1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tập môn Thẩm định thẩm tra

14 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài tập môn Thẩm định thẩm tra
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Thẩm định thẩm tra
Thể loại Bài tập môn học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 37,98 KB
File đính kèm Thẩm định thẩm tra.rar (35 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 1. (5 điểm) Phân tích nội dung hoạt động thẩm tra dự thảo Luật, pháp lệnh. Đánh giá thực trạng và kiến nghị hoàn thiện. 1 I. Một số vấn đề lý luận về hoạt động thẩm tra dự thảo luật, pháp lệnh 1 1. Khái niệm hoạt động thẩm tra dự thảo Luật, pháp lệnh 1 2. Vai trò của hoạt động thẩm tra dự thảo Luật, pháp lệnh 1 II. Thực trạng quy định pháp luật việt nam về hoạt động thẩm tra dự thảo luật, pháp lệnh 1 1. Thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam về hoạt động thẩm tra dự thảo luật, pháp lệnh 1 1.1 Tổ chức thẩm tra Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh 1 1.2 Phân công thẩm tra dự án Luật, pháp lệnh sau khi Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh đã được Quốc hội thông qua 2 1.3 Chuẩn bị cuộc họp thẩm tra 2 1.4 Các phương thức tổ chức cuộc họp thẩm tra dự án Luật, pháp lệnh 2 1.5 Tiến hành thảo luận tại phiên họp thẩm tra 2 1.6 Trình báo cáo thẩm tra dự án luật, pháp lệnh 3 2. Thực tiễn thi hành hoạt động thẩm tra dự thảo Luật, pháp lệnh 3 III. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành hoạt động thẩm tra dự thảo luật, pháp lệnh 5 Câu 2. (5 điểm) Với tư cách là cơ quan tiến hành thẩm định, anh (chị) hãy phát biểu về sự cần thiết ban hành Nghị định quy định về quản lý các trang mạng xã hội. 6 I. Cơ sở thực tiễn 6 1. Hiện trạng 6 2. Hậu quả 7 3. Nguyên nhân 7 II. Cơ sở pháp lý 8 III. Cơ sở chính trị 10 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11

Trang 1

KỸ NĂNG THẨM ĐỊNH, THẨM TRA VĂN BẢN QUY

PHẠM PHÁP LUẬT

MỤC LỤC

Câu 1 (5 điểm) Phân tích nội dung hoạt động thẩm tra dự thảo Luật, pháp

lệnh Đánh giá thực trạng và kiến nghị hoàn thiện 1

I Một số vấn đề lý luận về hoạt động thẩm tra dự thảo luật, pháp lệnh 1

1 Khái niệm hoạt động thẩm tra dự thảo Luật, pháp lệnh 1

2 Vai trò của hoạt động thẩm tra dự thảo Luật, pháp lệnh 1

II Thực trạng quy định pháp luật việt nam về hoạt động thẩm tra dự thảo luật, pháp lệnh 1

1 Thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam về hoạt động thẩm tra dự thảo luật, pháp lệnh 1

1.1 Tổ chức thẩm tra Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh 1

1.2 Phân công thẩm tra dự án Luật, pháp lệnh sau khi Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh đã được Quốc hội thông qua 2

Trang 2

1.3 Chuẩn bị cuộc họp thẩm tra 2

1.4 Các phương thức tổ chức cuộc họp thẩm tra dự án Luật, pháp lệnh 2

1.5 Tiến hành thảo luận tại phiên họp thẩm tra 2

1.6 Trình báo cáo thẩm tra dự án luật, pháp lệnh 3

2 Thực tiễn thi hành hoạt động thẩm tra dự thảo Luật, pháp lệnh 3

III Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành hoạt động thẩm tra dự thảo luật, pháp lệnh 5

Câu 2 (5 điểm) Với tư cách là cơ quan tiến hành thẩm định, anh (chị) hãy phát biểu về sự cần thiết ban hành Nghị định quy định về quản lý các trang mạng xã hội.6 I Cơ sở thực tiễn 6

1 Hiện trạng 6

2 Hậu quả 7

3 Nguyên nhân 7

II Cơ sở pháp lý 8

III Cơ sở chính trị 10

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11

DANH MỤC CÁC TỪ NGỮ VIẾT TẮT

Trang 4

Câu 1 (5 điểm) Phân tích nội dung hoạt động thẩm tra dự thảo Luật, pháp

lệnh Đánh giá thực trạng và kiến nghị hoàn thiện.

