1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hệ thống bài tập môn thẩm định dự án đầu tư

31 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với các sản phần dầu thô đã qua quá trình chưng cất đơn giản, các nhà lọc dầu cũng còn sử dụng thêm hàng loạt nguyên vật liệu đặc biệt khác một phần dầu đã được lọc hoặc những yếu tố

Trang 1

BÀI TẬP THAM KHẢO THIẾT LẬP VÀ THẨM ĐỊNH DỰ ÁN

ĐẦU TƯ

Trang 2

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH PHI TÀI CHÍNH

NGHIÊN CỨU TÌNH HUỐNG 01:

NHÀ MÁY LỌC DẦU DUNG QUẤT

Những điều cơ bản về nhà máy lọc dầu

Lọc dầu là một chuỗi quá trình phức tạp tạo ra sản phẩm dầu cuối cùng từ dầu thô Dầu thô là một hỗn hợp phức tạp của các hydrocarbons, các hydrocarbons này có điểm sôi và sự phân bố trọng lượng phân

tử khác nhau Quá trình lọc dầu bắt đầu với việc dầu thô được làm cho bóc hơi trong các tháp chưng cất, trong điều kiện áp suất và nhiệt độ cao cho các yếu tố khác nhau có thể được thu hồi khi đạt tới điểm sôi

Những sản phẩm nhẹ hơn – khí lỏng (LPG), napththa, và xăng được làm cho bốc hơi ở nhiệt độ thấp hơn trong tháp và được lấy ra từ đỉnh tháp Những sản phẩm nặng hơn bao gồm dầu máy bay, dầu hỏa, dầu diesel và các dầu khí nặng bốc hơi ở nhiệt độ trung bình của tháp Những sản phẩm nặng nhất (dầu cặn còn lại) được rút ra từ đấy của tháp, đôi khi ở nhiệt độ hơn 1000 độ F Đôi khi cũng cần tinh lọc thêm để biến các sản phẩm nặng hơn thành các sản phẩm nhẹ hơn, hoặc tạo ra các hỗn hợp sản phẩm mà thị trường yêu cầu Các quá trình lọc dầu gồm xử l{ nước, cracking, refining, và alkyl hóa

Đối với các sản phần dầu thô đã qua quá trình chưng cất đơn giản, các nhà lọc dầu cũng còn sử dụng thêm hàng loạt nguyên vật liệu đặc biệt khác (một phần dầu đã được lọc hoặc những yếu tố hỗn hợp bao gồm các sản phẩm oxy hóa) để tạo ra những hỗn hợp sản phẩm mong muốn

Việc lọc dầu đòi hỏi những vùng rộng lớn hơn là gần các mỏ dầu do chi phí vận chuyển dầu thô tới các nhà máy lọc dầu rẻ hơn so với chi phí vận chuyển sản phẩm tới thị trường Gần với thị trường tiêu thụ cũng giúp cho các nhà lọc dầu dễ dàng điều chỉnh các kế hoach sản xuất phù hợp với những thay đổi nhu cầu theo mùa Điều này lý giải tại sao năng lực lọc dầu tập trung nhiều nhất ở Hoa Kz, Châu Âu hoặc Châu Á Hầu hết các nhà máy lọc dầu được xây dựng trước hết là đáp ứng nhu cầu của địa phương, song đôi khi cũng tham gia vào xuất khẩu để cân đối cung cầu Một trường hợp ngoại lệ đáng chú { là Singapore nơi mà các nhà máy lọc dầu được xây dựng để xuất khẩu xuất phát từ hiệu năng của nhà máy

và vị trí thuận tiện của cảng

Chênh lệch giữa giá dầu thô và chênh lệch do chế biến

Các chuyên gia dầu khí sử dụng các biến khác nhau để đo lường mức độ lợi nhuện được tạo ra trên một thùng dầu thô đã chế biến Các biến này khác nhau theo những khoản mục được đưa vào và loại trừ trong tính toán doanh thu và các chi phí của quá trình lọc dầu

Chênh lệch giữa giá dầu thô và giá dầu lọc (crack spread) là sự khác biệt giữa giá bán buôn các sản phẩm dầu được bán tại cổng nhà máy và giá dầu thô được đưa tới nhà máy Chênh lệch này chỉ tính tới chi phí dầu thô và loại trừ các chi phí khác xảy ra trong quá trình lọc dầu

Chênh lệch do chế biến (refining margin) tương tự như crack spread nhưng tính tới toàn bộ doanh thu

từ sản phẩm và chi tiêu cho nguyên liệu đầu vào và toàn bộ các chi phí vận hành trong quá trình lọc dầu Chi phí nguyên liệu ngoài dầu thô còn tính đến các nguyên vật liệu khác như MTBE (một loại chất phụ gia cho xăng), butane… Giá dầu thô là yếu tố quan trọng nhất xác định chênh lệch do chế biến vì chiếm tỷ trọng lớn nhất trong chi phí nguyên liệu đầu vào Do vậy, trong thời kz giá dầu thô ở mức cao, nhu cầu

về các sản phẩm dầu ít thay đổi, chênh lệch do chế biến rất nhỏ, đôi khi còn âm

Ngành lọc dầu những năm 2000s

Thị trường dầu khí Châu Á

Trang 3

Nhu cầu dầu dự đoán là sẽ rất cao khi khu vực hồi phục từ cuộc khủng hoảng tài chính Kz vọng về sự tăng trưởng kinh tế cao ở Châu Á làm gia tăng nhu cầu đối với các sản phẩm dầu, đặc biệt là ngành giao thông, năng lượng, ngành điện và các ngành công nghiệp khác, và cho ngành xây dựng Châu Á vượt Châu Âu và là trung tâm lọc dầu lớn thứ hai thế giới, chỉ sau Bắc Mỹ Các quốc gia có năng lực lọc dầu lớn như Nhất Bản, Singapore, Ấn Độ, Malaysia, Trung Quốc và Hàn quốc

Nhật Bản có năng lực 5 triệu thùng/ngày với 35 nhà máy Do việc tiêu dùng các sản phẩm dầu ở Nhật Bản bị định đốn, các ngành công nghiệp dầu khí của đất nước này những hậu quả của năng lực dư thừa Singapore với tổng năng lực lọc dầu khoảng 1,255 triệu thùng/ngày Do khủng hoảng tài chính ở Châu Á làm suy giảm nhu cầu các sản phẩm dầu nội địa cộng với việc mở rộng xây dựng các nhà máy lọc dầu mới ở Ấn Độ và Malaysia làm giảm nhu cầu nhập khẩu các sản phẩm dầu từ Singapore đã tác động tiêu cực đến ngành lọc dầu của Singapore Tỷ lệ lãi tại trung tâm lọc dầu Singapore rất thấp khoảng 2 USD/thùng nhưng họ vẫn có lời do vận hành trên qui mô lớn Các nhà máy có chi phí thấp hơn

Một câu chuyện hoàn toàn khác với các nhà máy lọc dầu ở Hàn Quốc Mặc dù nền kinh tế nội địa phát triển chậm, nhu cầu dầu khí rất thấp, các qui định của chính phủ được nới lỏng và việc siết chặt các qui định về sản phẩm làm cho các nhà lọc dầu địa phương hưởng được chênh lệch do chế biến đến 9 USD/thùng bằng việc quyết định của chính phủ chuyển toàn bộ sự tăng lên của giá dầu thô sang cho người tiêu dùng gánh chịu

