnghiệp 2019 đạt thấp chủ yếu do bệnh dịch tả lợn châu Phi (làm giảm khoảng 1,1%tăng trưởng toàn ngành)

=> Đạt được kết quả trên là do nhiều yếu tố kết hợp Trong đó phải kể đến việcmôi trường đầu tư tiếp tục được cải thiện, tạo ra sức bật mới về đầu tư vào nôngnghiệp

Phần II : Phân tích và đánh giá thực trạng tiêu thụ nông

sản của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

1 Đặc điểm sản phẩm nông sản

Nông sản là một sản phẩm đặc biệt, có nguồn sản xuất phân bố phân tán vàrộng khắp trên mọi miền của lãnh thổ Hàng nông sản gắn liền với cuộc sốnghàng ngày của nhân dân, Giá chênh lệch giữa nơi sản xuất và nơi tiêu dùng khálớn, nếu nắm bắt thông tin kịp thời sẽ rất có lãi Nhưng đồng thời quan hệ cung– cầu về mặt hàng này rất phức tạp cần phải nghiên cứu kỹ đặc điểm sản phẩm,nơi sản xuất và thị trường có nhu cầu nông sản lớn từ đó sẽ vạch hướng kinhdoanh cho các kênh tiêu thụ sản phẩm Và chủ yếu phải nghiên cứu những đặcđiểm chính của hàng nông sản như sau :

a) Tính thời vụ

Sản xuất nông sản có tính thời vụ rõ ràng: Vụ Đông, vụ Hè, vụ Chiêm, vụMùa… Tuỳ từng thời vụ mà có những sản phẩm nông sản đặc trưng cũng nhưgiá cả khác nhau, nông sản trái mùa sẽ có giá cao hơn nông sản vào mùa thuhoạch Đồng thời khác các loại hàng hoá khác để sản xuất được sản phẩm nôngsản cần có một thời gian nhất định để cay, con sinh trưởng, vòng quay sản xuấttương đối dài Do vậy trong khoảng thời gian từ vụ yhu hoạch này tới vụ thuhoạch sau là một khoảng thời gianvà sản phẩm nông sản lúc đó tương đối hiếm.Còn vào thời điểm thu hoạch thì lượng sản phẩm nông sản rất dồi dào và phongphú Do vậy người kinh doanh hàng nông sản cần phải biết quy luật sản xuất

Trang 6

các mặt hàng này để làm tốt công tác chuẩn bị trước mùa thu hoạch, đến mùathu hoạch thì tập trung lao động nhanh chóng triển khai công tác thu mua vàtiêu thụ sản phẩm

b) Tính phân tán

Sản phẩm nông sản được sản xuất bởi các hộ nông dân, và được trồng ở nôngthôn nơi mà hàng triệu người nông dân sinh sống Họ sản xuất nông sản theotừng gia đình và với số lượng nhỏ Do vậy nguồn nông sản phải cóp nhặt từ các

hộ gia đình này và từ nhiều nơi khác nhau Trong khi đó sức tiêu thụ thì tậptrung ở thành phố, khu công nghiệp lớn Nông sản phải vận chuyển từ nôngthôn ra thành thị, đòi hỏi bố trí điểm thu mua đặt địa điểm chế biến đều phảithuận lợi cho quá trình vận chuyển nông sản

c) Tính khu vực

Sản xuất nông sản gắn liền với địa hình, tuỳ theo tính chất địa hình mà có thểnuôi, trồng những loại con, cây khác nhau Thường mỗi loại sản phẩm nông sảnchỉ thích ứng trên mỗi địa hình đặc trưng riêng như đất đai, khí hậu, con người.Tuỳ theo địa hình, khu vực mà nơi thì thích ứng trồng bông, mía nơi thì trồng