I Một số vấn đề lý luận về hoạt động thẩm tra dự thảo luật, pháp lệnh

1 Khái niệm hoạt động thẩm tra dự thảo Luật, pháp lệnh

Theo Từ điển Luật học năm 1999: “Thẩm tra là việc xem xét lại kỹ lưỡng dự án luật, pháp lệnh do Hội đồng Dân tộc, Ủy ban Pháp luật hoặc một Ủy ban hữu quan của Quốc hội hay một Ủy ban lâm thời được Quốc hội chỉ định tiến hành trước khi trình Ủy ban thường vụ Quốc hội Cơ quan thẩm tra xem xét cả về hình thức và nội dung nhưng tập trung vào xem xét sự phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng; tính hợp hiến, hợp pháp, đối tượng, nội dung, phạm vi và tính khả thi của dự án”.1

2 Vai trò của hoạt động thẩm tra dự thảo Luật, pháp lệnh

Thứ nhất, hoạt động thẩm tra góp phần hoàn thiện pháp luật trong việc đảm bảo

tính hợp Hiến, hợp pháp, tính đồng bộ, thống nhất, khả thi của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật

Thứ hai, hoạt động thẩm tra nhằm duy trì trật tự quản lý nhà nước, góp phần bảo

đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cả nhân, tổ chức

Thứ ba, hoạt động thẩm tra góp phần tạo dựng môi trường pháp lý minh bạch, ổn

định, lãnh mạnh

Thứ tư, hoạt động thẩm tra đảm bảo tuân thủ đúng quy trình xây dựng dự thảo văn

bản quy phạm pháp luật

II Thực trạng quy định pháp luật việt nam về hoạt động thẩm tra dự thảo luật, pháp lệnh

1 Thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam về hoạt động thẩm tra dự thảo luật, pháp lệnh

1.1 Tổ chức thẩm tra Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh

Theo quy định của Điều 47 Luật Ban hành VBQPPL năm 2015, Ủy ban Pháp luật tập hợp và chủ trì thẩm tra đề nghị về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của cơ quan,

tổ chức, ĐBQH và kiến nghị về luật, pháp lệnh của ĐBQH Có thể khẳng định rằng, Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh là một định hướng quan trọng trong công tác lập pháp của Nhà nước ta, đồng thời cũng đặt ra mục tiêu để Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội phấn đấu thực hiện Việc xây dựng và ban hành CTXDLPL đã bước đầu được gắn với chương trình phát triển kinh tế - xã hội 05 năm và hàng năm, gắn với việc từng

1 Trường Đại học Luật Hà Nội (2019), Hội thảo khoa học Góp ý dự thảo Giáo trình Kỹ năng thẩm định, thẩm tra

dự thảo văn bản quy phạm pháp luật

1

Trang 5

bước đổi mới quy trình xây dựng pháp luật, trên cơ sở những yêu cầu bức xúc của cuộc sống

1.2 Phân công thẩm tra dự án Luật, pháp lệnh sau khi Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh đã được Quốc hội thông qua

Việc sớm phân công cơ quan soạn thảo, cơ quan thẩm tra đối với các dự án luật, pháp lệnh sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan hữu quan có kế hoạch phối hợp chặt chẽ trong việc triển khai thực hiện CTXDLPL của Quốc hội Kinh nghiệm cho thấy, việc phân công hợp lý, đúng chức năng, chuyên môn của cơ quan soạn thảo, cơ quan thẩm tra

là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy quá trình xây dựng, thẩm tra và bảo đảm chất lượng các dự án Theo quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, thẩm quyền thẩm tra của HĐDT, các Ủy ban của Quốc hội được quy định cụ thể hơn Đây là cơ sở pháp lý để Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) phân công thẩm tra dự án luật, pháp lệnh cho HĐDT, từng Ủy ban của Quốc hội