Ấn độ chuyển từ nhà nhập khẩu sang xuất khẩu dầu khí và các sản phẩm từ dầu khí khác Nhà máy lọc lớn nhất Ấn Độ là RPL (Reliance Petroleum) dự kiến mở rộng năng lực từ 540.000 lên 900.000 thùng/ngày và phải chi 1 tỷ USD để đầu tư , khoản chi phí chỉ bằng một nữa so với chi phí cần thiết để xây dựng một nhà máy lọc dầu mới do năng lực lọc dầu khổng lồ của nhà máy

Thị trường dầu khí ở Việt Nam

Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam dự báo khoảng 7.5% năm Để đáp ứng mục tiêu tăng trưởng, việc cung ứng dầu sẽ phải tăng trưởng 50% Nhu cầu dầu sẽ tăng gấp 3 lần đạt khoảng 15-17 triệu tấn hàng năm và việc sử dụng khí tự nhiên đạt tới khoảng 7,5 triệu m3/năm vào thập kỷ tới Để đạt mục tiêu này, các khoản đầu tư hàng năm cho việc thăm dò sẽ đạt tới 120-170 triệu USD Những khoản đầu tư cần thiết cho khai thác dầu và khí ít nhất là 600 triệu USD Để đầu tư nhà máy lọc dầu cần khoảng 1,1 đến 2,3 tỷ USD Cộng thêm các khoản đầu tư cần thiết khác để có công nghệ hiện đại nhất, tổng đầu tư cho ngành năng lượng sẽ cần khoảng 1 tỷ USD

Việt Nam có tiềm năng trở thành nhà cung cấp khí đốt tự nhiên và cung cấp dầu cho vùng Hiện tại đất nước có trữ lượng được chứng minh là 600 triệu thùng và việc khai thác dầu tho đang phát triển rất nhanh, đạt tới 160.000 thùng/ngày vào năm 2000 Việt Nam hiện không có một nhà máy lọc dầu nào, do vậy dầu thô hầu hết được khai thác để xuất khẩu chủ yếu cho Nhật Bản, Singapore và Hàn Quốc Thu ngoại tệ từ xuất khẩu dầu thô đạt 1,4 tỷ USD vào năm 2000 và cũng nhập khẩu sản phẩm dầu với 0,9 tỷ USD, chiếm 16% tổng số nhập khẩu Nhu cầu nhập khẩu dầu mỏ, thép, xe hơi và hóa chất là nhân tố quan trọng làm cho Việt Nam nhập siêu 1,2 tỷ USD

Giá tiêu dùng các sản phẩm dầu mỏ của Việt Nam cao hơn giá nhập khẩu thế giới và bị kiểm soát bởi chính phủ Giá tối đa và giá bán lẻ được cố định dựa vào giá CIF của các sản phẩm dầu được nhập khẩu, cộng với chênh lệch phân phối và thuế Chính phủ qui định thuế xuất 4% cho việc xuất khẩu dầu thô và 20% cho các sản phẩm dầu nhập khẩu cho tiêu dùng nội địa

Tổng công ty dầu khí Việt Nam (PVN) phát hành trái phiếu để có được 300 triệu USD vào đầu năm 2002

và sẽ sử dụng khoản vay này để đầu tư vào một loạt các dự án dầu khí

Trang 4

Dự án nhà máy lọc dầu Dung Quất

Ý tưởng xây dựng nhà máy lọc dầu đầu tiên ở Việt Nam do PVN đưa ra vào năm 1992 với vị trí ở Bà Rịa – Vũng Tàu, thành phố dầu khí của Việt Nam và nằm liền kề TP.HCM

Năm 1993, tập đoàn dầu khí Total của Phát được chỉ định làm nghiên cứu khả thi dự án nhà máy lọc dầu đầu tiên của Việt Nam Total và PVN đồng ý thành lập liên doanh để xây dựng và vận hành nhà máy lọc dầu tại Bà Rịa – Vũng Tàu, cách mỏ Bạch Hổ 140 km Tổng chi phí đầu tư nhà máy với công suất 130.000 thùng/ngày sẽ vào khoảng 1,3 tỷ USD Vị trí nhà máy gần với nguồn dầu thô, chủ yếu từ khu mỏ Bạch Hổ

và gần với thị trường tiêu thụ là TP.HCM và vùng phụ cận (sử dụng hơn ½ lượng tiêu thụ xăng toàn quốc) Do vậy, theo tính toán của Total, dự án lọc dầu sẽ có khả năng đứng vững về tài chính

Tuy nhiên sau khi phên duyệt và chuẩn bị khởi công xây dựng thì dự án được Chính phủ yêu cầu phải chuyển địa điểm về khu công nghiệp Dung Quất tỉnh Quảng Ngãi Các nhà lãnh đạo Việt Nam cho rằng

dự án cần được đặt tại miền Trung, nơi mà nhiều khó khăn trong thu hút vốn đầu tư và đang tụt lại so vối các trung tâm kinh tế ở Hà Nội và Tp.HCM Đây là nền tản quan trọng để thúc đẩy sự phát triểu kinh

tế của khu vực miền Trung Cụ thể là việc đầu tư nhà máy lọc dầu sẽ kéo theo sự phát triển các ngành công nghiệp nặng, từ đó đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hóa của khu vực miền Trung

Tập đoàn Total cho rằng việc chuyển địa điểm sẽ tốn thêm 500 triệu USD chi phí đầu tư cho cơ sở hạ tầng so với địa điểm ban đầu Hơn nữa, nhà máy tại Dung Quất sẽ tốn chi phí lớn trong việc vận chuyển dầu thô từ khu mỏ Bạch Hổ đi 1000 km tới Quảng Ngãi Bên cạnh đó, thị trường tiêu thụ xăng dầu miền Trung chỉ chiếm 12% tổng cầu nội địa, phần lớn sản phẩm dầu sẽ phải vận chuyển 800 km lên khu vực xung quanh Hà Nội và 800 km xuống khu vực xung quanh Tp.HCM Nói tóm lại, chi phí sản xuất sẽ tăng lên ít nhất 5% Giá thành do vậy sẽ cao hơn giá nhập khẩu Vào năm 1995, Total chính thức rút lui khỏi

dự án

Vài tháng sau đó, tập đoàn LG của Hàn Quốc và Petronas của Malaysia đã nhảy vào thay thế Sau khi thực hiện nghiên cứu khả thi, tổ hợp các công ty này yêu cầu được trợ giá sản phẩm để dự án đứng vững được về mặt tài chính Tuy nhiên, chính phủ VN không đồng ý và sau 2 năm không đạt được kết quả gì, hai công ty này cũng tuyên bố bỏ cuộc

