Để có tiền để cho vay, ngoài vốn tự có NHTM phải huy động vốn từ cácnguồn khác nhau như là tiền nhàn rỗi của dân cư, tiền chưa sử dụng của cácdoanh nghiệp và của Nhà nươ
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Sau hai hơn thập niên đổi mới và hội nhập, nền kinh tế Việt Nam cónhững bước phát triển với tốc độ cao và hội nhập ngày càng sâu rộng với nềnkinh tể khu vực và thế giới Đặc biệt, kể từ khi Việt Nam trở thành thành viêncủa WTO thì dấu ấn của sự phát triển và hội nhập càng trở nên rõ nét hơntrong nền kinh tế nước ta
Trong hoàn cảnh nền kinh tế ngày càng phát triển, đời sống người dânngày càng tăng cao, nhu cầu vay tiêu dùng của người dân cũng ngày một lớn.Những năm trở lại đây, hoạt động cho vay tiêu dùng mang một vai trò quantrọng trong dịch vụ ngân hàng, cho vay tiêu dùng đóng góp một phần lợinhuận không nhỏ trong hoạt động cho vay của ngân hàng Người tiêu dùngvới mức thu nhập ngày càng ổn định và được cải thiện, cùng với trình độ dântrí và mức sống cao, hứa hẹn sẽ thúc đẩy hoạt động cho vay tiêu dùng ngàycàng phát triển
Tuy vậy, hoạt động cho vay tiêu dùng tại Việt Nam vẫn có những hạnchế nhất định như định mức cho vay tiêu dùng tối đa còn thấp, thời hạn chovay tiêu dùng ngắn, chính sách và thủ tục cho vay tiêu dùng còn phức tạp vàhạn chế, chưa hấp dẫn được lượng đông đảo KH tương xứng với vị thế vàtiềm năng của các ngân hàng tại Việt Nam
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam là Ngânhàng thương mại Quốc doanh , cũng là một trong những ngân hàng hàng đầu
về quy mô và chất lượng đang hoạt động tại Việt Nam Ngân hàng Nôngnghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Hoàng Mai là đơn vịthành viên của hệ thống Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam trên
cả nước, có nhiệm vụ thay mặt Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ViệtNam trực tiếp kinh doanh trên địa bàn Quận Hoàng Mai Trên thực tế, tiềmnăng phát triển của kinh tế Quận Hoàng Mai và nhu cầu vay tiêu dùng tại đâycòn rất lớn Sự phát triển của nền kinh tế cũng như nhu cầu tiêu dùng củangười dân nhất thiết phải có sự hỗ trợ của các ngân hàng Bởi vậy, cho vay
Trang 2tiêu dùng là một thị trường tiềm năng đối với các NHTM nói chung và Ngânhàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Hoàng Mainói riêng trong thời gian tới.
Trước bối cảnh đó, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thônViệt Nam – Chi nhánh Hoàng Mai cũng đã nhận thức được tầm quan trọngcủa việc thiết lập quan hệ với khu vực KH vay tiêu dùng tại địa bàn Chinhánh là đơn vị tiên phong trong khối NHTM Nhà nước thành lập phòng tíndụng dành riêng cho KH cá nhân, nhằm nâng cao chất lượng của hoạt độngcho vay tiêu dùng Tuy nhiên, cho đến nay, hoạt động cho vay tiêu dùng củachi nhánh vẫn còn trong tiềm năng cần khai thác Cho nên, việc tìm hiểuthực trạng cho vay tiêu dùng của chi nhánh và đưa ra những giải pháp nhằmkhắc phục hạn chế, nâng cao chất lượng cho vay tiêu dùng là rất cần thiết Vì
lý do trên, em chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp cho vay tiêu dùng ở
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh
Hoàng Mai.” để nghiên cứu Kết cấu của chuyên đề gồm:
Chương 1:Cơ sở lý thuyết cho vay tiêu dùng của NHTM.
Chương 2:Thực trạng cho vay tiêu dùng tại NHN 0 &PTNT chi nhánh Hoàng Mai.
Chương 3:Giải pháp và kiến nghị mở rộng cho vay tiêu dùng tại NHN 0 &PTNT chi nhánh Hoàng Mai.
Do thời gian ngắn và kiến thức còn hạn chườ́, Chuyên đề của em khôngtránh khỏi những thiếu sót Kính mong các thầy cô giáo, các anh chị và cácbạn đóng góp ý kiến để chuyên đề hoàn chỉnh hơn
Em xin cảm ơn các anh chị tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triểnnông thôn Việt Nam-chi nhánh Hoàng Mai đã tạo điều kiện để em thực tậpnghiên cứu tìm hiểu thực tế tại ngân hàng Cám ơn BGH Học Viện Ngânhàng, lãnh đạo khoa Tài Chớnh-Ngõn hàng, đã giúp đỡ và tận tình hướng dẫn
em hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHO VAY TIÊU DÙNG
CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái niệm về NHTM
Ngân hàng thương mại (NHTM) được hiểu tổng quát nhất là một trunggian tài chính hoạt động trên lĩnh vực đặc biệt đó là kinh doanh tiền tệ và cácdịch vụ Ngân hàng
Ngày nay, với cơ chế Ngân hàng hai cấp thì NHTM không còn chức năngphát hành tiền như trước đây mà NHTM chỉ còn chức năng kinh doanh tiền tệkiếm lãi và các dịch vụ khác liên quan đến kinh doanh tiền tệ
1.1.2 Các hoạt động của NHTM
Nhận tiền gửi.
Để có tiền để cho vay, ngoài vốn tự có NHTM phải huy động vốn từ cácnguồn khác nhau như là tiền nhàn rỗi của dân cư, tiền chưa sử dụng của cácdoanh nghiệp và của Nhà nước dưới dạng tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm.Trong quá trình nhận tiền gửi, các NHTM phải trả cho khác hàng mọi khoản lói,đõy được coi là phần thưởng cho khách hàng khi đã hi sinh nhu cầu tiêu dùngtrước mắt và cho phép Ngân hàng sử dụng tạm thời để kinh doanh và khoản tiềnđó được gọi là lãi tiền gửi và đây cũng chính là một trong những công cụ để cácNgân hàng cạnh tranh trong quá trình huy động tiền gửi
Mua bán ngoại tệ.
Mua bán ngoại tệ là một trong những dịch vụ quan trọng của các Ngânhàng do tính chất không khép kính của nền kinh tế một quốc gia Mua bánngoại tệ nghĩa là mua bán loại tiền này lấy một loại tiền khác để hưởng phídịch vụ Đây là dịch vụ rất quan trọng giỳp cỏc doanh nghiệp có thể tiến hànhcác hoạt động buôn bán của mình với nước ngoài cũng như đáp ứng nhu cầudùng ngoại tệ của người dân Ngày nay hoạt động này đã mở rộng ra với rất
Trang 4nhiều các hình thức dịch vụ phong phú: mua bán, trao đổi, gửi vay các loạingoại tệ với các nghiệp vụ như giao ngay, kỳ hạn, hoán đổi, quyền chọn vàtương lai Các Ngân hàng thương mại tham gia giao dịch ngoại hối với haimục đích:
Thứ nhất, Ngân hàng cung cấp dịch vụ cho khách hàng, chủ yếu là muahộ và bán hộ cho nhóm khách hàng riêng lẻ, và Ngân hàng thu một khoản phí Thứ hai, Ngân hàng kinh doanh ngoại hối nhằm kiếm lời khi tỷ giá thay đổi
Cho vay.