1.3 Chuẩn bị cuộc họp thẩm tra

Khoản 4 Điều 63 Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 quy định, cơ quan thẩm tra

có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, ĐBQH trình dự án, dự thảo báo cáo, giải trình, cung cấp thông tin, tài liệu về những vấn đề liên quan đến nội dung của dự án, dự thảo; tự mình hoặc cùng cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo tổ chức hội thảo, khảo sát về những vấn đề thuộc nội dung của dự án, dự thảo

1.4 Các phương thức tổ chức cuộc họp thẩm tra dự án Luật, pháp lệnh

Theo quy định của khoản 1 Điều 66 Luật Ban hành VBQPPL năm 2015, việc thẩm tra bao gồm các giai đoạn thẩm tra sơ bộ và thẩm tra chính thức Tuy nhiên, trên thực tế, việc tổ chức cuộc họp thẩm tra được tiến hành bằng các phương thức linh hoạt hơn, vượt

ra ngoài các phương thức được quy định tại Điều 66 Luật Ban hành VBQPPL năm 2015

Sở dĩ có tình trạng trên là do hầu hết các thành viên của HĐDT, các Ủy ban của Quốc hội làm việc theo chế độ không chuyên trách, cư trú, công tác tại nhiều địa phương, việc tổ chức họp toàn thể HĐDT hoặc Ủy ban thường xuyên để thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh gặp rất nhiều khó khăn Thực tiễn cho thấy, việc tổ chức họp toàn thể HĐDT, các

Ủy ban hoặc phối hợp toàn thể giữa cơ quan chủ trì và cơ quan tham gia thì chất lượng thẩm tra được bảo đảm một cách toàn diện hơn, đồng thời thể hiện rõ được chính kiến, quan điểm của toàn thể Ủy ban đối với từng vấn đề của dự án thông qua nguyên tắc làm việc tập thể và quyết định theo đa số

1.5 Tiến hành thảo luận tại phiên họp thẩm tra

2

Trang 6

Khoản 3 Điều 63 Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 quy định, cơ quan chủ trì thẩm tra có thể mời đại diện cơ quan, tổ chức có liên quan, các chuyên gia, nhà khoa học

và đại diện các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản tham dự cuộc họp do mình tổ chức để phát biểu ý kiến về những vấn đề liên quan đến nội dung của dự án, dự thảo Trong trường hợp có những vấn đề lớn liên quan tới chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước và các ý kiến tại cuộc họp thẩm tra giữa cơ quan soạn thảo dự án luật với cơ quan chủ trì thẩm tra còn nhiều khác biệt, chưa thống nhất thì các cơ quan này có trách nhiệm báo cáo lên cấp có thẩm quyền để cho ý kiến chỉ đạo trước khi trình báo cáo thẩm tra trước Quốc hội hoặc UBTVQH

1.6 Trình báo cáo thẩm tra dự án luật, pháp lệnh

Thông thường, nội dung của báo cáo thẩm tra nêu ý kiến về: các quan điểm, sự cần thiết phải ban hành, phạm vi quy định, đối tượng điều chỉnh, nội dung lớn của dự án, một

số vấn đề cụ thể, tên gọi, bố cục dự án, kỹ thuật soạn thảo văn bản, kiến nghị một số biện pháp bảo đảm triển khai thực hiện văn bản trong cuộc sống… Một trong những yêu cầu của nội dung báo cáo thẩm tra là phải nêu lên được chính kiến, quan điểm của HĐDT,

Ủy ban về những vấn đề được nhất trí, không nhất trí hoặc còn có ý kiến khác nhau để làm cơ sở cho ĐBQH thảo luận và Quốc hội, UBTVQH xem xét, quyết định