Trong đợt hồi sinh thứ 3 của dự án, Chính Phủ liên bang Nga chỉ định công ty dầu khí nhà nước Zarubezhneft hợp tác vơi Việt Nam trong triển khai nhà máy lọc dầu Dung Quất Liên doanh VietRoss giữa PVN (50%) và Zarubezhneft (50%) được thành lập vào 12/1998 Tổng vốn đầu tư được điều chỉnh

từ 1,3 lên 1,5 tỷ USD Dự kiến nhà máy được hoàn thiện vào năm 2001 và đi vào hoạt động năm 2002 Tổng công suất lọc dầu của nhà máy vẫn là 130.000 thùng/ngày, tương đương 6,5 triệu tấn/năm Tuy nhiên, do những bất đồng trong lựa chọn công nghệ đấu thầu cung cấp thiết bị không thể giải quyết được, đến năm 2001, Zarubezhneft quyết định rút khỏi Liên doanh VietRoss mặc dù vẫn tiếp tục tham gia là nhà thầu xây dựng bể chứa dầu thô Vào cuối năm 2002, Việt Nam đồng ý bồi thường 235 triệu USD, tương đương giá trị mà Zarubezhneft đã đầu tư vào liên doanh Tháng 2 năm 2003, liên doanh VietRoss chính thức giải thể PVN trở thành nhà đầu tư duy nhất vào nhà máy lọc dầu Dung Quất Đến năm 2005, nghiên cứu khả thi dự án lọc dầu Dung Quất được đưa ra quốc hội thảo luận Tháng 6, Chính phủ ký quyết định điều chỉnh dự án Tổng chi phí đầu tư được nâng lên từ 1,5 lên thành 2,501 tỷ USD

Công suất dự án vẫn là 130.000 thùng/ngày, tương đương 6,5 triệu tấn/năm Trong thời gian đầu, nguồn dầu thô sẽ là dầu ngọt Bạch Hổ Về dài hạn, nguồn dầu thô sẽ là hỗn hợp dầu ngọt Bạch Hổ và dầu chua nhập từ Trung Đông Cơ cấu sản phẩm của nhà máy lọc dầu gồm xăng không chì , nhiên liệu phản lực/dầu hỏa dân dụng, dầu Diesel động cơ, khí hóa lỏng LPG, dầu nhiên liệu F.O và propylene

PVN đưa ra hai nguyên nhân dẫn đến việc tăng chi phí đầu tư lên 1 tỷ USD trong khi qui mô dự án không thay đổi Thứ nhất, trong những năm 90 giá máy móc thiết bị lọc dầu thấp do không có dự án lọc dầu

Trang 5

lớn nào được đầu tư mới Trong thời gian quan, giá dầu tăng lên nhanh chóng dẫn đến việc các nhà đầu

tư đổ xô đi xây dựng nhà máy là cho giá máy móc thiết bị tăng lên Nguyên nhân thứ hai là do thay đổi thiết kế tổng thể Trong thiết kế ban đầu năm 1997, một trong những sản phẩm chính của nhà máy là xăng A83 và dầu Diesel công nghiệp Xăng A83 hiện nay không còn lưu hành và sản phẩm thay thế của nhà máy sẽ là A90/92/95 Diesel công nghiệp theo tính toán trước đây, là nhằm phục vụ các nhà máy nhiệt điện Đến nay các nhà máy nhiệt điện này đã chuyển sang dùng khí đốt

Về cơ cấu vốn, vốn chủ sở hữu của PVN bao gồm 226 triệu USD đã đầu tư và 800 triệu USD từ nguồn thu xuất khẩu dầu thô Phân chi phí đầu tư còn lại được tài trợ bằng nợ vay: 1 tỷ USD từ nguồn tín dụng đầu

tư phát triển, 250 triệu USD từ ngân hàng ngoại thương, 225 triệu từ khoản vay hợp vốn của ba ngân hàng thương mại quốc doanh (BIDV, Vietinbank và VBARD)

Nhà máy lọc dầu năm trong khu công nghiệp Dung Quất với các hạng mục công trình lớn là nhà máy chính, khu bể chứa dầu thô, khu bể chứa sản phẩm, hệ thống ống dẫn dầu thô, cảng xây dựng, cảng xuất sản phẩm, hệ thống phao rót dầu không bến, đường ống ngầm dưới biển và khu vực vòng quay tàu, đường vào nhà máy lọc dầu và nhà ở

Hợp đồng kỹ thuật mua thiết bị và xây dựng (EPC) cho nhà máy chính theo hình thức chìa khóa trao tay, nội dung quan trọng nhất, được ký kết với một tổ hợp các công ty Technip (Pháp), JGC (Nhật) và Technica (Tây Ban Nha) trị giá 1,5 tỷ USD

Dự án dự kiến hoàn thành năm 2008 và đi vào hoạt động năm 2009 Trong thời gian triển khai dự án lọc dầu Dung Quất (dự án lọc dầu số 1), Chính Phủ quyết định sẽ xây dựng thêm ba nhà máy lọc dầu nữa: nhà máy lọc dầu số 2 tại Nghi Sơn, Thanh Hóa, nhà máy lọc dầu số 3 tại Long Sơn, Bà Rịa- Vũng Tàu và nhà máy lọc dầu số 4 tại Nhơn Hội, Bình Định

Câu chuyện nhà máy lọc dầu Dung Quất sau khi đi vào hoạt động

Theo Vnexpress.vn, ngày 26/2/2016, có bài viết với tiêu đề: “Lọc dầu Dung Quất lỗ hơn một tỷ USD nếu không được ưu đãi”

Được xây dựng từ năm 2005 với định hướng làm thay đổi vị thế của Việt Nam, một nước chỉ chuyên xuất khẩu dầu thô trước đó, Nhà máy Lọc dầu Dung Quất được vận hành sau đó 4 năm với nguồn dầu thô chế biến từ mỏ Bạch Hổ Khi đó, tổng vốn đầu tư của dự án đã vượt 3 tỷ USD

Năm 2008, Công ty TNHH MTV Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR) được thành lập với 100% vốn góp của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PetroVietnam), mục đích là tiếp nhận và vận hành hoạt động sản xuất kinh doanh của Nhà máy Lọc dầu Dung Quất Bắt đầu từ 30/5/2010, Dung Quất chính thức chuyển sang giai đoạn vận hành thương mại

Trong một báo cáo gửi lên Chính phủ giữa năm 2015 của PetroVietnam, từ khi đi vào vận hành lỗ liên tục Năm 2010, công ty lỗ gần 3.200 tỷ đồng, năm 2011 lỗ gần 4.800 tỷ đồng Năm 2012, năm 2013 lần lượt lỗ trên 6.400 và 6.000 tỷ đồng Năm 2014 Lọc hóa dầu Bình Sơn lỗ 7.136 tỷ đồng Lũy kế từ khi đi vào vận hành thương mại, đơn vị này lỗ khoảng 27.600 tỷ đồng (tương đương khoảng 1,2 tỷ USD) Tuy nhiên, khoản ưu đãi giữ lại thuế nhập khẩu đã giúp giảm bớt lỗ cho Dung Quất, khi đơn vị này chỉ còn lỗ 1.300-3.000 tỷ đồng vào năm 2011 và 2012, trước khi có lãi gần 3.000 tỷ vào năm 2013 nhờ được giữ lại tới 8.856 tỷ đồng Năm 2014, doanh nghiệp cũng được giữ lại gần 7.200 tỷ đồng song do giá dầu thô lao dốc mạnh, công ty phải trích lập 1.900 tỷ đồng nên chỉ lãi gần 150 tỷ Như vậy, dù có ưu đãi nhưng Bình Sơn vẫn lỗ tổng cộng 1.048 tỷ đồng kể từ khi đưa vào vận hành Năm 2015, công ty thông báo lãi 6.000 tỷ đồng, song con số này cũng phần nhiều đến từ việc nhận ưu đãi thuế