Đây là hoạt động chủ yếu mang lại lợi nhuận chủ yếu nhất cho các NHTMcũng như chứa đựng nhiều rủi ro nhất đối với các NHTM Có thể phân chiacho vay thành các loại chính sau:
Cho vay thương mại:
Đây là các khoản tín dụng phục vụ cho hoạt động mua bán trao đổi hànghoá của các doanh nghiệp thông qua các nghiệp vụ như cho vay trực tiếp ngắnhạn để đáp ứng nhu cầu dự trữ hàng hoá, trợ vốn lưu động và cho vay dướihình thức chiết khấu thương phiếu
Cho vay tiêu dùng:
Đây là loại hình cho vay dành cho người tiêu dùng là cá nhân, hộ gia đìnhcó nhu cầu vay để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho đời sống hàng ngày Ban đầuloại hình này không được các Ngân hàng thương mại ưa chuộng vì họ chorằng loại hình này rủi ro cao, nhưng sau đó, do có sư gia tăng thu nhập củangười dân cũng như sự cạnh tranh gay gắt, loại hình này đã phát triển mộtcách mạnh mẽ
Tài trợ cho dự án:
Do nhu cầu mở rộng sản xuất của các doanh nghiệp, các Ngân hàng đãphát triển cho vay trung và dài hạn để các doanh nghiệp có thể xây dựng nhàmáy, mua sắm thiết bị máy móc phục vụ cho sản xuất, tăng cường khoa họccông nghệ
Trang 5 Bảo lãnh.
Do nhu cầu phát triển nhanh chóng và đa dạng của thương mại hàng hoá
đã hình thành nên loại hình dịch vụ bảo lãnh, đây là việc Ngân hàng dùng uytín của mình để bảo lãnh cho khách hàng của mình mua hàng hoá chịu, thamgia đấu thầu, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh hồi thanh toán, bảo lãnh tài chính
Bảo quản tài sản hộ.
Ngân hàng cho khách hàng “thuờ kột” để bảo quản hộ khách hàng nhữnggiấy tờ có giá, vàng, giấy tờ cầm cố hoặc giấy tờ quan trọng với nguyên tắc antoàn, bảo mật và thuận tiện
Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán.
Khi khách hàng gửi tiền vào Ngân hàng, Ngân hàng sẽ mở một tài khoảncho khách hàng và không chỉ thực hiện việc bảo quản mà còn thực hiện cáclệnh chi trả khi có giấy thanh toán từ khách hàng gửi đến Ngân hàng, mở ramột phương thức thanh toán không dùng tiền mặt Đem lại tiện ích nhanhchóng đảm bảo và tiết kiệm chi phí cho khách hàng Cùng với sự phát triểncủa công nghệ thông tin, bên cạnh các phương thức thanh toán như séc, uỷnhiệm chi, nhờ thu, luân chuyển đã phát triển các hình thức thanh mới bằngđiện tử…
Quản lý ngân quỹ.
Các NHTM được biết đến là những nhà thủ quỹ và quản lý ngân quỹchuyên nghiệp, với kinh nghiệm quản lý ngân quỹ và khả năng trong việc thuvà chi tài chính, nhiều Ngân hàng đã cung cấp cho khách hàng dịch vụ quản
lý ngân quỹ trong đó Ngân hàng đồng ý quản lý việc thu và chi cho một Công
ty kinh doanh và tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào cácchứng khoán sinh lời và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiềnmặt để thanh toán
Tài trợ các hoạt động của chính phủ.
Ở hầu hết các quốc gia, các Chính phủ thường ở tình trạng thu không đủ
Trang 6chi, vì vậy, Chính phủ các nước đều muốn tiếp cận với các khoản cho vay củaNgân hàng Ngày nay, chính phủ giành quyền cấp giấy phép hoạt động vàkiểm soát các Ngân hàng Các Ngân hàng được cấp giấy phép thành lập vớiđiều kiện là họ phải cam kiết thực hiện với mức độ nào đó các chính sách củaChính phủ và tài trợ cho Chính phủ Các Ngân hàng thương mại thường muatrái phiếu Chính phủ theo một tỷ lệ nhất định trên tổng lượng tiền gửi màNgân hàng huy động được
Cho thuê thiết bị trung và dài hạn (leasing).
Các NHTM cho khách hàng thuờ cỏc tài sản, thiết bị, máy móc đắt tiền,khách hàng không có nhu cầu dùng lâu dài hoặc không đủ tài chính để mua.Rất nhiều Ngân hàng tích cực cho khách hàng quyền lựa chọn thuê các thiết
bị máy móc cần thiết thông qua hợp đồng thuê mua( lease purchase contract),trong đó Ngân hàng mua thiết bị và cho khách hàng thuê với một số điều kiệnnhất định Dịch vụ này của Ngân hàng cũng có nhiều điểm giống với cho vayvà được xếp vào tín dụng trung và dài hạn
Các dịch vụ Ngân hàng khác.
Ngoài các loại hình dịch vụ trên, Ngân hàng cũn cú cỏc loại hình dịch vụkhác như cung cấp các dịch vụ uỷ thác và tư vấn, cung cấp các dịch vụ môigiới đầu tư chứng khoán, cung cấp các dịch vụ bảo hiểm( insurance service),dịch vụ đại lý(agency service)…
+ Cung cấp các dịch vụ uỷ thác và tư vấn: tức các Ngân hàng sẽ quản lý hộtài sản và quản lý hoạt động tài chính cho các cá nhân và doanh nghiệp có nhucầu Dịch vụ uỷ thách này phát triển sang cả người vay hộ, uỷ thác cho vayhộ, uỷ thác phát hành, uỷ thác đầu tư… Thậm chí các Ngân hàng đóng vai tròlà người uỷ thác trong di chúc, quản lý tài sản cho khách hàng qua đời bằngcách công bố tài sản, bảo quản tài sản có giá Nhiều khách hàng coi Ngânhàng như một chuyên gia tư vấn tài chính Ngân hàng sẵn sàng tư vấn đầu tư,
về quản lý tài sản, về thành lập mua bán, sát nhập doanh nghiệp.Cụ thể như:
Trang 7+ Cung cấp các dịch vụ mụi giúi đầu tư chứng khoán: tức là các Ngânhàng bỏn cỏc dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng cơ hộimua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác Trong vài trường hợp, cácNgân hàng tổ chức ra Công ty chứng khoán hoặc các Công ty môi giới chứngkhoán để cung cấp dịch vụ môi giới Các Ngân hàng còn tư vấn phát hànhchứng khoán cho các công ty khi các công ty có nhu cầu phát hành hoặc pháthành thờm cỏc loại chứng khoán để huy động vốn.
+ Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm: tức Ngân hàng liên doanh với các Công
ty bảo hiểm hoặc tổ chức ra Công ty con để thực hiện việc bán bảo hiểm chokhách hàng, điều đó đảm bảo cho việc hoàn trả trong trường hợp khách hàng
bị chết, bị tàn phế hoặc gặp rủi ro trong hoạt động, mất khả năng thanh toán.Ngân hàng cung cấp các dịch vụ bảo hiểm như Tiết kiệm an sinh, Tiết kiệmhưu trí, Tiết kiệm khuyến học…
+ Cung cấp các dịch vụ đại lý: tức Ngân hàng nhận làm Ngân hàng đại lýcho các Ngân hàng khác và thực hiện các nghiệp vụ như thanh toán hộ, pháthành hộ các chứng chỉ tiền gửi, làm Ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ
1.2 KHÁI NIỆM CHO VAY TIÊU DÙNG
1.2.1 Khái niệm về cho vay tiêu dùng.
Cho vay tiờu dựng(CVTD) được hiểu là một hình thức tín dụng trong đóNgân hàng sẽ thoả thuận để khách hàng là cá nhân hay hộ gia đình sử dụngmột khoản tiền cho mục đích tiêu dùng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc vàlãi cho Ngân hàng sau một khoảng thời gian nhất định
Là một hình thức tín dụng của NHTM, và cũng như các hình thức cho vaykhác, có rất nhiều quan điểm về CVTD, có quan điểm cho rằng CVTD là cáckhoản tài trợ của Ngân hàng cho khách hàng nhằm mục đích chi tiêu cho cácnhu cầu trong đời sống hàng ngày của khách hàng, bao gồm cả cá nhân và hộgia đình Ngân hàng sẽ chuyển giao tiền cho khách hàng với nguyên tắckhách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi cho Ngân hàng khi đến hạn thanh toán
Trang 8Đây là một nguồn tài chính quan trọng giúp những người này trang trảinhu cầu nhà ở, đồ dùng gia đình và xe cộ… Bên cạnh đó, những chi tiêu chonhu cầu giáo dục, y tế và du lịch cũng có thể được tài trợ bởi CVTD
1.2.2 Đặc điểm của cho vay tiêu dùng
Cũng là một hình thức cho vay của Ngân hàng dành cho cá nhân và hộ giađình, CVTD có đầy đủ đặc điểm chung của một hình thức cho vay như đốitượng cho vay, nguyên tắc cho vay, thu nhập từ các khoản vay và rủi ro từ cáckhoản vay Ngoài ra CVTD cũn cú cỏc đặc điểm đặc trưng sau:
Quy mô món vay nhỏ.
Người tiêu dùng luụn cú sự tích luỹ từ trước khi có ý định mua sắm các tàisản có giá trị lớn (do tâm lý cũng như trong điều lệ cho vay của các Ngânhàng là người tiêu dùng phải có vốn chủ sở hữu trước khi vay vốn) Hơn nữa,giá cả của hàng hoá dịch vụ tiêu dùng thường không lớn so với quy mô vốncủa một Ngân hàng
Lãi suất cao.
CVTD là một khoản đem lại lợi nhuận rất cao cho các Ngân hàng với lãisuất “cứng nhắc” tức nó đủ để bù đắp chi phí huy động vốn của Ngân hàng vàcó một khoản lãi cần thiết Không như hầu hết các khoản cho vay kinh doanh,lãi suất cho vay thường biến động theo điều kiện thị trường, như vậy vớiCVTD Ngân hàng phải chịu rủi ro về lãi suất khi chi phí huy động vốn tănglên Tuy nhiên, các khoản vay này thường được định giá rất cao đến mức màbản thân lãi suất vay vốn trên thị trường lẫn tỷ lệ tổn thất tín dụng phải tănglên đáng kể thì hầu hết các khoản CVTD mới không mang lại lợi nhuận
Lý do chính khiến các khoản vay tiêu dùng có lãi suất cao nhất trong thanglãi suất cho vay của Ngân hàng đó là do chi phí và rủi ro của các khoản vaytiêu dùng là cao nhất trong các loại cho vay của Ngân hàng Tất nhiên đâycũng không phải là lý do đặc biệt gì vì đó luôn là nguyên nhân chính làm chogiá cả của các khoản tín dụng Ngân hàng thông thường tăng lên Nguyên nhân
Trang 9có thể do:
Đặc điểm về quy mô của món vay tiêu dùng thường nhỏ, thời gian vaykhông kéo dài lâu trong khi số lượng cỏc mún vay tiêu dùng thường lại rấtlớn Hơn nữa, thông tin về các cá nhân thường không đầy đủ và chính xáchoàn toàn, tiêu dùng là hoạt động không mạng lại các lợi ích kinh tế cụ thểcho người tiêu dùng, không cho các con số cụ thể về thu nhập từ hoạt động sửdụng vốn vay hay các nguồn thu nhập cụ thể cho người tiêu dùng nên gây khókhăn cho cán bộ tín dụng từ khâu tiếp nhận hồ sơ, thẩm định các nguồn trả nợNgân hàng của các khách hàng vay vốn, giải ngân và thu nợ Điều đó làm chochi phí mỗi món vay cao và rủi ro các khoản vay này tăng lên so với các loạicho vay kinh doanh luụn cú những con số cụ thể với chi phí và thu nhập rõràng từ các nguồn công khai
Rủi ro lớn.
Nguyên nhân các khoản CVTD có rủi ro cao là vì:
Thứ nhất, các khoản cho vay này có lãi suất cố định nên Ngân hàng phảichịu rủi ro lãi suất khi chi phí huy động tăng lên
Thứ hai, đối tượng của CVTD là cá nhân, hộ gia đình nên chất lượng cácthông tin tài chính của khách hàng thường không cao Tư cách của kháchhàng là một yếu tố rất quan trọng, quyết định sự hoàn trả của khoản vaynhưng lại rất khó xác định Trong cho vay đối với hộ sản xuất kinh doanh,nguồn trả nợ được lấy từ kết quả kinh doanh, còn trong CVTD nguồn trả nợ làthu nhập hoặc tài sản của người vay Khả năng trả nợ thanh đổi nhanh chóngkhi người vay thay đổi điều kiện làm việc hoặc sức khoẻ, khả năng bù đắptrong trường hợp rủi ro hầu như không có Lý do là các cá nhân dễ dàng giữkín các thông tin đáng ra phải trình bày (như triển vọng về công việc cũngnhư tình trạng sức khoẻ) hơn là hầu hết cỏc hóng kinh doanh khỏc (vỡ cỏchóng kinh doanh này sẽ phải gửi kèm theo dơn xin vay mọi giấy tờ chứngnhận về tài chính đã được kiểm toán) Hơn nữa, cá nhân và hộ gia đình không
Trang 10thể dễ dàng vượt qua các khó khăn về tài chính so với một hãng kinh doanh.Đấy là chưa kể đến những trường hợp người đi vay cố tình lừa đảo Trongnhững trường hợp như vậy thì dự cú nắm giữ tài sản đảm bảo hay không thỡcỏc Ngân hàng vẫn phải đối mặt với rủi ro giảm thu nhập.
Có tính nhạy cảm theo chu kỳ.
CVTD thường có tính nhạy cảm theo chu kỳ, nó tăng lên trong thời kỳ nềnkinh tế mở rộng, khi mà mọi người dân cảm thấy lạc quan về tương lai.Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào suy thoái, rất nhiều cá nhân và hộ gia đìnhcảm thấy không tin tưởng nhất là khi họ thấy tình trạng thất nghiệp tăng lênvà họ sẽ hạn chế việc vay mượn từ Ngân hàng, và khi đó tình trạng chất lượngkhách hàng cũng giảm khiến tỉ lệ khách hàng được vay vốn cũng giảm xuống.Ngoài ra CVTD cũn cú một số đặc điểm như: Khi vay tiền, cá nhân ngườitiêu dùng thường không quan tâm đến khoản tiền họ phải trả hàng tháng hơnlà lãi suất mặc dù chính lãi suất ghi trên hợp đồng ảnh hưởng đến quy mô sốtiền phải trả Trong khi lãi suất không phảo là một trong những yếu tố quantrọng mà hộ gia đình vay tiền quan tâm thì mức thu nhập và trình độ dân trílại tác động rất lớn đến việc sử dụng các khoản tiền vay của người tiêu dùng.Những người có thu nhập cao có xu hướng vay nhiều hơn so với thu nhậphàng năm của mình Những gia đình mà người chủ gia đình hay người tạo thunhập chính có học vấn cao cũng vậy Với họ, việc vay mượn là một công cụđể đạt được mức sống như mong muốn hơn là một lựa chọn chỉ được dùngtrong tình trạng khẩn cấp
1.3 VAI TRÒ CỦA CHO VAY TIÊU DÙNG
1.3.1 Đối với người tiêu dùng
Xã hội ngày càng phát triển, thu nhập và trình độ dân trí ngày càng cao đãtác động rất lớn đến nhu cầu tiêu dùng của người dân Những nhu cầu đó bâygiờ không chỉ là cơm no áo ấm, không giản dị như trước đây nữa mà là nhữngnhu cầu như nhà ở có đầy đủ tiện nghi sinh hoạt, có phương tiện đi lại hiện
Trang 11đại, được đi du lịch, được nghỉ mỏt… Tuy nhiên xã hội nào cũng vậy, khôngphải tất cả mọi người đều có khả năng tự trang trải cho những nhu cầu đóbằng chính nguồn tài chính hiện tại của mình.
