1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Bài tập môn kỹ năng thẩm định, thẩm tra dự thảo văn bản quy phạm pháp luật

17 28 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài tập môn kỹ năng thẩm định, thẩm tra dự thảo văn bản quy phạm pháp luật
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Kỹ năng thẩm định, thẩm tra dự thảo văn bản quy phạm pháp luật
Thể loại Bài tập
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 342,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài tập môn kỹ năng thẩm định, thẩm tra dự thảo văn bản quy phạm pháp luật BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI TẬP HỌC KỲ MÔN KỸ NĂNG THẨM ĐỊNH, THẨM TRA DỰ THẢO VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT Hà Nội, 2022 0 HỌ VÀ TÊN MSSV LỚP N – TL NHÓM 0 lOMoARcPSD|15978022 htt.

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÀI TẬP HỌC KỲ

MÔN: KỸ NĂNG THẨM ĐỊNH, THẨM TRA

DỰ THẢO VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

Hà Nội, 2022

0

Trang 2

MỤC LỤC

ĐỀ BÀI 1

BÀI LÀM 1

I CÂU 1 1

1 Nội dung hoạt động thẩm tra dự thảo luật, pháp lệnh 1

a Khái niệm hoạt động thẩm tra dự thảo luật, pháp lệnh 1

b Chủ thể của hoạt động thẩm tra dự thảo luật, pháp lệnh 2

c Nội dung thẩm tra dự thảo luật dự thảo Luật, pháp lệnh 2

d Trình tự, thủ tục thẩm tra dự thảo luật, pháp lệnh 2

2 Đánh giá thực trạng và kiến nghị hoàn thiện các quy định về thẩm tra dự thảo luật, pháp lệnh 4

II Câu 2 6

1 Cơ sở chính trị 6

2 Cơ sở pháp lý 7

3 Cơ sở thực tiễn 8

4 Kết luận 9 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC BÁO CÁO THẨM ĐỊNH NGHỊ ĐỊNH QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ CÁC TRANG MẠNG XÃ HỘI

Trang 3

ĐỀ BÀI

Câu 1 (5 điểm) Phân tích nội dung hoạt động thẩm tra dự thảo Luật,

pháp lệnh Đánh giá thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Câu 2 (5 điểm) Với tư cách là cơ quan tiến hành thẩm định, anh (chị)

hãy phát biểu về sự cần thiết ban hành Nghị định quy định về quản lý các trang mạng xã hội

BÀI LÀM

I CÂU 1

1 Nội dung hoạt động thẩm tra dự thảo luật, pháp lệnh

a Khái niệm hoạt động thẩm tra dự thảo luật, pháp lệnh

Theo Từ điển Luật học, thẩm tra “là việc xem xét lại kỹ lưỡng dự án

luật, pháp lệnh do Hội đồng dân tộc (HĐDT), Ủy ban pháp luật hoặc một ủy ban hữu quan của Quốc hội hay một ủy ban lâm thời được Quốc hội chỉ định tiến hành trước khi trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) Cơ quan thẩm tra xem xét cả về hình thức và nội dung nhưng tập trung chủ yếu vào xem xét sự phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng, tính hợp hiến, hợp pháp; đối tượng; nội dung; phạm vi và tính khả thi của dự án”.1

Từ đó, có thể hiểu thẩm tra dự thảo luật, pháp lệnh được hiểu là hoạt động

của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội tiến hành xem xét, đánh giá nội dung, chính sách pháp luật, hình thức của dự án, dự thảo VBQPPL và kỹ thuật pháp lý, nhằm đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ và tính khả thi của dự thảo văn bản trước khi trình Quốc hội, UBTVQH thảo luận, cho ý kiến

Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội có trách nhiệm chủ trì thẩm tra dự

án, dự thảo thuộc lĩnh vực do mình phụ trách và dự án, dự thảo khác do Quốc hội, UBTVQH giao, gửi văn bản tham gia thẩm tra đến cơ quan chủ trì thẩm tra

và cử đại diện tham dự phiên họp thẩm tra của cơ quan chủ trì thẩm tra.2

1

Bộ Tư Pháp - Viện Khoa Học Pháp Lý (2009), Từ điển Luật học, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr.612.