cà phê, chè, cao su… Do đặc điểm tự nhiên này mà hình thành những khu vựcsản xuất khác nhau với tính chất sản phẩm khác nhau(chè Thái Nguyên thì khácchè ở Tuyên Quang, Hà Giang…) chính vì thế có những khu vực sản xuất sảnphẩm nông sản rất khác nhau với tỷ lệ khác nhau: Như Đồng Bằng sông CửuLong và Đồng Bằng sông Hồng là hai khu vực sản xuất phần lớn sản lượng lúa,gạo trong cả nước

d) Tính tươi sống

Hàng nông sản phần lớn là động vật, thực vật tươi sống khó bảo quản do dễ bịhỏng, ôi, dập nát, dễ giảm phẩm chất Đặc biệt với rau quả và sản phẩm khác thìnhu cầu sử dụng sản phẩm tươi sống là rất cao, tỷ trọng nông sản tiêu thụ ởdạng này chiếm tương đối lớn Khi tiêu thụ sản phẩm nông sản cần chú ý đặcđiểm này và khi thu mua cần phân loại theo chất lượng sản phẩm, khả năng chếbiến, bảo quản sản phẩm cũng như cần có hình thức vận chuyển nhanh chóngđảm bảo độ tươi sống

e) Tính không ổn định

Trang 7

Ngành nông nghiệp là ngành sản xuất phụ thuộc lớn vào thời tiết, dịch bệnh,giống, kỹ thuật nuôi trồng…mà thời tiết là một yếu tố mà con người khó kiểmsoát và khó dự báo, lúc thì nắng, lúc thì mưa, lúc hạn hán, lúc lũ lụt Điều nàygây nên tính không ổn định của sản phẩm nông sản: sản lượng nông sản lênxuống thất thường, năm được mùa, năm mất mùa và cùng một năm thì có vùngđược mùa và có vùng mất mùa Khiến cho nguồn hàng, giá hàng không ổn định,khó kiểm soát Vụ được mùa: số lượng nông sản lớn thì giá lại rẻ Còn lúc mấtmùa giá nông sản tăng cao thì lại không có nông sản mà bán Tính không ổnđịnh này nhiều lúc gây ra rất nhều khó khăncho vấn đề tiêu thụ như sản phẩmnông sản thường bị tư thương ép giá vào lúc được mùa, hợp đồng ký bị vi phạm

do không đủ hàng giao lúc mất mùa… Dù vậy nông sản vẫn có nhu cầu tiêudùng tương đối lớn bởi nó gắn liền với bản thân người tiêu dùng, đòi hỏi tựnhiên con người phải dùng sản phẩm nông sản để tồn tại và phát triển

2 Thực trạng tiêu thụ nông sản hiện nay ở Việt Nam

a) Khối lượng nông sản tiêu thụ

Việt Nam là một nước nông nghiệp lâu đời, nông dân có truyền thống và kinhnghiệm thâm canh lâu năm, mà Việt Nam lại có tới gần 70% dân số sống bằngnghề nông do vậy khối lượng nông sản được sản xuất và tiêu thụ là tương đốilớn

b) Thị trường tiêu thụ nông sản

Nông sản được tiêu thụ ở khắp nơi trên đất nước cũng như nước ngoài, chỗnào có dân cư sống là nơi ở đó nông sản được tiêu thụ Nhưng chủ yếu nông sảnđược tiêu thụ ở những thành phố lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố

Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh… nơi mà dân cư đông đúc và nhu cầu tiêu thụcủa người dân là lớn Ngioài tiêu thụ trong nước còn tiêu thụ nước ngoài: TrungQuốc, Mỹ, Thái Lan… Những thị trường này tiêu thụ một lượng hàng nông sảnlớn ở Việt Nam như chè, cao su, cà phê, hạt tiêu, hồ tiêu

c) Nhịp độ tiêu thụ nông sản chậm chạp và thường bị tồn đọng

Do tính chất sản phẩm nông sản khó bảo quản, vận chuyển cũng như nông sản

có tính thời vụ, chưa đến vụ thì thiếu hàng trầm trọng dẫn đến đột biến giá cả,nhưng khi vào vụ thu hoạch thì thừa hàng, tồn đọng, giá nông sản giảm mạnh