Người đi vay - người tiêu dùng là người hưởng trực tiếp và nhiều nhấtnhững lợi ích mà hình thức CVTD mang lại Từ thực tế cho thấy rằng cónhiều nhu cầu mang tính tự nhiên, thiết yếu, có ý nghĩa quan trọng trong cuộcsống đối với các cá nhân và hộ gia đình
Mặc dù những nhu cầu thiết yếu thì nhiều nhưng của cải thì được tích luỹtheo thời gian do vậy khả năng tài chính thường bị giới hạn Vì vậy nảy sinhmột sự thật là người ta thường mua sắm nhà cửa, tiện nghi sinh hoạt sau mộtkhoảng thời gian tích luỹ khá dài Khi đó lợi ích cảm nhận được từ sự hưởngthụ sẽ ít đi Do vậy người tiêu dùng sẽ tìm cách để phối hợp khéo léo giữaviệc thoả món cỏc nhu cầu với yếu tố thời gian và khả năng thanh toán tronghiện tại và tương lai Điều này có nghĩa là người tiêu dùng sẽ tìm cách đểhưởng thụ trước số tiền sẽ có trong tương lai Mặt khác, khi xuất hiện CVTD,sức mua sắm của người dân sẽ tăng nhanh, do đó mang lại sức mua rất lớncho thị trường, tuy nhiên sự lựa chọn hàng hoá sẽ trở lên khắt khe hơn, kỹlưỡng hơn, do đó cạnh tranh sẽ trở lên gay gắt hơn dẫn đến nhà sản xuất sẽchú trọng vào chất lượng và luôn tìm kiếm những sản phẩm tốt nhất để tung
ra thị trường, vì vậy người tiêu dùng sẽ được hưởng những dịch vụ tốt nhấtvới đồng tiền mà mình bỏ ra
CVTD chính là một giải pháp, nhờ vay tiêu dùng mà người tiêu dùng đượchưởng các lợi ích trước khi tích luỹ đủ tiền để mua sắm
1.3.2 Đối với nhà sản xuất.
Lợi ích của nhà sản xuất là cùng với sự gia tăng nhu cầu có khả năng thanhtoán của người tiêu dùng, là sự gia tăng cầu về hàng hoá dịch vụ, qua đó làmtăng quy mô thị trường về hàng hoá dịch vụ Vì vậy các doanh nghiệp sẽ bánđược nhiều hàng hoá hơn, cũng như đẩy nhanh được quá trình bán hàng, tăng
Trang 12vòng quay hàng tồn kho, giảm các khoản phải thu, từ đó làm tăng thu nhập vàtăng độ an toàn trong hoạt động kinh doanh Bên cạnh đó CVTD cũng tạo rasự cạnh tranh cao hơn giữa các nhà sản xuất cả về số lượng, mẫu mã, chủngloại sản phẩm, từ đó thúc đẩy sản xuất phát triển.
1.3.3 Đối với các Ngân hàng thương mại.
Các Ngân hàng ngày càng phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt của cáctổ chức tài chính phi Ngân hàng như công ty bảo hiểm, công tư ty chứngkhoỏn… Do vậy để thành công Ngân hàng phải dựa vào khả năng xác địnhcác dịch vụ tài chính mà xã hội có nhu cầu và thực hiện các dịch vụ đó mộtcách hiệu quả Như vậy để tăng tính cạnh tranh của NHTM thì cần phải pháttriển một cách toàn diện hoạt động Ngân hàng cả chiều rộng lẫn chiều sâu,trong đó CVTD đóng một vai trò quan trọng trong việc xây dựng chiến lượccạnh tranh của Ngân hàng Hoạt động CVTD sẽ làm tăng thu nhập của Ngânhàng, mở rộng và tăng cường mối quan hệ giữa Ngân hàng với doanh nghiệp,tăng cường khả năng cạnh tranh cũng như tạo hình ảnh và thương hiệu đối vớicông chúng
Với hoạt động chủ yếu là nhận tiền gửi với trách nhiệm hoàn trả và sửdụng tiền đó để cho vay kiếm lời, các NHTM song song với nỗ lực huy độngvốn, phải khai thác thị trường tín dụng một cách triệt để, nghĩa là tìm cách đểđảm bảo khả năng đáp ứng và trên cơ sở đó thoả mãn tốt nhất các nhu cầu vềtín dụng của nền kinh tế Vì vậy, sẽ là sai lầm và thiếu sót nếu bỏ qua thịtrường khách hàng cá nhân Trong lịch sử, hầu hết các NHTM không tích cựccho vay đối với cá nhân và hộ gia đình bởi vì họ tin rằng những khoản CVTDnói chung có quy mô nhỏ và rủi ro vỡ nợ cao do đó làm cho chúng trở nên cómức sinh lời thấp Nhưng phát triển CVTD là một biện pháp tốt để mở rộngthị trường cho các NHTM
Trong nghiệp vụ CVTD, khách hàng tiềm năng của Ngân hàng và sự đadạng về nhu cầu là vô cùng lớn Nhu cầu tiêu dùng của khách hàng gần như là
Trang 13vô tận, đó là nền tảng vững chắc của Ngân hàng khi tiến hành CVTD Thực
tế, rất nhiều hộ gia đình sẽ không muốn gửi tiền của mình vào một Ngân hàngnếu họ không thấy được rằng mình có triển vọng vay lại Ngân hàng đó khi cónhu cầu Vì vậy, các NHTM cung cấp sản phẩm dịch vụ CVTD cũng có nghĩalà sẽ mở rộng được quan hệ với khách hàng, từ đó làm tăng khả năng huyđộng các loại tiền gửi cho Ngân hàng Đồng thời, phát triển CVTD cũngchính là Ngân hàng thực hiện đa dạng hoá hoạt động kinh doanh, nhờ vậyNgân hàng nâng cao được khả năng cạnh tranh, tăng thu nhập và phân tán rủi
ro cho Ngân hàng
Bên cạnh đó mục tiêu hoạt động của Ngân hàng là tối đa hoá lợi nhuận, trongkhi đó CVTD có giá trị của món vay nhỏ nhưng số lượng món vay thì rất lớnnên có thể chia sẻ rủi ro, đồng thời lại đơn giản hơn rất nhiều so với cho vay đốivới sản xuất mà lãi suất lại tương đối cao Do vậy việc mở rộng CVTD đối vớiNHTM là một hướng kinh doanh có hiệu quả và tương đối an toàn
Ngày nay các dịch vụ của Ngân hàng ngày càng đa dạng và cuộc cạnhtranh hết sức mạnh mẽ Thực hiện phát triển CVTD vừa mở rộng khách hàngvay, tăng quan hệ giao dịch của Ngân hàng với khách hàng để hình ảnh củaNgân hàng ngày càng đậm nét trên thị trường
Với những lợi ích trên, phát triển cho vay tiêu dùng là hướng đi rất đúngđắn của các NHTM
1.3.4 Đối với nền kinh tế.