Những ưu đãi được hưởng

Trang 6

Cơ chế ưu đãi cho Dung Quất được đánh giá là rất lớn Tháng 11/2009, Chính phủ đã ban hành quyết định cho phép Lọc hóa dầu Bình Sơn được giữ lại số tiền tương đương 3% thuế nhập khẩu mỗi năm đối với sản phẩm hóa dầu, 5% đối với LPG và 7% đối với các sản phẩm xăng dầu Dung Quất sẽ không được cấp bù trong trường hợp thuế suất nhập khẩu thấp hơn mức ưu đãi

Tuy nhiên, với ưu đãi này, năm 2011-2012, Dung Quất vẫn lỗ lớn do thuế suất nhập khẩu xăng dầu thời điểm đó thấp hơn mức giá trị ưu đãi Trước tình hình đó, tháng 7/2012, PetroVietnam kiến nghị Chính phủ và sau đó có quyết định cho Dung Quất vẫn được giữ lại mức 3-7% thuế nhập khẩu, ngay trong trường hợp Nhà nước quy định thuế suất thuế nhập khẩu thấp hơn mức ưu đãi, doanh nghiệp sẽ vẫn được cấp bù khoản tiền này, kéo dài đến năm 2018

Dung Quất còn được hưởng thuế thu nhập doanh nghiệp chỉ 10% trong vòng 30 năm, trong đó miễn thuế hoàn toàn trong vòng 5 năm đầu, giảm 50% thuế trong 9 năm tiếp theo

Tháng 6/2015, PetroVietnam tiếp tục kiến nghị lên Chính Phủ khi muốn gia hạn những ưu đãi trên đến năm 2027 Nếu được thông qua, các chính sách "đỡ đầu" cho Dung Quất sẽ kéo dài tới 17 năm

Cơ chế ưu đãi thuế nhập khẩu giữa Bình Sơn với các nước trong khu vực năm 2016

Sản phẩm Áp với khu

vực ASEAN

Thuế áp cho Dung Quất

Ưu đãi thuế cho Dung Quất

Mức thuế Dung Quất phải đóng sau ưu đãi

Dự án nâng cấp nhà máy lọc dầu Dung Quất

Đầu năm 2015, Ban Quản lý KKT Dung Quất phối hợp với Công ty TNHH MTV Lọc Hóa dầu Bình Sơn công

bố Dự án đầu tư nâng cấp mở rộng Nhà máy Lọc dầu Dung Quất Theo đó dự án nâng từ công suất 6,5 triệu tấn lên 8,5 triệu tấn/năm, tương đương 192.000 thùng dầu/ngày Tổng vốn cho dự án khoảng 1,82

tỷ USD với tỷ lệ 70% đi vay, 30% vốn góp

Trong một bài viết đăng trên báo Công Thương vào 22/8/2015 đưa ra các l{ do để nâng cấp nhà máy lọc dầu Dung Quất:

“Yếu tố quan trọng nhất là đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm và tiêu chuẩn khí thải của xăng dầu cho động cơ đốt trong- yếu tố sống còn để nâng cao khả năng cạnh tranh thị trường trong tương lai Chính phủ ban hành lộ trình áp dụng khí thải đối với xe ôtô và môtô 2 bánh sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu

áp dụng tiêu chuẩn Euro 4 từ ngày 1/1/2017 và tiêu chuẩn Euro 5 vào 1/1/2022 Hiện nay sản phẩm của NMLD Dung Quất là Euro 2 Trong khi đó, chỉ vài năm nữa, khi lọc dầu Nghi Sơn và lọc dầu Vũng Rô đi vào hoạt động sẽ cho ra sản phẩm tiêu chuẩn Euro 4, lúc đó sản phẩm của Dung Quất sẽ khó cạnh tranh

Ngoài ra, các nước trong khu vực hiện đã bắt đầu áp dụng rộng rãi Euro 4 và định hướng cho Euro 5 Tức

là không chỉ trong nước mà thị trường quốc tế cũng đang gây áp lực lớn lên việc nâng cấp công nghệ của nhà máy để cho ra sản phẩm đáp ứng được tiêu chuẩn bảo vệ môi trường Nhà máy nâng cấp để sản xuất sản phẩm Euro 5

Trang 7

NMLD Dung Quất giai đoạn 1 được thiết kế để sử dụng chế biến nguồn dầu thô Bạch Hổ và các loại dầu trong nước khác tương đương Dầu Bạch Hổ là chủng loại dầu ngọt, chất lượng tốt đứng hàng đầu thế giới Từ 2009 đến nay, nhà máy chủ yếu lọc và chế biến các loại dầu này Tuy nhiên, sau hơn 6 năm vận hành nhà máy và kể từ khi khai thác dầu Bạch Hổ đến nay, sản lượng dầu Bạch Hổ đã bắt đầu suy giảm, tương lai gần sẽ không còn đủ đáp ứng được nhu cầu đầu vào của NMLD Dung Quất Hiện, NMLD Dung Quất đã đàm phán các đối tác và mua dầu thô từ Brunei, Nga, Trung Đông Trong tương lai, dầu thô từ Nga và Trung Đông là nguồn dầu chính để nhà máy hoạt động ổn định, nâng cao sức cạnh tranh

Khi một nhà máy có công suất chừng 8- 10 triệu tấn sản phẩm/năm thì xét về suất đầu tư, chi phí trên một lượng sản phẩm sẽ càng giảm, nâng cao lợi thế cạnh tranh Với chiến lược tổng thể về phát triển công nghiệp lọc hóa dầu của Việt Nam, việc tăng công suất NMLD Dung Quất lên 8- 10 triệu tấn/năm cộng với NMLD Nghi Sơn sẽ cơ bản đáp ứng 70%-80% nhu cầu của thị trường trong nước, giảm thiểu nhập khẩu xăng dầu Đó là những yếu tố đòi hỏi phải nâng cấp mở rộng NMLD Dung Quất ”

Ngành lọc dầu Châu Á giai đoạn hiện nay

Các nhà phân tích thị trường năng lượng cảnh báo lợi nhuận của các nhà máy lọc dầu Châu Á sẽ giảm do năng lực lọc dầu sẽ dư thừa trong vòng 5 năm tới Nguyên nhân là do việc xây dựng các nhà máy lọc dầu vượt mức tăng trưởng nhu cầu đối với các sản phẩm dầu

Nhiều quốc gia trong khu vực đang và dự kiến nâng cấp và các nhà máy lọc dầu mới để giảm bớt sự phụ thuộc nhiên liệu nhập khẩu Trung Quốc và Ấn Độ, hai quốc gia đông dân nhất thế giới, chiếm gần một nửa trong tổng công suất lọc dầu 30 triệu thùng/ngày của châu Á, sẽ nâng năng lực của mình thêm 2,5 triệu thùng/ngày trong năm 2014 nhằm đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế đang phát triển nhanh của mình