Trang 8

gây thiệt hại cho người sản xuất và kinh doanh Ví dụ: Theo số liệu của BộThương mại, 6 tháng đầu năm 2017 tồn đọng một lượng lớn các loại nông sản

mà chưa có cách nào để tiêu thụ, trong đó nổi lên là 3 mặt hàng có lượng tồnđọng lớn là lúa, mía, cà phê Nhà nước đã phải chỉ đạo cho các doanh nghiệpmua tạm trữ 1 triệu tấn gạo, 100 nghìn tấn đường và hỗ trợ các đơn vị sản xuất

cà phê để chờ lên giá

d) Lực lượng tiêu thụ sản phẩm

* Tiêu thụ nông sản trực tiếp

Tiêu thụ trực tiếp là hình thức các hộ nông dân đem sản phẩm của mình bán

ra trực tiếp trên thị trường cho người tiêu dùng Hình thức tiêu thụ này thu đượclợi nhuận trên sản phẩm cao do không phải qua trung gian Nhưng chỉ áp dụngvới hộ gia đình sản xuất nông sản với quy mô nhỏ, trừ lượng nông sản khônglớn và thường là tiêu thụ ở ngay tại khu vực sản xuất

* Tiêu thụ nông sản qua tư thương

Trong tất cả các kênh phân phối liên quan dến sản xuất nông nghiệp và đờisống nông dân ở nông thôn đều có sự tham gia rất phổ biến của tư thương Tưthương có thể làm nông dân rảnh tay trong giải quyết đầu ra Nhưng vì qua tưthương mà nông sản bị ép giá bán hàng hoá với giá rẻ Bởi do nông dân khôngnắm bắt được đặc điểm thị trường không biết đầu mối tiêu thụ mà nông sản khó

để lâu, khó bảo quản nên phải bán cho tư thương chấp nhận với giá rẻ Điểmnổi bật trong phân phối nông sản là qua nhiều khâu trung gian làm chậm quátrình lưu thông sản phẩm, thậm chí gây ách tắc dẫn đến tồn đọng giả tạo

* Tiêu thụ nông sản qua Nhà nước

Hoạt động tiêu thụ nông sản của Nhà nước khác hoạt động tiêu thụ thị trườngkhác Mục tiêu của Nhà nước tiêu thụ nông sản không phải do vấn đề lợi nhuận

mà hoạt động của Nhà nước là lợi ích đến người nông dân, cố gắng đảm bảo ổnđịnh cho nông dân bằng cách bình ổn giá cả, chính sách chi phí sản xuất nôngsản(giảm thuế) cho nên giá đầu vào thấpdẫn đến khả năng cạnh tranh và tiêu thụnông sản được nâng cao Hình thức tiêu thụ của Nhà nước thường là mua nôngsản dự trữ gạo, cà phê…vào lúc dồi dào, giá nông sản giảm Ngoài ra tiêu thụnông sản của Nhà nước thường là với chính phủ khác(như thoả thuận của Bộ

Trang 9

Thương mại Việt Nam vừa ký với Cục Lương thực Inđônêsia mua bán 500ngàn tấn gạo từ năm 2002 - 2004), trên cơ sở đó giao cho một số doanh nghiệptham gia thực hiện dưới hình thức đấu thầu hoặc bảo đảm không lỗ

e) Thị trường nông sản đầu ra không ổn định

* Giá nông sản bấp bênh

Ai cũng biết trong nông nghiệp một trong những động lực kích thích nôngdân hăng hái phát triển sản xuất là giá cả hợp lý, một trong những nỗi lo lớnnhất của nông dân là nông sản làm ra không tiêu thụ được hoặc tiêu thụ với giábất lợi nhất là trong tình hình hiện nay hiều nông sản giá hạ thấp không hợp lýthậm chí có những loại giá rớt “tới đáy” Ví dụ: Hiện nay giá xuất khẩu gạo củacác doanh nghiệp Việt Nam đã ở mức thấp nhất so với giá của các nước xuấtkhẩu gạo chủ yếu khác Một giải pháp giúp nông dân tiêu thụ sản phẩm với giá