CVTD là đòn bẩy hữu hiệu cho việc kích cầu Thị trường CVTD đã gópphần tạo nên sự sôi động của nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển, tạonguồn vốn cho khu vực sản xuất trong nước, từ đó tăng GDP cho nền kinh tế
Đi đôi với nó là hàng loạt các vấn đề xã hội được giải quyết như tạo công ănviệc làm, tăng thu nhập cho người dân, giúp họ cải thiện mức sống, giảm tệnạn xã hội, góp phần quan trọng đẩy lùi nạn cho vay nặng lói… và làm tăngtiết kiệm quốc gia Nhưng bên cạnh đó cần phải chú ý đến tác dụng phụ của
Trang 14tăng cầu, đó là khi lạm phát thì tăng cầu lại là một điều không tốt sẽ làm chonền kinh tế càng trở nên “quỏ núng”.
Tóm lại, hoạt động CVTD ra đời là một tất yếu, phù hợp với sự phát triểncủa xã hội và tuân theo quy luật kinh tế
1.4 PHÂN LOẠI CHO VAY TIÊU DÙNG.
Việc phân loại CVTD được lựa chọn trên nhiều tiêu thức khác nhau để cómột cái nhìn toàn diện về cho vay tiêu dùng ở những góc độ khác nhau
1.4.1 Căn cứ vào mục đích vay:
Căn cứ vào mục đích vay thì CVTD bao gồm:
Cho vay tiêu dùng cư trú (Residential Mortgage Loan):
Đây là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mua sắm xây dựng haycải tạo nhà ở của khách hàng là cá nhân hoặc hộ gia đình
Cho vay tiêu dùng phi cư trú (Nonresidential Loan):
CVTD phi cư trú là khoản cho vay nhằm tài trợ cho việc trang trải các chiphí mua sắm xe cộ, đồ dùng gia đình, chi phí học hành, giải trí du lịch, chữabệnh hay thanh toán tiền viện phí
Căn cứ vào phương thức trả nợ khoản vay:
Cho vay tiêu dùng trả góp ( Installment Consumer Loan):
Đây là hình thức CVTD trong đó người đi vay trả nợ (gồm cả số tiền gốclẫn lãi) cho Ngân hàng theo nhiều lần, theo những kỳ hạn nhất định trong thờihạn cho vay Phương thức này được áp dụng cho các khoản vay có giá trị lớnhoặc thu nhập từng định kì của người đi vay không đủ khả năng thanh toánhết một lần số nợ vay Đối với loại CVTD này, các Ngân hàng thường chú ýtới một số vấn đề cơ bản sau:
+ Thứ nhất: Loại tài sản được tài trợ.
Thông thường thiện chí trả nợ của người đi vay sẽ tốt hơn nếu tài sản hìnhthành từ tiền vay đáp ứng được nhu cầu thiết yếu đối với họ lâu dài trongtương lai Khi lựa chọn tài sản để tài trợ, Ngân hàng thường chú ý đến điều
Trang 15này vì Ngân hàng thường chỉ muốn tài trợ cho nhu cầu mua sắm những tài sảncó thời hạn sử dụng lâu bền hoặc có giá trị lớn Bởi vì có như vậy thì ngườitiêu dùng mới được hưởng những tiện ích do tài sản đem lại trong một khoảnthời gian dài.
+ Thứ hai: Số tiền phải trả trước.
Nói chung thỡ cỏc Ngân hàng thường yêu cầu người đi vay phải thanhtoán trước một phần giá trị tài sản cần mua sắm - số tiền này được gọi là sốtiền trả trước Phần còn lại Ngân hàng sẽ cho vay Số tiền trả trước cần phải
đủ lớn để một mặt làm cho người đi vay nghĩ rằng chính họ là chủ sở hữu tàisản, mặt khác lại có tác dụng hạn chế rủi ro cho Ngân hàng Một khi khôngcảm nhận được rằng mình là chủ sở hữu của tài sản được hình thành từ tiềnvay thì người đi vay sẽ có thái độ miễn cưỡng trong việc trả nợ Ngoài ra, khikhách hàng không trả nợ, trong nhiều trường hợp, Ngân hàng đành phải tiếpnhận và phát mại tài sản để thu hồi nợ Hầu hết các tài sản đã qua sử dụng đều
đã bị giảm giá trị, tức là giá thị trường nhỏ hơn giá trị hạch toán của tài sản,cho nên số tiền trả trước có vai trò rất quan trọng trong việc giúp Ngân hànghạn chế rủi ro Số tiền trả trước thường phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Loại tài sản: Đối với các tài sản có mức độ giảm giá nhanh thì số tiền trảtrước nhiều và ngược lại, đối với các tài sản có mức độ giảm giá chậm thì sốtiền trả trước ít
- Thị trường tiêu thụ tài sản sau khi đã sử dụng
- Môi trường kinh tế
- Năng lực tài chính của những người đi vay
Thứ ba: Chi phí của khoản vay.
Chi phí của khoản vay là chi phí mà người đi vay phải trả cho Ngân hàng
về việc sử dụng vốn Chi phí này chủ yếu bao gồm lãi vay và các chi phí kháccó liên quan Chi phí khoản vay này phải trang trải được chi phí huy độngvốn, chi phí hoạt động, rủi ro, đồng thời phải mang lại một phần lợi nhuận
Trang 16thoả đáng cho Ngân hàng.
Thứ tư: Điều khoản thanh toán.
Khi xác định các điều khoản liên quan đến việc thanh toán nợ của kháchhàng, Ngân hàng thường chú ý tới một số vấn đề sau:
- Số tiền thanh toán mỗi kỳ hạn phải phù hợp với khả năng về thu nhậptrong mối quan hệ hài hoà với các nhu cầu chi tiêu khác của khách hàng
- Kỳ hạn trả nợ phải thuận lợi cho việc trả nợ của khách hàng
- Thời hạn cho vay không nên quá dài Thời hạn cho vay bị giới hạn bởithời gian hoạt động của tài sản tài trợ Và nếu thời hạn cho vay qua dài dễ làmcho giá trị tài sản tài trợ bị giảm mạnh đồng thời rủi ro tín dụng cũng tăng lên.Hơn nữa, khi thời hạn cho vay quá dài thì thiện chí trả nợ của những người đivay cũng như việc thu hồi nợ thường gặp nhiều rắc rối
Thứ năm: Số tiền khách hàn`g thanh toán cho Ngân hàng mỗi kỳ trả nợ.
Để xác định số tiền khách hàng phải thanh toán cho Ngân hàng trong mỗi
kỳ trả nợ, ta có thể áp dụng một trong các phương pháp sau đây:
- Phương pháp lãi gộp (Add on Method): Đây là phương pháp thường đượcáp dụng trong cho vay tiêu dùng trả góp, do tính chất đơn giản và dễ hiểu củanó Theo phương pháp này, trước hết lãi được tính bằng cách lấy vốn gốc nhânvới lãi suất và thời hạn vay, sau đó cộng gộp vào vốn gốc rồi chia cho số kỳhạn phải thanh toán để tìm số tiền phải thanh toán ở mỗi kỳ hạn trả nợ
- Phương pháp lãi đơn (Simple Interest Method): Theo phương pháp này,vốn gốc người đi vay phải trả cho từng kỳ hạn trả nợ được tính đều nhau bằngcách lấy vốn gốc ban đầu chia cho số kỳ hạn thanh toán Cũn lói phải trả mỗi
kỳ hạn được tớnh trờn số tiền khách hàng thực sự còn nợ Ngân hàng
Cho vay tiêu dùng phi trả góp (Noninstallment Consumer Loan).