Việt Nam, Pakistan hay Indonesia cũng đang nỗ lực mở rộng công suất lọc dầu trong những năm tới nhằm cắt giảm nhập khẩu nhiên liệu và tiết kiệm ngoại tệ Trong đó, Việt Nam có kế hoạch tăng gấp đôi công suất lọc dầu vào năm 2017; Pakistan đã mở rộng thêm 1/3 công suất lọc dầu của mình với nhà máy lọc dầu mới được đưa vào hoạt động hồi tháng 12/2012, có kế hoạch xây dựng thêm hai nhà máy lọc dầu; Indonesia dự kiến xây dựng một cơ sở lọc dầu mới công suất 300.000 thùng ngày để nâng công suất lọc dầu của mình lên 1,3 triệu thùng ngày vào năm 2021; trong khi các nước Brunei, Campuchia, Malaysia và Philippines cũng có các kế hoạch tương tự Tổng công suất lọc dầu của châu Á dự đoán có thể tăng lên 36 triệu thùng/ngày vào năm 2018

Hơn nữa các thành viên Tổ chức các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) sẽ mở rộng thêm năng lực lọc dầu của mình, ở mức 1,8 triệu thùng/ngày trong vòng 5 năm tới, trong đó dẫn đầu là Saudi Arabia, Iraq và UAE

Thị trường dầu khí ở Việt Nam

Việt Nam đang có Nhà máy lọc dầu Dung Quất hoạt động với công suất 6,5 triệu tấn/năm đáp ứng khoảng 30% nhu cầu xăng dầu cả nước Thời gian tới nhà máy này sẽ nâng công suất lên 10 triệu tấn/ năm Tiếp theo là dự án lọc hóa dầu Nghi Sơn công suất 10 triệu tấn/năm sẽ đi vào hoạt động sau 5 năm xây dựng, cộng với dự án của Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam tại Vân Phong (Khánh Hòa) với công suất 10 triệu tấn/ năm Tiếp theo là dự án lọc dầu Long Sơn ( Bà Rịa Vũng Tàu) công suất 10 triệu tấn/ năm Nếu thêm dự án ông suất 30 triệu tấn/năm tại Bình Định thì nâng sản lượng xăng dầu của Việt Nam lên 70 triệu tấn/ năm khiến cho lọc dầu Việt Nam dư thừa so với nhu cầu tiêu dùng trong nước Chiến lược dầu khí VN, dự báo nhu cầu các sản phẩm lọc dầu trong nước, giai đoạn 2011-2015 dao động trong khoảng

từ 15 đến 20 triệu tấn/năm, tổng nhu cầu dự báo đến năm 2025 chỉ là 27 triệu tấn/năm

Trang 8

NGHIÊN CỨU TÌNH HUỐNG 02 :

DỰ ÁN SẢN XUẤT MÍA ĐƯỜNG

1 Các bên tham gia dự án

SNTL được cấp giấy phép đầu tư ngày 03/02/1996, là liên doanh giữa tập đoàn Anglo Sugar Investment (ASI) và công ty đường NA (NSC) Nhà đầu tư thứ nhất, Anglo Sugar Investment (ASI), là một tập đoàn nổi tiếng với 3 nhà đầu tư quốc tế, bao gồm: TL – một công ty của Anh, công ty TNHH MPS của Thái Lan và VN Fund Ltd Công ty TL là một trong những nhà sản xuất hàng đầu thế giới về đường, các chất làm ngọt từ ngũ cốc, tinh bột và axit citric, trong đó thế mạnh của TL là đường tinh luyện từ mía và củ cải đường MPS cũng là một nhà sản xuất đường lớn với 4 nhà máy ở Thái Lan và 5 nhà máy khác ở Trung Quốc Còn nhà đầu tư thứ hai, công ty đường NA (NSC), có thể xem như một phương tiện mà qua đó chính quyền tỉnh NA tham gia trong dự án này

Dự án này có tổng số vốn đầu tư lên đến khoảng 90 triệu USD, trong đó vốn pháp định chiếm đến 40 triệu USD Hiện tại ASI nắm giữ 80% vốn và 20% còn lại thuộc về NSC Mục đích của dự

án này là “ xây dựng một nhà máy đường đồng thời phát triển ngành công nghiệp sản xuất đường qui mô lớn và hiện đại ở tỉnh NA, nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước ngày càng tăng và góp phần giúp chính phủ thực hiện mục tiêu tự túc về sản phẩm đường”

2 Địa điểm xây dựng

Nguyên nhân trước tiên khiến NA được chọn là nơi xây dựng nhà máy vì nơi đây có sẵn các vùng trồng mía đường rất thuận lợi Những vùng canh tác như vậy không chỉ thuận tiện để tập trung phát triển mà còn thích hợp cho chuyên canh, chưa kể đến những vùng đồi chưa được sử dụng – một quỹ đất có thể khai thác sau này khi nhà máy muốn mở rộng qui mô Loại đất ở đây cũng rất thích hợp cho trồng mía Thêm nữa, địa điểm xây dựng nhà máy lại nằm không xa một trong những cảng biển lớn nhất trong khu vực, điều này rất thuận lợi cho tiềm năng xuất khẩu đường của nhà máy

Chỉ số phát triển con người của khu vực này đứng hàng thứ 21 trong 61 tỉnh thành của Việt Nam cho thấy, lực lượng lao động ở đây, đa phần là nông dân, rất cần cù và chăm chỉ Điều này cũng có thể được tính đến như một lợi thế của dự án này, đó là vấn đề nguồn nhân lực Ngoài

ra liên doanh này cũng nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn từ phía chính quyền địa phương

Ở khía cạnh này, NSC đóng vai trò như một phương tiện trung gian để chính quyền NA thể hiện

sự cam kết mạnh mẽ với dự án

Nhìn chung, NA là một địa điểm hết sức thuận lợi để xây dựng và vận hành nhà máy đường SNTL Trên thực tế một số nông dân trong vùng đã đạt được sản lượng 80 tấn mía trên 1 ha mà chỉ sử dụng một lượng rất ít phân bón, trong khi năng suất trung bình toàn quốc chỉ vào khoảng

45 đến 50 tấn trên 1 ha Bằng việc đưa vào các giống mía mới có năng suất cao và khả năng chịu sâu bệnh tốt, năng suất bình quân 80 tấn mía/ha là hoàn toàn có thể đạt được trong tương lai

và góp phần làm tăng thu nhập của người trồng mía

Trang 9

ra những điều kiện thuận lợi để ngành công nghiệp này phát triển Một loạt các hàng rào thuế quan và phi thuế quan đã được đặt ra để bảo vệ ngành công nghiệp này trước thời điểm Việt Nam trở thành thành viên đầy đủ của AFTA vào năm 2006

Khi thâm nhập vào thị trường Việt Nam như một tập đoàn hàng đầu thế giới về sản xuất đường, ASI – bên liên doanh nước ngoài của SNTL – muốn tạo ra sự khác biệt cho các sản phẩm của mình và hướng tới một thị trường đầy tiềm năng đang bị nhập khẩu chi phối Thực tế là hầu hết các nhà sản xuất bánh kẹo và nước giải khát đang tìm kiếm các sản phẩm đường màu (RS và nâu) có chất lượng cao hơn, có giá thành rẻ hơn và thích hợp trong việc tạo hương vị cũng như tạo màu sắc cho sản phẩm của họ Đứng trước một thị trường vẫn còn đang để ngỏ do các công

ty trong nước không đáp ứng được các yêu cầu về chất lượng sản phẩm, SNTL dự định sẽ sản xuất hàng năm 60 ngàn tấn đường RS và nâu Bên cạnh đó, nhu cầu về đường tinh luyện (RE) chất lượng cao cũng không ngừng tăng lên khiến SNTL quyết định đưa ra thị trường mỗi năm 20 ngàn tấn đường tinh luyện