Ngoài ra, báo cáo thẩm tra của HĐDT, các Ủy ban của Quốc hội cũng cần thể hiện được ý kiến chỉ đạo của các cấp lãnh đạo Đảng và Nhà nước về những vấn đề lớn của dự

án luật, pháp lệnh; trong một số trường hợp còn phải thể hiện quan điểm của HĐDT, các

Ủy ban của Quốc hội đối với các ý kiến chỉ đạo đó Những ý kiến này vừa là cơ sở cho việc thảo luận, thông qua, vừa là phương thức để thực hiện nguyên tắc Đảng lãnh đạo trong công tác xây dựng pháp luật, nhất là công tác lập pháp của Quốc hội Trong trường hợp dự án được lấy ý kiến các ngành, các cơ quan hữu quan, ý kiến nhân dân, báo cáo cũng cần thể hiện được ý kiến và quan điểm của các cơ quan thẩm tra về nội dung các ý kiến đó Đây cũng là một trong những cơ sở thực tiễn quan trọng để Quốc hội, UBTVQH xem xét, quyết định thông qua dự án luật, pháp lệnh

2 Thực tiễn thi hành hoạt động thẩm tra dự thảo Luật, pháp lệnh

Thẩm tra dự thảo Luật, pháp lệnh là một hoạt động có ý nghĩa quan trọng Thực tiễn ở Việt Nam từ khi có Luật BHVBQPPL năm 1996 cho đến nay, hoạt động thẩm tra

dự thảo Luật, pháp lệnh đã có chuyển biến về chất, góp phần nâng cao hiệu quả công tác xây dựng pháp luật, đồng thời đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật Tuy nhiên, hoạt động thẩm tra dự thảo Luật, pháp lệnh cũng bộc lộ một số hạn chế như:

3

Trang 7

Thứ nhất, việc xây dựng, thẩm tra, cho ý kiến và xem xét thông qua dự kiến

Chương trình còn thiếu những cơ sở khoa học và căn cứ thực tiễn; còn mang tính chất sự

vụ tác chiến, chưa có một chiến lược toàn diện Khi Quốc hội xem xét để quyết định đưa một dự án vào CTXDLPL hàng năm, Quốc hội đã phải xem xét toàn diện các mặt của tính cần thiết ban hành văn bản được đưa vào Chương trình Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng và trình các dự án luật, pháp lệnh, cơ quan soạn thảo và cơ quan thẩm tra lại đi xem xét, chứng minh việc cần thiết hoặc không cần thiết ban hành văn bản.2

Thứ hai, theo quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Quốc hội năm

2015, thẩm quyền thẩm tra của HĐDT, các Ủy ban của Quốc hội được quy định cụ thể hơn Đây là cơ sở pháp lý để Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) phân công thẩm tra dự án luật, pháp lệnh cho HĐDT, từng Ủy ban của Quốc hội Tuy nhiên, việc triển khai những quy định này thực tế không đơn giản và không phải trong mọi trường hợp, việc phân công cho HĐDT, Ủy ban của Quốc hội thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh đều

đã khoa học, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan

Thứ ba, quá trình thực hiện quy định về chuẩn bị cuộc họp thẩm tra cho thấy, trong

một số trường hợp, dự án luật, pháp lệnh đã được trình Quốc hội, UBTVQH và đưa vào chương trình kỳ họp Quốc hội, phiên họp của UBTVQH, nhưng lại thiếu các thông tin,

tư liệu cần thiết và trong nhiều trường hợp, các thông tin này lại mang ý nghĩa quyết định cho việc thẩm tra của HĐDT, các Ủy ban của Quốc hội Thực tế cho thấy, khi chưa có đủ thông tin, tư liệu cần thiết, nhất là ý kiến của các cơ quan có liên quan tới nội dung quy định của dự án luật, pháp lệnh mà theo yêu cầu vẫn phải tiến hành thẩm tra, thì việc xử lý các hậu quả sau đó gặp không ít khó khăn, tốn nhiều thời gian và như vậy thường là phải thẩm tra lại