2

Khoản 1 Điều 63 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

1

Trang 4

b Chủ thể của hoạt động thẩm tra dự thảo luật, pháp lệnh

Hội đồng Dân tộc và các ủy ban của Quốc hội, tiến hành thẩm tra đối với: dự án luật, nghị quyết của Quốc hội; dự án pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội có trách nhiệm chủ trì thẩm tra dự án, dự thảo thuộc lĩnh vực do mình phụ trách và dự án, dự thảo khác do Quốc hội, UBTVQH giao; tham gia thẩm tra dự án, dự thảo do cơ quan khác của Quốc hội chủ trì thẩm tra theo sự phân công của UBTVQH

c Nội dung thẩm tra dự thảo luật dự thảo Luật, pháp lệnh

Nội dung thẩm tra tập trung vào các vấn đề sau đây: Phạm vi, đối tượng điều chỉnh của văn bản; Nội dung của dự thảo văn bản và những vấn đề còn

có ý kiến khác nhau; việc giao và chuẩn bị văn bản quy định chi tiết (nếu có);

Sự phù hợp của nội dung dự thảo văn bản với chủ trương, đường lối của Đảng; tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của dự thảo văn bản với

hệ thống pháp luật; tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; Tính khả thi của các quy định trong dự thảo văn bản; Điều kiện bảo đảm về nguồn nhân lực, tài chính

để bảo đảm thi hành văn bản quy phạm pháp luật; Việc bảo đảm chính sách dân tộc, lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự thảo văn bản, nếu dự thảo văn bản có quy định liên quan đến vấn đề dân tộc, bình đẳng giới và ngôn ngữ, kỹ thuật và trình tự, thủ tục soạn thảo văn bản

Trong trường hợp cần thiết, cơ quan thẩm tra yêu cầu cơ quan trình dự

án, dự thảo báo cáo về những vấn đề liên quan đến nội dung dự án, dự thảo

d Trình tự, thủ tục thẩm tra dự thảo luật, pháp lệnh

Bước 1: Phân công thẩm tra dự thảo luật, pháp lệnh

UBTVQH phân công thẩm tra dự án luật, pháp lệnh cho HĐDT, từng Ủy ban của Quốc hội theo quy định

Bước 2: Gửi dự thảo luật, pháp lệnh

Đối với dự án, dự thảo trình UBTVQH thì chậm nhất là 20 ngày trước ngày bắt đầu phiên họp UBTVQH và chậm nhất là 30 ngày trước ngày khai

Trang 5

mạc kỳ họp Quốc hội đối với dự án, dự thảo trình Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo phải gửi hồ sơ quy định tại khoản 1 Điều 64 Luật ban hành VBQPPL đến cơ quan chủ trì thẩm tra, Ủy ban pháp luật, Hội đồng dân tộc, Ủy ban về các vấn đề xã hội và các Ủy ban khác để tiến hành thẩm tra, tham gia thẩm tra

Bước 3: Tổ chức thẩm tra

Cơ quan chủ trì thẩm tra phải tổ chức phiên họp toàn thể để thẩm tra; đối với dự án, dự thảo trình UBTVQH cho ý kiến trước khi trình Quốc hội thì có thể tổ chức phiên họp Thường trực Hội đồng dân tộc, Thường trực Ủy ban để thẩm tra sơ bộ

Tuy nhiên, trên thực tế, việc tổ chức cuộc họp thẩm tra được tiến hành bằng các phương thức linh hoạt hơn, theo các hình thức sau:

- Họp toàn thể HĐDT hoặc các Ủy ban chủ trì thẩm tra với sự tham gia của đại diện Thường trực Ủy ban hữu quan tại một địa điểm hoặc phân chia làm hai bộ phận tổ chức họp thẩm tra ở phía Bắc và phía Nam

- Họp chung giữa Thường trực Ủy ban chủ trì thẩm tra với đại diện Thường trực Ủy ban tham gia thẩm tra

- Họp Thường trực HĐDT hoặc Ủy ban chủ trì thẩm tra mở rộng bao gồm các thành viên trong Thường trực và một số thành viên khác không nằm trong Thường trực Ủy ban

- Họp Thường trực HĐDT hoặc Ủy ban chủ trì thẩm tra kết hợp gửi lấy ý kiến tất cả các thành viên của cơ quan chủ trì thẩm tra Bộ phận Thường trực tổng hợp ý kiến để xây dựng thành ý kiến thẩm tra của HĐDT hoặc Ủy ban.3