Theo phương thức này thì tiền vay được khách hàng thanh toán cho Ngânhàng chỉ một lần khi đến hạn Thường thì tín dụng tiêu dùng phi trả góp chỉđược cấp cho các khoản vay có giá trị nhỏ với thời hạn không dài
Trang 17 Cho vay tiêu dùng tuần hoàn (Revolving Consumer Credit):
Đây là các khoản CVTD trong đó Ngân hàng cho phép khách hàng sửdụng thẻ tín dụng hoặc phát hành séc thấu chi dựa trên tài khoản vãng lai.Theo phương thức này thì trong thời hạn tín dụng được thoả thuận trước, căn
cứ vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập kiếm được từng kỳ, khách hàng đượcNgân hàng cho phép thực hiện việc vay và trả nợ nhiều kỳ một cách tuầnhoàn, theo một hạn mức tín dụng
Căn cứ vào nguồn gốc các khoản nợ.
Cho vay tiêu dùng gián tiếp.
CVTD gián tiếp là hình thức cho vay trong đó Ngân hàng mua nhữngkhoản nợ phát sinh do những công ty bán lẻ đã bán chịu hàng hoá hay dịch vụcho người tiêu dùng Ngân hàng và công ty bán lẻ ký kết hợp đồng mua bán
nợ Trong hợp đồng, Ngân hàng thường đưa ra các điều kiện về đối tượngkhách hàng được bán chịu, số tiền bán chịu tối đa và loại tài sản bán chịu.Công ty bán lẻ và người tiêu dùng ký kết hợp đồng mua bán chịu hàng hoá.Theo nguyên tắc người mua hàng phải trả trước một phần giá trị của hànghoá Có hai cách tài trợ tín dụng tiêu dùng cho khách hàng
Sơ đồ 1.1: Cho vay tiêu dùng gián tiếp.
Người tiêu dùng
Trang 18(2) Nhà cung cấp và người tiêu dùng ký kết hợp đồng mua bán chịu hàng hoá.(3) Nhà cung cấp giao hàng hoá cho người tiêu dùng
(4) Nhà cung cấp giao chứng từ bán hàng cho ngân hàng để được thanh toán.(5) Ngân hàng thanh toán cho Nhà cung cấp
(6) Người tiêu dùng thanh toán khoản nợ cho Ngân hàng
Ưu điểm của CVTD gián tiếp:
- Cho phép Ngân hàng dễ dàng tăng doanh số cho vay tiêu dùng
- Cho phép Ngân hàng giảm được chi phí trong cho vay Vì việc mua lạicác chứng từ bán chịu hàng hoá sẽ đơn gian hơn việc lập một bộ hồ sơ chovay Mặt khác người bán hàng cũng chịu trách nhiệm giám sát các khoản chovay trong một giới hạn nào đó (như theo dõi các tài khoản trả không đúnghạn, việc tái sở hữu, bán hàng hoỏ tỏi sở hữu v.v…)
- Là nguồn gốc để mở rộng quan hệ với khách hàng và các hoạt động kháccủa Ngân hàng
- Trong trường hợp Ngân hàng có mối quan hệ tốt với các công ty bán lẻthì CVTD sẽ có tính an toàn cao hơn, giúp Ngân hàng giảm bớt rủi ro
Nhược điểm của CVTD gián tiếp:
- Ngân hàng không được tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng, điều nàydẫn đến Ngân hàng không thể kiểm soát được khách hàng mà công ty bán lẻ
đã bán chịu, không kiểm soát được chất lượng tín dụng
- Ngân hàng không thẩm định được khách hàng trước khi cho vay, dễ dẫnđến rủi ro cho Ngân hàng trong trường hợp có hiện tượng cố ý lừa đảo
- Nghiệp vụ CVTD gián tiếp có tính phức tạp cao
Do những nhược điểm trờn nờn rất nhiều Ngân hàng không mặn mà vớiCVTD gián tiếp, và chỉ có những Ngân hàng nào có cơ chế kiểm soát tín dụngrất chặt chẽ mới tham gia vào hoạt động CVTD này
Trang 19 Để hạn chế những nhược điểm trên, CVTD gián tiếp thường được thực hiện thông qua các phương thức sau:
- Tài trợ truy đòi toàn bộ: Theo phương thức này, khi bán cho Ngân hàng
các khoản nợ mà người tiêu dùng đã mua chịu, công ty bán lẻ cam kết sẽthanh toán cho Ngân hàng toàn bộ các khoản nợ nếu khi đến hạn người tiêudùng không thanh toán cho Ngân hàng
- Tài trợ truy đòi hạn chế: Theo phương thức này, trách nhiệm của công ty
bán lẻ đối với các khoản nợ của người tiêu dùng mua chịu không thanh toánchỉ giới hạn trong một chừng mực nhất định, phụ thuộc vào các điều khoản đãthoả thuận giữa Ngân hàng với công ty bán lẻ
- Tài trợ miễn truy đòi: Theo phương thức này, sau khi bỏn cỏc khoản nợ
cho Ngân hàng, công ty bán lẻ không còn chịu trách nhiệm cho việc liệu cáckhoản nợ đó có được trả hay không Phương thức này chứa đựng nhiều rủi ronên chi phí của khoản vay này được Ngân hàng tính cao hơn so với cácphương thức trên và các khoản nợ được mua cũng được Ngân hàng lựa chọnrất kỹ Ngoài ra, chỉ có những công ty bán lẻ rất có uy tín với Ngân hàng mớiđược áp dụng phương thức tài trợ này
- Tài trợ có mua lại: Theo phương thức này thì khi thực hiện CVTD gián tiếp
với hình thức miễn truy đòi hoặc truy đòi một phần, nếu rủi ro xảy ra, người tiêudùng không trả được nợ thì Ngân hàng buộc phải thanh lý tài sản để thu hồi nợ.Trong trường hợp này, nếu có thoả thuận trước thì Ngân hàng có thể bán lại chochính công ty bán lẻ phần nợ mình chưa được thanh toán, kèm với tài sản đãđược người tiêu dùng sử dụng trong một thời gian nhất định
Cho vay tiêu dùng trực tiếp
CVTD trực tiếp là các khoản CVTD trong đó Ngân hàng trực tiếptiếp xúc và cho khách hàng vay cũng như trực tiếp thu nợ từ họ
Trang 20Sơ đồ 1.2: Cho vay tiêu dùng trực tiếp
(3)
(1) (5) (2) (4)
Các bước thực hiện:
(1) Ngân hàng và người tiêu dùng ký kết hợp đồng vay;
(2) Người tiêu dùng trả trước một phần số tiền mua tài sản cho công ty bán lẻ.(3) Ngân hàng thanh toán số tiền còn thiếu cho công ty bán lẻ;
(4) Công ty giao tài sản cho người tiêu dùng;
(5) Người tiêu dùng thanh toán tiền vay cho Ngân hàng
So với CVTD gián tiếp thì CVTD trực tiếp có một số ưu điểm sau:
+ Trong CVTD trực tiếp Ngân hàng có thể tận dụng được sở trường vàtrình độ của các cán bộ tín dụng Những người này thường được đào tạo cóchuyên môn và có nhiều kinh nghiệm nờn cỏc quyết định tín dụng trực tiếp từNgân hàng thường có chất lượng cao hơn so với trường hợp chúng đượcquyết định bởi công ty bán lẻ hoặc nhân viên tín dụng của công ty bán lẻ.Ngoài ra, trong hoạt động công việc của mỡnh, cỏc nhân viên tín dụng thườngcó xu hướng chú trọng tới việc tạo ra các khoản cho vay có chất lượng trongkhi nhân viên của các công ty bán lẻ thường chú trọng tới việc tiêu thụ đượcnhiều hàng hoá Bên cạnh đó, tại các điểm bán hàng, các quyết định tín dụngthường được đưa ra vội vàng, có thể có nhiều khoản tín dụng được cấp mộtcách không chính đáng Hơn nữa, trong một số trường hợp, do quyết địnhnhanh, công ty bán lẻ có thể từ chối cấp tín dụng đối với khách hàng tốt của
Công ty bán lẻNgân hàng
Người tiêu dùng
Trang 21mình Nếu như người cấp tín dụng là Ngân hàng thì những điều này có thểđược hạn chế.