Thứ tư, thực tế phát sinh vấn đề cần xử lý là sau khi có phiên họp thẩm tra của

HĐDT hoặc Ủy ban của Quốc hội thì cơ quan soạn thảo dự án tiếp thu ý kiến của cơ quan thẩm tra để chỉnh lý dự án luật, pháp lệnh và làm lại tờ trình, dự án mới để trình ra trước Quốc hội, UBTVQH Trong trường hợp này, cơ quan thẩm tra thường không có điều kiện về thời gian để tổ chức họp toàn thể thẩm tra lại dự án đã được tiếp thu chỉnh lý; do đó, bộ phận thường trực của cơ quan thẩm tra sẽ xử lý vấn đề này Như vậy, báo cáo thẩm tra có thể không phản ánh hết được toàn diện ý kiến của tất cả các thành viên

Ủy ban Đây là vấn đề cần được rút kinh nghiệm ở khâu tổ chức thực hiện

2 http://www.lapphap.vn/Pages/anpham/chitietanpham.aspx?ItemID=58

4

Trang 8

Thứ năm, thời hạn thẩm tra kéo dài; nội dung thẩm tra còn nặng về hình thức, thiếu

các biện pháp khảo sát rộng rãi; chất lượng văn bản đôi khi chưa đáp ứng những yêu cầu, đòi hỏi đặt ra Thực tế này xuất phát từ nhiều nguyên nhân như: chưa xác định được một

cơ chế thẩm tra thực sự hợp lý và hiệu quả; một số quy định của pháp luật về hoạt động này còn mang tính nguyên tắc, thiếu tính cụ thể; việc tổ chức thẩm tra còn chưa kịp thời; đội ngũ cán bộ công chức thực hiện công tác này còn thiếu về số lượng và bất cập về chất lượng; sự phối hợp giữa các cơ quan trong quá trình tiến hành thẩm tra còn chưa chặt chẽ; một số điều kiện đảm bảo cần thiết đối với hoạt động thẩm tra còn hạn chế, bất cập

III Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành hoạt động thẩm tra dự thảo luật, pháp lệnh

Thứ nhất, việc xem xét sự cần thiết ban hành văn bản luật, pháp lệnh và thứ tự ưu

tiên phải được làm rõ ngay từ khi lập Chương trình, có như vậy mới đáp ứng yêu cầu của công tác xây dựng pháp luật, bảo đảm tính khoa học, tính có căn cứ và khả thi của CTXDLPL đã được Quốc hội quyết định

Thứ hai, trong quá trình phân công thẩm tra dự án luật, pháp lệnh, điều đáng lưu ý

là trong nhiều luật, pháp lệnh thường chứa đựng những nội dung rất quan trọng về hoạt động quản lý nhà nước đối với từng lĩnh vực mà luật, pháp lệnh quy định và nội dung này có quan hệ mật thiết, không thể tách rời với pháp luật về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, đặc biệt là về phạm vi thẩm quyền quản lý nhà nước của từng cơ quan ở trung ương hoặc từng cấp chính quyền địa phương Trong trường hợp này, Ủy ban Pháp luật cho dù chỉ với tư cách là Ủy ban tham gia thẩm tra, song vẫn có một trách nhiệm lớn

và không thể thiếu trong việc cho ý kiến về những dự án luật, pháp lệnh do HĐDT, các

Ủy ban khác của Quốc hội thẩm tra

Thứ ba, thường trực HĐDT hoặc các Ủy ban của Quốc hội cần báo cáo và đề nghị

UBTVQH chưa đưa dự án đó vào chương trình kỳ họp Quốc hội hoặc phiên họp của UBTVQH; đồng thời yêu cầu cơ quan soạn thảo phải hoàn thiện các bước theo quy định của pháp luật và bảo đảm cung cấp đầy đủ các thông tin cần thiết trước khi tiến hành cuộc họp thẩm tra để trìnhQuốc hội, UBTVQH xem xét, quyết định