cả hợp lý và doanh nghiệp thu mua được nông sản xuất khẩu là cơ chế hợpđồng Trong thực tế có nhiều thị trường trường hợp không thực hiện được hợpđồng đã ký kết do sự biến động của giá cả thị trường Khi giá thị trường caohơn giá hợp đồng, nông dân muốn giữ lại nông sản để đưa ra thị trường với giácao, doanh nghiệp không mua được hoặc không mua đủ nông sản để chế biến

và xuất khẩu Ngược lại khi giá thị trường thấp hơn giá hợp đồng, doanh nghiệpkhông muốn mua hpặc mua ít nông sản của nông dân mà mua ở thị trường,nông dân không bán được hoặc bán được với số lượng ít, dẫn đến thiếu vốn đểsản xuất Vì vậy khi ký kết hợp đồng giữa nông dân và doanh nghiệp, hai bênphải tính toán đầy đủ sự biến động của giá cả thị trường, quy định rõ tráchnhiệm và quyền lực của mỗi bên Kinh nghiệm của nhiều địa phương cho thấyhợp đồng phải được bàn bạc và ký kết trước 1 đến 2 tháng trước khi vào vụ sảnxuất Nội dung của hợp đồng phải ghi rõ số lượng, chất lượng thời gian và địađiểm giao nộp đặc biệt là giá cả Để đảm bảo tính khả thi của hợp đồng, phảitính toán đầy đủ các chi phí sản xuất về tư liệu sản xuất và lao động để sản xuất

ra sản phẩm Giá nông dân bán cho doanh nghiệp trong ký kết hợp đồng là chiphí thực tế để sản xuất ra sản phẩm cộng với tiền nộp thuế (nếu có) cộng với chiphí lưu thông (nếu nông dân phải vận chuyển sản phẩm tới doanh nghiệp) lãi dựtính (khoảng 20%) để nông dân có thể thực hiện tái sản xuất mở rộng Giá kýkết trong hợp đồng phải là hai bên (doanh nghiệp và nông dân) thoả thuận Nếu

do sự biến động giá cả thị trường thì hai bên phải bàn bạc với nhau tránh tình

Trang 10

trạng nông dân không bán hoạc không bán đủ sản phẩm trong hợp đồng vàdoanh nghiệp không mua hoặc không mua đủ như đã xảy ra trong thực tế

* Chất lượng nông sản không đồng đều

Với tính phân tán của sản phẩm nông sản, thu mua nông sản ở nhiều nơimàmỗi nơi sản phẩm nông sản sản xuất ra có đặc tính chất lượng không giốngnhau Do vậy nguồn hàng tạo ra có chất lượng không đồng đều như gạo, chè…Điều này cũng do đặc tính giống sản xuất, mỗi giống nông sản cho kết quả sảnphẩm khác nhau Nhiều khi để đảm bảo số lượng nông sản mà người ta thu gom

cả những sản phẩm có giống khác nhau tạo nên tính không đồng đều của chấtlượng nông sản Như “Việt Nam chưa hình thành được các vùng chuyên canh,sản xuất tập trung tạo ra nguồn xuất khẩu nông sản tươi hay làm nguyên liệucho các nhà máy chế biếnvà xuất khẩu Các nhà xuất khẩu Việt Nam khôngđảm bảo độ đồng nhất về quy cách chất lượng ngay trong từng lô hàng vì thế

mà bị ép giá cao”

* Nhu cầu nông sản không ổn định

Cùng với sự biến đông nhu cầu hàng hoá khác, nông sản có nhu cầu không

ổn định, đặc biệt nhu cầu ngoài nước,khi mà thị trường thế giới biến động, giá

cả không ổn định, giá nông sản một số mặt hàng Việt Nam cao hơn các nướckhác làm cho nhập khẩu nông sản Việt Nam giảm rõ rệt Thị trường nước ngoài

là thị trường khó tính họ yêu cầu vấn đề chất lượng tương đối cao mà nhiều khisản phẩm Việt Nam không đáp ứng được, trong khi đó chất lượng nông sản sảnxuất của một số nước đang tăng do giống, khoa học kỹ thuật cao hơn Điều nàylàm cho khả năng tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp giảm