4 Những mâu thuẫn phát sinh trong quá trình vận hành dự án

Khi nhà máy đi vào hoạt động, các mâu thuẫn từ nhiều phía bắt đầu phát sinh dẫn đến sự thất bại của dự án

Công suất thiết kế và sử dụng công suất thiết kế

Cuối năm 1998, đầu năm 1999, 3 năm sau khi được chính thức cấp giấy phép đầu tư, dự án đã sẵn sàng để đi vào hoạt động Ban đầu nhà máy được thiết kế với công suất ép hàng ngày đạt 6 ngàn tấn mía và theo dự tính, nhà máy sẽ tiêu thụ 360 ngàn tấn mía để sản xuất ra khoảng hơn

30 ngàn tấn gốm cả đường thô ( R), đường trắng (RS) và đường tinh luyện trong mùa thu hoạch đầu tiên Khi hệ thống cung cấp nguyên liệu được hoàn thiện, nhà máy có thể đạt được công suất như thiết kế, tức là 60 ngàn tấn RS và 20 ngàn tấn RE, từ 840 ngàn tấn mía do khoảng 22 ngàn nông dân và giai đình họ trồng Tuy nhiên, công suất thiết kế chỉ đạt được với điều kiện nguồn mía nguyên liệu được cung cấp đầy đủ Trên thực tế, khả năng cung cấp 6 ngàn tấn mía mỗi ngày là một chỉ tiêu không thể đạt được

Thiếu nguồn cung cấp nguyên liệu

Khi vào Việt Nam, công ty đã nhận thức được rằng, một trong những khó khăn lớn nhất đối với

dự án này cũng như bất kz dự án mía đường nào khác, chính là ở việc phát triển vùng nguyên liệu Trong ngành công nghiệp này, rất ít nhà máy có đủ nguyên liệu để sản xuất đạt công suất thiết kế, trong khi rất nhiều nhà máy hoạt động dưới công suất thiết kế Tuy vậy, ban đầu SNTL tin tưởng rằng họ có thể đạt được điều đó bằng cách làm việc với chính quyền địa phương, để

Trang 10

có được một vùng trồng mía đủ lớn và một nguồn cung cấp nguyên liệu ổn định Nhưng họ đã không lường hết được những khó khăn phía trước

Một trong những nhiệm vụ chính là khuyến khích và giúp nông dân trồng đủ diện tích mía cần thiết với chất lượng cao Trong tổng diện tích trồng trọt của vùng là 50 ngàn ha, cần có một vùng nguyên liệu khoảng 20 ngàn ha trồng mía để cho sản lượng 850 ngàn tấn mía một năm Tuy vậy, trong vụ mùa của các năm 1998 và 1999, chỉ có 6 ngàn ha được trồng mía và cho thu hoạch

Một trong những nguyên nhân chủ yếu cho tình trạng này là người nông dân luôn ngần ngại trong việc chuyển đổi giống cây trồng, chẳng hạn như từ cây lúa sang cây mía Những nghi ngờ của người nông dân vẫn không chấm dứt vì họ không được đảm bảo rằng, nếu chuyển sang trồng mía các sản phẩm của họ sẽ được mua khi thu hoạch Trên thực tế Hiệp hội mía đường

VN cho rằng lý do chính dẫn đến sự không ổn định nguồn cung cấp mía là do không có sự cam kết lâu dài của các nhà máy đối với người nông dân và lợi ích của họ

Tuy nhiên vần đề nguồn nguyên liệu còn trở nên căng thẳng hơn nữa Ngay cả khi việc chuyển sang trồng mía được tiến hành, công ty vẫn không đảm bảo đủ được nguồn nguyên liệu Theo

dự tính bao đầu, SNTL sẽ mua nguyên liệu với giá 280 ngàn đồng cho 1 tấn mía nguyên liệu, cao hơn rất nhiều so với mức giá có lãi do chính phủ ước tính vào khoảng 220 đến 240 ngàn đồng một tấn mía Bằng mức giá này, SNTL muốn đảm bảo cho người nông dân có thu nhập cao hơn

và ổn định hơn khi họ hợp tác với nhà máy Nhưng SNTL không hình dung hết được mức độ quyết liệt của sự cạnh tranh trong lĩnh vực nguyên liệu Do tình trạng thiếu hụt một lượng lớn mía nguyên liệu, rất nhiều công ty đã ra đời sau chương trình “một triệu tấn đường” đã không thể hoạt động hiệu quả, hoặc hoạt động dưới công suất thiết kế Vì vậy, mỗi nhà máy đều tự động đặt giá cao hơn với người nông dân để mua được mía mà không quan tâm đến hậu quả sẽ làm tăng giá đường thành phẩm Phải đến giữa năm 2001, khi Hiệp hội mía đường ra đời, tình trạng cạnh tranh đó mới được hạn chế Kết quả là dù vùng trồng mía nguyên liệu được phát triển theo kế hoạch, SNTL vẫn không đủ nguyên liệu để sản xuất do sự cạnh tranh quá gay gắt

Hệ thống giao thông lạc hậu

Với hệ thống đường giao thông hiện thời, việc đảm bảo một nguồn cung cấp thường xuyên và thường xuyên 6 ngàn tấn mía mỗi ngày quả là một việc quá sức Nhiều nhà phân tích cho rằng

để đảm bảo vận chuyển một lượng mía như vậy mỗi ngày, công ty cần thuê hơn 2000 xe tải loại

5 tấn, trong khi toàn tỉnh chỉ có 500 chiến xe như vậy

Việc thuê phương tiện vận tải từ các tỉnh lân cận là khả năng ít có thể xảy ra bởi hiệu quả chi phí vận chuyển không thể đảm bảo được, do đó sẽ làm tăng giá đường thành phẩm sau này Về lĩnh vực này một nghiên cứu đã chỉ ra chi phí vận chuyển không nên vượt quá 15% giá thành đường

để đảm bảo hiệu quả về chi phí Bên cạnh đó, hệ thống đường nối với các vùng trồng mía đa số

là đường đất và không cho phép xe tải chạy được Điều đó có nghĩa là mía ở các vùng đó chỉ có thể được chuyển tới xe tải bởi các phương tiện vận tải trung gian

Hậu quả là nhà máy rơi vào tình trạng thiếu nguyên liệu trầm trọng Cả công suất thiết kế và hiệu quả chi phí không đạt được

Trang 11

CHƯƠNG 3: THIẾT LẬP DÒNG TIỀN DỰ ÁN ĐẦU TƯ

Bài 1: Thông tin về một dự án đầu tư như sau: (triệu đồng)