Thứ tư, nâng cao chất lượng của dự thảo và hồ sơ gửi thẩm tra Cơ quan soạn thảo

VBQPPL là cơ quan khởi động sáng kiến xây dựng pháp luật và đóng vai trò hết sức quan trọng trong quy trình lập pháp, lập quy Việc nâng cao chất lượng dự thảo và rút ngắn thời gian chuẩn bị phần nhiều phụ thuộc vào cơ quan này Hoạt động thẩm tra sẽ

5

Trang 9

thuận lợi hơn nếu hồ sơ trình dự thảo Luật, pháp lệnh đáp ứng được yêu cầu về hình thức, nội dung

Thứ năm, tiếp tục hoàn thiện pháp luật liên quan đến hoạt động thẩm tra dự thảo

Luật, pháp lệnh Hiện nay, hệ thống pháp luật về hoạt động thẩm tra dự thảo VBQPPL đã tương đối đồng bộ Tuy nhiên, thực tế việc thực hiện những quy định này còn gặp những khó khăn vì vậy, cần tiếp tục sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật liên quan đến vấn

đề này

Thứ sáu, củng cố và tăng cường chất lượng thẩm tra VBQPPL Chất lượng công

tác thẩm tra lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan, chủ quan Chất lượng thẩm tra không phải lúc nào cũng đáp ứng được yêu cầu nên có một số văn bản ở cấp độ cao như luật, pháp lệnh vừa mới ban hành đã phải đặt ra vấn đề sửa đổi, bổ sung Để khắc phục tình trạng này, cần tăng cường các cơ quan thẩm tra của Quốc hội; có cơ chế thu hút sự tham gia của các tổ chức xã hội, các công ty luật và các nhà chuyên môn, nhà khoa học vào công tác này Qua đó, kết quả thẩm tra sẽ bảo đảm tính khách quan, độc lập, khoa học, có sức thuyết phục cao

Câu 2 (5 điểm) Với tư cách là cơ quan tiến hành thẩm định, anh (chị) hãy

phát biểu về sự cần thiết ban hành Nghị định quy định về quản lý các trang mạng

xã hội.

I Cơ sở thực tiễn

1 Hiện trạng

Những năm gần đây, mạng xã hội đã phát triển mạnh mẽ, thu hút đông đảo người dùng Internet trong nước sử dụng, đặc biệt là hai mạng xã hội của nước ngoài cung cấp xuyên biên giới vào Việt Nam là Facebook và Youtube Sự phát triển của mạng xã hội đã

có những tác động cả tiêu cực và tích cực đối với đời sống xã hội Thời gian gần đây xuất hiện hiện tượng một số đối tượng đã lợi dụng các tính năng của mạng xã hội như: phát sóng trực tuyến (livestream), chia sẻ hình ảnh, video clip, trao đổi theo nhóm… để đăng tải những nội dung vi phạm pháp luật, trong đó chủ yếu là hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của các tổ chức, cá nhân khác; sử dụng ngôn ngữ phản cảm,

vi phạm thuần phong mỹ tục; tung tin giả, tin sai sự thật; quảng cáo, kinh doanh dịch vụ trái phép gây bức xúc trong dư luận xã hội, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội

6

Trang 10

Năm 2020, Google thống kê Việt Nam đứng tốp 10 các nước có số lượng thông tin

vi phạm chính sách bị yêu cầu xử lý Đặc biệt, việc các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội, chống đối chính trị đã và đang triệt để lợi dụng internet, mạng xã hội để thực hiện các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, đặt công tác quản lý thông tin trên mạng, định hướng dư luận ở nước ta đứng trước rất nhiều khó khăn, thách thức.3