* Nông sản Việt Nam chưa theo kịp cơ chế thị trường

+Sản xuất nông sản nhỏ lẻ chưa tập trung Việt Nam là một nước phát triển chưamạnh nền nông nghiệp sản xuất còn lạc hậu và làm ăn thủ công tương đốinhiều, lối sản xuất nông nghiệp là nhỏ lẻ, manh mún Các cơ sở sản xuất đều cóquy mô nhỏ, công nghệ, thiết bị lạc hậu chủ yếu sản xuất thủ công vệ sinh antoàn thực phẩm chưa đảm bảo, chất lượng sản phẩm chưa cao nên khả năng tiêuthụ còn hạn chế Hộ sản xuất Việt Nam có quy mô nhỏ rất phổ biến, kinh tế

Trang 11

trang trại chưa phát triển, khả năng liên kết nhau cùng sản xuất, cùng tiêu thụ làchưa cao nên sảy ra tình trạng tranh mua, tranh bán gây thiệt hại cho cả hai bên.+Một điểm yếu nữa của nền nông nghiệp Việt Nam là nông dân chỉ bán sảnphẩm mình sản xuất ra, không bán sản phẩm theo nhu cầu của thị trường Trongkhi đó thị trường là nơi mà người sản xuất phải hướng tới lợi ích người tiêudùng, phải bán cái thị trường cần chứ không phải là bán cái mình có Dù biếtrằng nông sản là mặt hàng thị trường luôn cần nhưng nhu cầu của khách hàngthì rất phong phú, đa dạng , chất lượng cao Còn người nông dân thường sảnxuất hàng nông sản theo chức năng vụ mùa, mùa nào trồng, nuôi được cây, connào thì sẽ sản xuất mặt hàng đó cho dù vụ này thị trường có cần mặt hàng đókhông họ không cần biết Chính điều này là một phần nguyên nhân gây ứ đọnghàng nông sản hiện nay Ngay việc xuất khẩu của chúng ta cũng chỉ là chủ yếudựa vào sản phẩm dư thừa chứ chưa dựa trên nhu cầu thị trường Trong khi đóthị trường quốc tế luôn luôn biến động cả về số lượng, giá cả lẫn chất lượng Nólàm khoảng cách giữa nước ta và các nước trên thế giới ngày càng xa Đây làđiểm bất lợi trong vấn đề sản xuất và tiêu thụ hàng nông sản của Việt Nam, làmhàng của chúng ta thường ở trong tình trạng tồn đọng, tiêu thụ kém

f) Hoạt động tiêu thụ nông sản hiện nay

Năm 2019 và giai đoạn tới đây, để hàng nông sản Việt Nam tiếp tục thamgia sâu hơn chuỗi nông sản giá trị toàn cầu sẽ là thách thức rất lớn

Ngành nông nghiệp tiếp tục tổ chức lại nền sản xuất dựa trên hộ nhỏ lẻ vớitrên 8,6 triệu hộ thành một nền nông nghiệp tập trung hướng đến hàng hóa cóquản trị Trong khi đó, nông nghiệp Việt Nam chủ yếu vẫn sản xuất nhỏ, phântán nên chưa đáp ứng được yêu cầu về sản xuất hàng hóa quy mô lớn và tiêuchuẩn cao từ thị trường quốc tế

Xuất khẩu cà phê dự báo gặp nhiều khó khăn do giá thành cà phê trên thếgiới giảm Xuất khẩu cà phê dự báo gặp nhiều khó khăn do giá thành cà phêtrên thế giới giảm

Bên cạnh đó, thách thức, nguy cơ còn đến từ tác động của biến đổi khí hậu,môi trường, dich bệnh trên cây trồng, vật nuôi ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuấttrong nước và tình hình cung cầu nông sản

Ngày đăng: 02/10/2023, 16:18

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w