- Cá biệt, tổ chức họp toàn thể cơ quan chủ trì thẩm tra với toàn thể Ủy ban tham gia thẩm tra

Bước 4: Xây dựng báo cáo thẩm tra

Báo cáo thẩm tra phải thể hiện rõ quan điểm của cơ quan thẩm tra về những vấn đề thuộc nội dung thẩm tra quy định tại Điều 65 của Luật Ban

3

Nguyễn Đình Quyền, Đinh Thanh Hương (2018), Việc tổ chức thẩm tra dự án luật, dự án pháp lệnh của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Tạp

chí Nghiên cứu Lập pháp, Số 21(373)-tháng 11/2018, Hà Nội, tr.46.

3

Trang 6

hành VBQPPL đề xuất những nội dung cần sửa đổi, bổ sung Báo cáo thẩm tra phải phản ánh đầy đủ ý kiến của thành viên cơ quan chủ trì thẩm tra, ý kiến của cơ quan tham gia thẩm tra về nội dung dự án, dự thảo; về việc dự án,

dự thảo đủ hoặc chưa đủ điều kiện trình UBTVQH, Quốc hội

Trong trường hợp cơ quan chủ trì thẩm tra có ý kiến dự án, dự thảo chưa

đủ điều kiện trình UBTVQH, Quốc hội thì báo cáo UBTVQH xem xét trả lại

hồ sơ cho cơ quan trình dự án, dự thảo để tiếp tục chỉnh lý, hoàn thiện dự án,

dự thảo

Bước 5: Gửi báo cáo thẩm định

Chậm nhất là 20 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Quốc hội hoặc trước ngày bắt đầu phiên họp UBTVQH, báo cáo thẩm tra về dự án, dự thảo được gửi bằng bản giấy đến các đại biểu Quốc hội hoặc các thành viên UBTVQH, các tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử

2 Đánh giá thực trạng và kiến nghị hoàn thiện các quy định về thẩm tra dự thảo luật, pháp lệnh

Một là, về chuẩn bị cuộc họp thẩm tra Khoản 4 Điều 63 Luật Ban hành

VBQPPL năm 2015 quy định, cơ quan thẩm tra có quyền yêu cầu cơ quan, tổ

chức, ĐBQH trình dự án, dự thảo báo cáo, giải trình, cung cấp thông tin, tài

liệu về những vấn đề liên quan đến nội dung của dự án, dự thảo; tự mình hoặc

cùng cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo tổ chức hội thảo, khảo sát về những vấn đề thuộc nội dung của dự án, dự thảo Quá trình thực hiện quy định này cho thấy, trong một số trường hợp, dự án luật, pháp lệnh đã được trình Quốc hội, UBTVQH và đưa vào chương trình kỳ họp Quốc hội, phiên họp của UBTVQH, nhưng lại thiếu các thông tin, tư liệu cần thiết và trong nhiều trường hợp, các thông tin này lại mang ý nghĩa quyết định cho việc thẩm tra của HĐDT, các Ủy ban của Quốc hội Thực tế cho thấy, khi chưa có đủ thông tin, tư liệu cần thiết, nhất là ý kiến của các cơ quan có liên quan tới nội dung quy định của dự án luật, pháp lệnh mà theo yêu cầu vẫn phải tiến hành thẩm

Trang 7

tra, thì việc xử lý các hậu quả sau đó gặp không ít khó khăn, tốn nhiều thời gian và như vậy thường là phải thẩm tra lại

Đề nghị trong trường hợp này, Thường trực HĐDT hoặc các Ủy ban của Quốc hội cần báo cáo và đề nghị UBTVQH chưa đưa dự án đó vào chương trình kỳ họp Quốc hội hoặc phiên họp của UBTVQH; đồng thời yêu cầu cơ quan soạn thảo phải hoàn thiện các bước theo quy định của pháp luật và bảo đảm cung cấp đầy đủ các thông tin cần thiết trước khi tiến hành cuộc họp thẩm tra để trình Quốc hội, UBTVQH xem xét, quyết định