+ CVTD trực tiếp linh hoạt hơn so với CVTD gián tiếp ở chỗ: cuối cùngquan hệ vay mượn chỉ diễn ra giữa Ngân hàng và người tiêu dùng, không liênquan tới công ty bán lẻ Khách hàng không trả được nợ thì phần lớn là khôngliên quan tới công ty bán lẻ
+ Khi khách hàng có quan hệ tín dụng trực tiếp từ Ngân hàng thì có rấtnhiều lợi thế phát sinh như: Ngân hàng có thể mở rộng quan hệ với kháchhàng, tạo ra hình ảnh tốt đẹp về Ngân hàng đối với khách hàng Còn đối vớikhách hàng có cơ hội tiếp cận được với nhiều dịch vụ Ngân hàng hơn
CVTD trực tiếp được thực hiện theo các phương thức sau:
Tín dụng trả theo định kỳ:
Đây là phương thức được sử dụng phổ biến nhất hiện nay Theo phươngthức này, Ngân hàng cấp cho khách hàng toàn bộ số tiền vay và khách hàngtrả nợ cho Ngân hàng theo từng kỳ hạn cụ thể Kỳ hạn hoàn trả có thể khácnhau tuỳ thuộc vào nhu cầu của người vay, thường là một lần trờn thỏng
Thấu chi:
Đây là hình thức cấp tín dụng ứng trước đặc biệt trên cơ sở hạn mức tíndụng, được thực hiện bằng cách Ngân hàng cho phép người vay được chi trộitrên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trongkhoản thời gian xác định
Thẻ tín dụng:
Là hình thức cấp tín dụng trong đó Ngân hàng phát hành thẻ tín dụng chonhững người có tài khoản ở Ngân hàng đủ điều kiện cấp thẻ và ấn định mứcgiới hạn tín dụng tối đa mà người có thẻ được phép sử dụng
Ngân hàng có thể có hai cách để cấp thẻ tín dụng cho khách hàng là:
+ Cách 1: Ngân hàng cấp thẻ tín dụng của Ngân hàng cho khách hàng
thông qua việc Ngân hàng có những giao kèo với các cơ sở chấp nhận thẻ
Trang 22+ Cách 2: Ngân hàng cung cấp thẻ tín dụng của các công ty phát hành thẻ
tín dụng quốc tế Khách hàng thường dùng thẻ tín dụng quốc tế là các nhàkinh doanh và khách du lịch, việc sử dụng loại thẻ này sẽ đảm bảo sự gọnnhẹ, thuận tiện và an toàn cho người sử dụng
1.5 QUY TRÌNH CHO VAY TIÊU DÙNG
Tại hầu hết các Ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay, CVTD vẫnđược thực hiện theo kỹ thuật truyền thống, gồm các bước sau:
Bước 1: Tiếp nhận hồ sơ của khách hàng
Bước 2: Thẩm định cho vay
Bước 3: Nhân viên tín dụng lập hợp đồng tín dụng và giải ngân
Bước 4: Theo dõi trả nợ vay và xử lý nợ quá hạn
Trong đó, bước thẩm định của Ngân hàng sẽ dựa vào những thông tin màkhách hàng cung cấp, sau đó cán bộ tín dụng tẩm định lại độ chính xác nhữngthông tin đó Thời gian để thẩm định xong một đơn xin vay kéo dài khôngnhững làm cho Ngân hàng tốn kém chi phí mà còn làm cho khách hàng cònphải mất nhiều thời gian để chờ đợi
Hiện nay, rất nhiều Ngân hàng trên thế giới sử dụng hệ thống tính điểmtín dụng để đánh giá đơn xin vay cuả khách hàng để từ đó ra quyết định cócho khách hàng vay hay không
Hệ thống tính điểm tín dụng thường dựa trên cơ sở các mô hình đặc biệthoặc một số kỹ thuật có liên quan như mô hình trung thực , trong đó một vàibiến số sẽ được kết hợp lại để đánh giá về điểm số cho mỗi lá đơn yêu cầu củakhách hàng Nếu lá đơn đó đạt trên mức điểm giới hạn thỡ nú gần như sẽ đư-
ợc thông qua trừ trường hợp có những thông tin khụng bỡnh thường Ngượclại, nếu lá đơn đó đạt điểm thấp hơn mức giới hạn thì lá đơn đó gần như bịbác bỏ trừ trường hợp có yếu tố giảm nhẹ
Như vậy, từ những yếu tố và kết luận của hệ thống tính điểm đã đượcnêu ra thì ta thấy rằng phương pháp này có những ưu điểm và nhược điểm
Trang 23như sau:
Về ưu điểm của hệ thống tính điểm:
Thứ nhất: hệ thống tính điểm có thể giải quyết nhanh chóng một số
lượng lớn yêu cầu mà không cần nhiều sức người, điều đó sẽ làm giảm chi phíhoạt động và đánh giá có hiệu quả thay thế chi việc sử dụng cán bộ tín dụngthiếu kinh nghiệm Đồng thời nú cũn giỳp giảm bớt những khoản nợ khó thu hồi
Thứ hai: Hệ thống tính điểm giúp rút ngắn thời gian xét duyệt đơn của
khách hàng Thời gian xét duyệt có thể giảm từ vài giờ xuống còn vài phút,hoặc từ vài tuần xuống còn vài ngày Không những thế hệ thống tính điểmnày còn hoàn toàn loại bỏ được những đánh giá mang tính cá nhân về kháchhàng, độ chính xác của kết quả tương đối cao
Về nhược điểm của hệ thống tính điểm:
Do hệ thống tính điểm được thực hiện theo một nguyên tắc nờn nú cũng cónhững nhược điểm như sau:
Thứ nhất: Ngân hàng có thể mất đi một số đối tượng khách hàng, những
người có hoàn cảnh đặc biệt mà trong đơn xin vay không phản ánh được
Thứ hai: Hệ thống điểm là tập hợp những tiêu thức về khách hàng ở
hiện tại và quá khứ nờn nú khụng phản ánh được chất lượng tín dụng trongtương lai của khách hàng
Để hạn chế những nhược điểm này của hệ thống tính điểm tín dụng, cácNgân hàng nên thường xuyên kiểm tra và xét lại hệ thống tiêu thức mà Ngânhàng đa ra để tính điểm và mức điểm cho mỗi chỉ tiêu nhỏ cũng cần đượcthay đổi thường xuyên để cho phù hợp với sự biến đổi của nền kinh tế và vớiphong cách sống của người dân Bởi vì một hệ thống đánh giá tín dụng khônglinh hoạt sẽ là mỗi đe doạ nguy hiểm cho chiến lược phát triển tín dụng tiêudùng của Ngân hàng trong cộng đồng dân cư mà Ngân hàng đang phục vụ,hoặc mang lại rủi ro tín dụng không đáng có trong hoạt động của Ngân hàng.Các loại hình CVTD mà chi nhánh cung cấp khá phong phú Trong đó nổi bật