Doanh thu 10,000 15,000 18,000 Tổng chi phí hoạt động 7,000 9,000 14,000

Nhu cầu tồn quỹ tiền mặt 500 750 900

Khoản phải trả 2,400 3,200 4,400

Khoản phải thu 4,000 6,000 7,200

Chi phí đầu tư năm 0 là 6.000 triệu đồng Thuế suất thuế TNDN 20% Thanh lý ròng thu hồi 1.800 triệu đồng

a Ước tính mức khấu hao mỗi năm, nguyên giá tổng tài sản cố định được khấu hao Dự án

sử dụng phương pháp khấu hao nào?

b Lập dòng tiền dự án theo phương pháp trực tiếp và phương pháp gián tiếp

c Nếu dự án vay nợ để đáp ứng 60% chi phí đầu tư thì nhà đầu tư hưởng lợi bao nhiêu mỗi năm? Biết lãi suất đi vay là 10% và trả nợ trong 2 năm theo phương pháp gốc trả đều

Bài 2: Công ty Bình Minh đang được xem xét đầu tư một dự án nhà máy sản xuất nhựa với các

thông tin như sau:

Vòng đời hoạt động của dự án là 5 năm Do ảnh hưởng của khả năng ổn định công suất

và khả năng cạnh tranh trên thị trường nên công suất huy động sản xuất thay đổi theo thời gian

và có thể xảy ra ba tình huống như sau:

CSHĐ Năm 1 Năm 2 Năm 3 Năm 4 Năm 5 Công suất huy động 54% 64% 74% 84% 94% Công ty dự kiến giá bán sản phẩm trong năm 1 như sau:

Phụ kiện ống nước : 35 triệu đồng/tấn

Nhựa gia dụng : 32 triệu đồng/tấn

Tạo hạt : 30 triệu đồng/tấn

Giá bán sản phẩm tăng qua các năm là 4%

3 Nhu cầu vốn lưu động

Khoản phải thu hàng năm của dự án là 15% tổng doanh thu, khoản phải trả và nhu cầu tồn quỹ tiền mặt lần lượt là 10% và 5% giá vốn hàng bán Tồn kho không có

4 Chi phí hoạt động

Giá vốn hàng bán phụ kiện ống nước, nhựa gia dụng và tạo hạt nhựa màu theo giá vốn hàng bán của sản phẩm nhựa cơ bản với tỷ lệ tương ứng lần lượt là 1,35; 1,25 và 1,15 Giá vốn hàng bán của sản phẩm nhựa cơ bản là 20 triệu đồng/tấn

Chi phí thuê đất trả hàng năm là 2 tỷ đồng, giả định chi phí này không đổi trong 5 năm hoạt động của dự án Dự án có chi phí quản lý điều hành là 2,5% doanh thu hàng năm, chi phí

Trang 12

quảng cáo và bán hàng dự kiến là 3% doanh thu hàng năm Chi phí bảo hiểm tài sản là 1,5% giá trị tài sản còn lại đầu năm

Tổng chi phí tiền lương dự kiến của dự án khoảng 15% doanh thu trong năm Trong đó, tiền lương trực tiếp là 75%, tiền lương gián tiếp là 25% tổng quỹ lương hàng năm Thuế suất thuế thuế thu nhập áp dụng cho dự án là 20%

5 Vay vốn

Dự án được đầu tư với vốn vay từ ngân hàng Vietcombank chiếm 40% tổng vốn đầu tư, lãi suất 12,5%/năm Dự án được ân hạn gốc 2 năm đầu, bắt đầu trả từ năm thứ ba cho đến hết năm thứ 5, theo phương thức gốc thanh toán đều hàng năm, lãi trả theo dư nợ giảm dần Phần còn lại, dự án sẽ dùng vốn cổ đông với suất sinh lời yêu cầu là 20%/năm

Yêu cầu

Phần 1 Lập các bảng tính trung gian

1 Bảng kế hoạch đầu tư

2 Bảng kế hoạch khấu hao

3 Bảng kế hoạch trả nợ

4 Bảng tính doanh thu

5 Bảng giá thành đơn vị sản phẩm

6 Bảng tính chi phí hoạt động

7 Bảng kế hoạch kinh doanh

8 Bảng tính nhu cầu vốn lưu động

Phần 2 Lập bảng kế hoạch dòng tiền

1 Lập dòng tiền TIPV theo phương pháp trực tiếp và phương pháp gián tiếp

2 Ước tính dòng tiền AEPV và EPV

3 Tính NPV và IRR theo quan điểm TIPV, AEPV và EPV Đánh giá tính khả thi về tài chính của dự án

Bài 3: Một dự án đầu tư có các thông số như sau:

Đầu tư:

 Chi phí chuyển quyền sử dụng đất: 2.300 triệu đồng

 Xây dựng nhà xưởng: 4.200 triệu đồng

 Giá mua thiết bị: 15.800 triệu đồng;

 Chi phí vận chuyển máy móc thiết bị về chân công trình: 100 triệu đồng;

 Chi phí lắp đặt: 100 triệu đồng;

 Chí phí quản lý, tư vấn và chi phí khác (chưa kể lãi vay): 10% giá trị xây lắp và thiết bị;

 Chi phí dự phòng: 10% giá trị xây lắp và thiết bị (không kể chi phí chuyển quyền sử dụng đất)

 Thời gian xây dựng dự án 1 năm

 Thời gian khấu hao: Thiết bị: 5 năm; nhà xưởng: 18 năm (phuơng pháp đường thẳng)

 Lúc thanh lý, tài sản sẽ được thanh lý theo giá trị còn lại

Sản lượng và doanh thu:

 Công suất thiết kế: 2 triệu sản phẩm/ năm;

 Tỷ lệ khai thác: năm khai thác đầu tiên: 50%, năm thứ hai: 70%; từ năm thứ ba trở đi: 90% công suất thiết kế;

 Đơn giá bán: 48.000 đồng/ sản phẩm

Chi phí hoạt động:

 Định mức chi phí nguyên vật liệu: 30.000 đồng/ sản phẩm

 Chi phí vật tư bao bì: 2% chi phí nguyên vật liệu

 Tiền công lao động trực tiếp: 10% chi phí nguyên vật liệu

 Chi phí sản xuất chung: 3% chi phí nguyên vật liệu

 Chi phí quản lý và bán hàng: 15% doanh thu

Nguồn tài trợ:

Trang 13

 Vay: 50% vốn đầu tư chưa kể lãi vay;

 Lãi suất vay vốn: 12% năm;

 Thời gian trả nợ: 4 năm

 Phương pháp trả: trả gốc đều

Dự trù vốn lưu động

 Tiền tối thiểu: 15% doanh thu;

 Các khoản phải thu: 10% doanh thu;

 Các khoản phải trả: 20% chi phí nguyên vật liệu

 Thời gian dự trữ nguyên vật liệu: 60 ngày

Thông số khác:

 Thuế suất thu nhập: 25%;

 Thời gian hoạt động của dự án: 5 năm

Yêu cầu: Lập bảng dòng tiền theo quan điểm TIPV, EPV

Bài 4: Công ty vận tải biển ABC đang có kế hoạch phát triển đội tàu, hiện có 2 phương án

được Công ty xem xét lựa chọn:

Phương án 1: mua tàu cũ từ nước ngoài, khai thác trong 6 năm, sau đó sẽ thanh lý

Phương án 2: mua tàu đóng mới tại Việt nam, khai thác trong 8 năm, sau đó sẽ thanh lý Các số liệu về 02 phương án được Công ty tập hợp như sau:

tàu cũ

P/án 2: Đóng mới tàu

1 Giá trị tàu (USD) 7.500.000 10.000.000

2 Trọng tải (DWT) 22.500 22.500

3 Thời gian hoạt động (năm) 6 8

4 Thời gian khấu hao (năm) 6 8

5 Giá trị thanh lý (usd) 500.000 800.000

6 Vốn lưu động 10% doanh thu 10% doanh thu

7 Tổng quỹ thời gian (ngày) 365 365 7.1 - Thời gian sửa chữa 35 25 7.2 - Thời gian hoạt động trong năm 330 340 7.2.1 + Thời gian chạy trên biển 180 195 7.2.2 + Thời gian xếp dỡ hàng 133 130 7.2.3 + Thời gian chờ đợi 17 15

8

Số ngày khai thác 1 chuyến (HCM/TL

– Nigera – Nigeria – HCM/TL) 150 130

9 Số chuyến đi trong năm 2,2 2,615

10 Mức tiêu hao nhiên liệu (tấn/ngày) khi:

Trang 14

10.2 - Xếp dỡ hàng 2,00 1,80

- Công ty dự định sẽ vay 60% giá trị tàu với lãi suất 15%/năm, trả nợ đều, lãi theo số dư trong 5 năm

- Các chi phí hoạt động bao gồm:

Cảng phí + hoa hồng đại lý: 1% doanh thu

Bảo trì, sửa chữa: 10% giá trị tàu

Đăng kiểm: 30.000 USD/năm

Lương thuyền viên: 360.000 USD/năm

Chi phí quản lý: 5% doanh thu

Bảo hiểm: 3% Giá trị tàu

- Giá nhiên liệu (dầu FO): 600 USD/tấn

- Công ty dự kiến đầu tư tàu khai thác tuyến đường:

HCM/ThaiLan – Nigeria: vận chuyển gạo

Nigeria – Pakistan: vận chuyển đường

Paskistan – HCM/Thailan: vận chuyển phân bón

- Cước vận chuyển ước tính:

Đơn giá cước chở gạo: 78 USD/tấn

Đơn giá cước chở đường: 62 USD/tấn

Đơn giá cước chở phân bón: 30 USD/tấn

- Khối lượng vận chuyển:

Vận chuyển gạo: 20.100 tấn/chuyến

Vận chuyển đường: 21.800 tấn/chuyến

Vận chuyển phân bón: 21.300 tấn/chuyến

- Thuế suất thuế thu nhập: 25%

- Tỷ suất chiết khấu: 16%

Bài 5: Trong một lần đi du lịch sang Singapore, tôi tình cờ được thưởng thức một loại bánh

tương tự như bánh Su ở Việt Nam nhưng được kết hợp độc đáo với các loại kem khác nhau Đám bạn cùng đi ai cũng khen ngon, nghĩ rằng nếu như ở Việt Nam có bán loại bánh này chắc người dân Sài Gòn sẵn sàng xếp hàng dài để chờ mua Một Ý nghĩ trong đầu hiện lên rằng tại sao tôi không mua phần nhượng quyền thương mai này để trở thành đại ly phân phối sản phẩm bánh kem này Thế là tôi quyết định thực hiện một dự án thuê mặt bằng trên đường Trần Quốc Thảo ở quận 3, mua quyền thương mại và dây chuyền máy móc nhập khẩu về từ Singapore để sản xuất

ra loại sản phẩm này ở TP.HCM

Kế hoạch đầu tư được dự kiến như sau:

 Chi phí nhượng quyền thương mại (Franchise): 100.000 USD với thời gian là 6 năm

 Tiền thuê mặt bằng phải trả trước cho 3 năm với số tiền thuê đất mỗi tháng là 30 triệu/tháng

 Chi phí mua 2 máy làm bánh chuyên dụng với giá nhập khẩu là 40.000 USD mỗi máy Thuế suất thuế nhập khẩu là 15% Thuế giá trị gia tăng là 10%

 Chi phí mua các thiết bị phụ là 800 triệu

 Chi phí trang trí và tư vấn thiêt kế là 200 triệu

 Chi phí thành lập doanh nghiệp và các chi phí khác là 200 triệu

Trang 15

 Thời gian xây dựng dự án là không đáng kể nên dự án tiến hành hoạt động ngay trong năm đầu tiên Thời gian khấu hao của quyền thương mại và máy móc thiết bị được dự kiến bằng với thời gian hoạt động của dự án

Khi dự án đi vào hoạt động thì kế hoạch doanh thu và chi phí dự kiến như sau:

 Công suất thiết kế của dự án là 150.000 sản phẩm/năm

 Tỷ lệ khai thác năm đầu tiên là 45%, những năm sau mỗi năm tăng 10% cho đến khi đạt mức ổn định là 95% CSTK

 Đơn giá bán sản phẩm đã có thuế giá trị gia tăng: 50.000/SP

 Doanh thu từ các dịch vụ phụ kèm được dự kiến khoảng 20% doanh thu từ bán bánh kem

Chi phí hoạt động hàng năm bao gồm:

 Định mức chi phí nguyên vật liệu là 10.000/SP

 Chi phí bao bì: 20% chi phí nguyên vật liệu

 Tiền công lao động trực tiếp: 30% chi phí nguyên vật liệu

 Tiền lương lao động gián tiếp là 30 triệu/tháng

 Chi phí hoạt động khác được dự kiến khoảng 20 triệu/tháng

 Chi phí quảng cáo và quản ly được dự kiến khoảng 10% doanh thu

Kế hoạch vốn lưu động của dự án như sau:

 Mức dự trữ tiền mặt tối thiểu là 5% doanh thu

 Thời gian dự trữ nguyên vật liệu chính là 30 ngày

 Thời gian phải trả là 30 ngày

Thông tin khác:

 Thuế suất thuế thu nhập mà công ty phải đóng hàng năm là 25%

 Suất sinh lợi kỳ vọng của chủ sở hữu là 30%

 Thời gian hoạt động của dự án là 6 năm

 Chủ đầu tư đề nghị Chi nhánh ngân hàng LHA tại Việt Nam tài trợ 50% phần vốn đầu tư liên quan đến mua máy móc thiết bị và chi phí nhượng quyền thương mại, lãi suất tài trợ

là 15%/năm, thời gian trả nợ là 4 năm theo phương thức trả gốc đều

 Tỷ giá dự kiến vào thời điểm thanh toán là 21.000 VNĐ/USD

YÊU CẦU: Lập các bảng tính sau (đơn vị triệu đồng):

1 Ước tính tổng vốn đầu tư của dự án;

2 Lịch vay và trả nợ hàng năm của dự án;

3 Kế họach khấu hao;

4 Doanh thu hàng năm của dự án;

5 Kết quả kinh doanh hàng năm của dự án;

6 Dự trù vốn lưu động hàng năm của dự án;

7 Dự toán dòng tiền theo quan điểm tổng đầu tư, quan điểm chủ sở hữu Tính NPV, IRR

8 Phân tích độ nhạy để xác định các biến số rủi ro chính;

Ngày đăng: 06/04/2022, 18:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w