2 Hậu quả

Thứ nhất, việc không quản lý chặt chẽ các trang mạng xã hội sẽ tạo kẽ hở cho một

bộ phận người sử dụng đăng tải, bình luận, chia sẻ nội dung sai sự thật, kém văn minh, nói, viết thiếu văn hóa, lợi dụng mạng xã hội để tung hô mình, kích động điều xấu, xâm phạm nghiêm trọng quyền nhân thân của người khác …

Thứ hai, sự gia tăng của những tin độc, tin giả, thông tin thất thiệt, sai sự thật trên mạng xã hội không chỉ ảnh hưởng tới sự phát triển, hình thành nhân cách, đạo đức xã hội; xâm phạm đến danh dự, uy tín, lợi ích kinh tế của cá nhân, tổ chức mà nó còn gây nên những tác động tiêu cực trong dư luận xã hội, gia tăng tội phạm, mất trật tự an ninh

xã hội; làm giảm uy tín của Nhân dân đối với một bộ phận cán bộ, đảng viên và của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa

Thứ hai, lợi dụng những ưu thế của không gian mạng, các thế lực thù địch đã thực

hiện các hoạt động tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam bằng việc phát tán thông tin bịa đặt, độc hại, những phát ngôn gây hận thù lan truyền rộng khắp, mức độ tác động xấu đến xã hội ngày càng nghiêm trọng Điều nguy hại nhất của MXH là yếu tố kích động xã hội Từ những thông tin thất thiệt, bịa đặt, vu khống về các sự việc được lan truyền có chủ ý trên MXH mà không được kiểm chứng, các thế lực thù địch lợi dụng tâm

lý đám đông để kích động những hành vi bột phát của công chúng nhằm phục vụ cho mưu đồ gây rối loạn trật tự chính trị xã hội, như ở Bình Dương, Hà Tĩnh và một số địa phương khác khi xảy ra sự cố ô nhiễm môi trường biển do Công ty Formosa gây ra (năm 2016); hay tình trạng tụ tập gây bạo loạn ở Bình Thuận, Khánh Hòa và một số địa phương khác khi Quốc hội lấy ý kiến góp ý về Luật Đặc khu (năm 2018)

3 Nguyên nhân

Thứ nhất, do đặc thù phát triển quá nhanh của công nghệ, của các dịch vụ, nội

dung thông tin trên MXH nên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành đã bộc lộ

3 https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/dau-tranh-phan-bac-cac-luan-dieu-sai-trai-thu-dich/chi-tiet/-/ asset_publisher/YqSB2JpnYto9/content/su-phat-trien-cua-mang-xa-hoi-va-kha-nang-ung-dung-cac-loi-the-tien-ich-cua-mang-xa-hoi-trong-cong-tac-thong-tin-tuyen-truyen-o-viet-nam

7

Ngày đăng: 04/09/2023, 15:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Trường Đại học Luật Hà Nội (2019), Hội thảo khoa học Góp ý dự thảo Giáo trình Kỹ năng thẩm định, thẩm tra dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.3. Hiến pháp năm 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo khoa học Góp ý dự thảo Giáo trình Kỹ năng thẩm định, thẩm tra dự thảo văn bản quy phạm pháp luật
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Năm: 2019
1. Trường Đại học Luật Hà Nội (2022), Giáo trình Kỹ năng thẩm định, thẩm tra văn bản quy phạm pháp luật Khác
7. Nghị định số 72/2013/NĐ-CP của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 27/2018/ NĐ-CP) Khác
8. Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 25/12/2013 của Bộ Chính trị về phát triển và tăng cường quản lý báo chí điện tử, mạng xã hội và các loại hình truyền thông khác trên Internet Khác
9. Công văn 1800/BTTTT-PTTH&TTĐT ngày 28/5/2021 của Bộ thông tin và truyền thông về tăng cường quản lý, xử lý thông tin vi phạm trên mạng xã hội Khác
10.Quyết định số: 874/QĐ-BTTTT ngày 17/6/2021 của Bộ thông tin và truyền thông về việc ban hành bộ quy tắc ứng xử trên mạng xã hội Khác
w