Hai là, về các phương thức tổ chức cuộc họp thẩm tra dự án luật, pháp

lệnh Như phân tích ở bước 3 của mục I.1.d thì trên thực tế việc tổ chức phiên

họp thẩm tra của HĐDT, các Ủy ban của Quốc hội vượt ra ngoài các phương thức được quy định tại Điều 66 Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 Sở dĩ có tình trạng trên là do hầu hết các thành viên của HĐDT, các Ủy ban của Quốc hội làm việc theo chế độ không chuyên trách, lại cư trú, công tác tại nhiều địa phương dẫn đến việc tổ chức họp toàn thể HĐDT hoặc Ủy ban thường xuyên

để thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh gặp rất nhiều khó khăn

Đề nghị cần xem xét và có phương án khắc phục trong hoạt động của HĐDT, các Ủy ban của Quốc hội trong họp thẩm tra, nhất là đối với các dự án luật, pháp lệnh phải trình và thẩm tra nhiều lần Đối chiếu với nguyên tắc làm việc theo chế độ tập thể và quyết định theo đa số.4

Ba là, việc tổ chức phối hợp thẩm tra của HĐDT, các Ủy ban của Quốc hội cũng đặt ra những vấn đề cần nghiên cứu làm rõ, rút kinh nghiệm Trên

thực tế, việc tham gia thẩm tra của HĐDT hoặc các Ủy ban hữu quan thường chỉ do đại diện của bộ phận Thường trực tham gia và phát biểu ý kiến, thậm chí trong một số trường hợp chỉ ý kiến cá nhân của các thành viên trong Thường trực hoặc chỉ là sự tham gia của chuyên viên nghiên cứu của các cơ quan này Theo quy định của pháp luật, trong quá trình thẩm tra, HĐDT, Ủy ban tham gia thẩm tra có thể gửi ý kiến của mình cho Ủy ban chủ trì thẩm tra Tuy nhiên, thực tế cho thấy, HĐDT và các Ủy ban của Quốc hội làm việc này

4

Khoản 1 Điều 66 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2015.

5

Trang 8

cũng chưa nhiều; một số ít trường hợp có gửi ý kiến bằng văn bản đến cơ quan chủ trì thẩm tra những cũng chỉ là ý kiến của Thường trực hoặc đại diện Thường trực

Như vậy, rõ ràng là giữa quy định của pháp luật và thực tiễn vẫn còn có khoảng cách, hay tính khả thi của các quy định hiện hành còn hạn chế Đây cũng là một vấn đề cần được khắc phục trong công tác tổ chức cũng như xem xét lại tính khả thi các quy định của pháp luật

Bốn là, về thời hạn tiến hành thẩm tra Trước tiên, Luật Ban hành

VBQPPL mặc dù có quy định tương đối cụ thể về thời hạn gửi hồ sơ yêu cầu thẩm tra và thời hạn phải trình hồ sơ sau khi thẩm tra lên chủ thể có thẩm quyền xem xét thông qua dự án, dự thảo, tuy nhiên đối với trường hợp thẩm tra một dự án luật, thời hạn 10 ngày là quá ít để xem xét một dự án quan trọng, có tầm ảnh hưởng rộng lớn, tác động đến rất nhiều đối tượng trong xã hội Có thể chúng ta cho rằng, vấn đề quy định về thời hạn chỉ là kỹ thuật, nhưng trên thực tế, đây là vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của hoạt động thẩm tra Với thời hạn được quy định, chất lượng của các báo cáo thẩm tra khó có thể đảm bảo

Đề xuất cần phải nghiên cứu và đưa ra quy định về thời hạn thẩm tra phù hợp hơn, đảm bảo cho các chủ thể có thể hoàn thành khối lượng công việc nhiều và phức tạp với chất lượng hiệu quả

II Câu 2

1 Cơ sở chính trị

Quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về quản lý mạng xã hội đã thể hiện rõ, nhất quán, có hệ thống và phù hợp với từng thời kỳ, kịp thời điều chỉnh, đưa ra các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo về vấn đề quản lý mạng xã hội trong tình hình mới Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật chính là nhằm thể chế hóa đầy đủ, kịp thời chủ trương, đường lối của Đảng về quản lý mạng xã hội được nêu tại một số văn bản như:

Trang 9

Chỉ thị số 46-CT/TW của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm an ninh trật tự trong tình hình mới, trong đó khẳng định vấn đề an ninh mạng đang là vấn đề rất phức tạp, cần được chú trọng giải quyết đồng bộ, hiệu quả Chỉ thị số 28-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Chỉ thị số 15-CT/TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác bảo đảm an toàn thông tin mạng; Chỉ thị số 30-CT/TW của

Bộ Chính trị ban hành về phát triển và tăng cường quản lý báo chí điện tử, mạng xã hội và các loại hình truyền thông khác trên Internet Nghị định 101/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết trách nhiệm thực hiện và các biện pháp ngăn chặn hoạt động sử dụng không gian mạng để khủng bố

2 Cơ sở pháp lý

Để quản lý hoạt động của mạng xã hội, trong những năm qua, Việt Nam từng bước xây dựng, hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động Internet nói chung và mạng xã hội nói riêng như: Luật An toàn thông tin mạng năm 2015; Nghị định số 72/2013/NĐ-CP của Chính phủ, quy định về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch

vụ Internet và thông tin trên mạng; Nghị định số 174/2013/NĐ-CP của Chính phủ, quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện; Thông tư số 09/2014/TT-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông, quy định chi tiết về hoạt động quản lý, cung cấp, sử dụng thông tin trên trang thông tin điện tử và mạng xã hội; Thông tư số 38/2016/TT-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông, quy định về việc cung cấp thông tin công cộng qua biên giới bảo đảm môi trường pháp lý bình đẳng, minh bạch, phù hợp với yêu cầu thực tiễn Các văn bản trên tập trung yêu cầu các tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng xã hội chủ động rà soát toàn bộ hoạt động cung cấp dịch vụ của mình, nâng cao trách nhiệm quản lý thông tin trên mạng xã hội do mình cung cấp

Tuy nhiên, do tính chất thay đổi thường xuyên, phát triển liên tục của Internet nên một số quy định, chính sách hiện hành đã trở nên bất cập; nhiều

7

Trang 10

vấn đề mới xuất hiện đặt ra các yêu cầu quản lý mới, đòi hỏi Chính phủ phải nhanh chóng điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm quản lý hiệu quả hơn đối với việc quản lý các mạng xã hội

3 Cơ sở thực tiễn

Ngày nay, mạng xã hội trở thành nơi cung cấp tin tức, kiến thức về tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Qua đó giúp người sử dụng nắm bắt được các xu thế của đời sống phục vụ cho công việc và cuộc sống của mình Bên cạnh đó, trên mạng xã hội có nhiều trang dạy kỹ năng sống như ngoại ngữ, nấu ăn, sửa chữa, giao tiếp, tâm lý, thể thao… giúp người dùng có những kỹ năng cơ bản cần thiết trong cuộc sống hiện đại mà không cần đến lớp hay đóng học phí

Mạng xã hội cho phép người dùng có thể kết nối, tương tác với bạn bè, gia đình, cộng đồng ngày một thuận tiện hơn Người dùng có thể dễ dàng chia

sẽ tình cảm, niềm vui, nổi buồn… với cộng đồng Sự tham gia của cá nhân vào các công việc chung của cộng đồng cũng được thúc đẩy Thực tế từ khi mạng xã hội phát triển, việc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” được thực hiện sinh động hơn Công tác xã hội như cứu trợ thiên tai, xóa đói giảm nghèo… có nhiều khởi sắc Các hình thức kinh doanh online trên mạng xã hội của cá nhân và doanh nghiệp ngày càng phát triển, mang tính chuyên nghiệp.5 Bên cạnh mặt tích cực, mạng xã hội cũng tồn tại không ít những yếu tố tiêu cực, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường xã hội, lợi ích cộng đồng và an

ninh trật tự Trong những năm qua, một bộ phận người dùng đã sử dụng Mạng

xã hội vào các hoạt động tuyên truyền phá hoại tư tưởng của Đảng, tuyên truyền xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, lợi dụng chiêu bài phản biện xã hội, đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, bảo vệ môi trường… để đăng tải những bài viết có thông tin sai lệch, không được kiểm chứng, suy diễn xuyên tạc, từ đó kết luận các chủ trương, chính sách đó là sai lầm và đòi xóa bỏ

Ngày đăng: 27/01/2023, 09:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w