Trang 24lên là hai hình thức:
+ CVTD trả góp không có bảo đảm tài sản đối với cán bộ công nhân viên + CVTD trả góp có tài sản bảo đảm đối với cán bộ công nhân viên
1.5.1 Quy trình cho vay tiêu dùng trả góp không có bảo đảm tài sản đối với cán bộ công nhân viên
Đối tượng vay vốn:
Đối tượng vay vốn của loại hình cho vay này chủ yếu là những cán bộcông nhân viên chức có thu nhập ổn định như: cán bộ, công nhân, công chức,viên chức, giáo viên Họ đều là công dân Việt Nam có năng lực pháp luật vàhành vi dân sự Cụ thể:
+ Cán bộ công nhân viên hiện đang công tác tại các đơn vị sản xuấtkinh doanh (các doanh nghiệp Nhà nước, công ty cổ phần vốn chủ sở hữu củanhà nước)
+ Cán bộ công nhân viên hiện đang công tác tại các đơn vị hành chínhsự nghiệp (trường học, bệnh viện)
+ Cán bộ công nhân viên hiện đang công tác tại các đơn vị an ninh,quốc phòng và các cán bộ công nhân viên thuộc các tổ chức khác do phòngtín dụng nơi cho vay xem xét quyết định và tự chịu trách nhiệm
Điều kiện vay vốn:
+ Người vay phải có hộ khẩu thường trú tại Hoàng Mai
+ Phải có phương án trả nợ, có nguồn trả nợ: lương, trợ cấp, thu nhập khác + Có mục đích sử dụng vốn hợp pháp
+ Tổ chức nơi người vay làm việc cam kết trích thu nhập hàng thángtrả cho Ngân hàng khi người vay không trả được nợ theo thoả thuận
+ Có giấy xác nhận của cơ quan quản lý và chi trả thu nhập
Hồ sơ vay vốn bao gồm:
+ Đơn đề nghị vay vốn kiêm phương án trả nợ (mẫu in sẵn củaNgân hàng)
Trang 25+ Bản sao Hợp đồng lao động của người vay vốn.
+ Giấy CMND, bản sao hộ khẩu thường trú
+ Giấy xác nhận của tổ chức quản lý và chi trả lương nơi người xin vayvốn đang làm việc Chứng nhận về việc làm, thời gian công tác, hệ số lương
+ Theo dõi khoản vay, thu nợ hoặc xử lý khoản nợ vay trả trư ớc hạnhoặc quá hạn( nếu có phát sinh)
Các thông tin khác về khoản vay:
+ Mức cho vay: Phải phù hợp với nhu cầu vay vốn và khả năng trả nợcủa người vay
+ Thời hạn cho vay: Thời hạn tối đa 5 năm và không dài hơn thời hạnlao động còn lại trong hợp đồng lao động, thời hạn công tác trước nghỉ hưu + Lãi suất cho vay: Được áp dụng theo biểu lãi suất cho vay của Ngânhàng Lãi được trả hàng tháng
+ Lịch trả nợ: Ngân hàng thực hiện thu nợ gốc định kỳ theo sự thoảthuận giữa Ngân hàng với khách hàng
1.5.2 Quy trình cho vay tiêu dùng có tài sản bảo đảm.
Tài sản bảo đảm mà Ngân hàng chấp nhận cho vay là giấy tờ có giá, nhà
Trang 26và đất.
Giấy tờ có giá bao gồm: Giấy tờ có giá của NHNo & PTNT, sổ tiếtkiệm, trái phiếu do Kho bạc nhà nước và các Ngân hàng thương mại quốcdoanh phát hành
Nhà, đất của người vay phải bảo đảm: Nhà, đất có sổ đỏ, ở nơi có vịtrí thuận tiện về mọi mặt
Đối tượng vay vốn: Cá nhân là công dân Việt Nam, có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự.
Điều kiện vay vốn:
Có hộ khẩu thường trú tại Hoàng Mai
Có phương án trả nợ, có tài sản bảo đảm cho khoản vay
Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp
Hồ sơ vay vốn bao gồm:
Đơn xin vay vốn - nêu rõ mục đích vay vốn, tình hình tài chính,nguồn trả nợ
Loại tài sản thế chấp: Nếu là giấy tờ có giá thỡ trỡnh cỏc giấy tờ cógiá đó, nếu là nhà, đất thì phải có hồ sơ về nhà
Giấy tờ chứng minh mục đích sử dụng vốn vay (nếu có)
Hồ sơ nhân thân người vay, chủ sở hữu tài sản thế chấp: CMND, hộkhẩu, nghề nghiệp, thu nhập
Thủ tục cho vay:
Tiếp nhận hồ sơ
Thẩm định cho vay
Xét duyệt cho vay
Hoàn tất hồ sơ tín dụng và giải ngân
Cán bộ tín dụng có trách nhiệm phong toả tài sản bảo đảm nếu tài sảnbảo đảm là sổ tiết kiệm, để cho khách hàng không thể rút tiền hoặc mang sổtiết liện đi vay ở Ngân hàng khác và thu các giấy tờ có giá khác như kỳ phiếu,
Trang 27trái phiếu.
Đối với tài sản bảo đảm là nhà/đất thì cán bộ tín dụng tiến hành ký hợpđồng giao giấy tờ nhà/đất của khách hàng cho Ngân hàng tại cơ quan côngchứng nhà nước
Theo dõi khoản nợ, thu nợ và xử lý các trờng hợp trả nợ sai hợp đồng
Các thông tin khác về khoản vay:
Mức cho vay: Phù hợp với nhu cầu vay vốn và khả năng trả nợ củangười vay:
Đối với tài sản Bảo đảm là các giấy tờ có giá thì giá trị khoản vaykhông vượt qua 90% giá trị của giấy tờ có giá
Đối với tài sản Bảo đảm là nhà, đất thì giá trị của khoản vay khôngvượt quá 60% giá trị tài sản thế chấp mà Ngân hàng đã định giá
Thời hạn cho vay phù hợp với nhu cầu vay vốn của khách hàng vàkhả năng cho vay của Ngân hàng
Lãi suất cho vay: áp dụng biều lãi suất cho vay chung củaNHNo&PTNT Việt Nam
Lịch trả lãi và gốc: Lãi được trả hàng tháng, gốc được trả một lần đốivới các khoản vay ngắn hạn và được trả theo kỳ hạn 6 tháng và 1 năm đối vớicác khoản vay trung và dài hạn
1.5.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến cho vay tiêu dùng
Cũng như các hình thức cho vay khác CVTD chịu ảnh hưởng của các nhântố chủ quan và các nhân tố khách quan như môi trường kinh tế, môi trườngpháp lý, khách hàng… và cả chính bản thân Ngân hàng
Có thể chia các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động CVTD của các NHTMthành 2 nhóm:
Nhóm nhân tố thuộc về môi trường hoạt động của Ngân hàng:
Môi trường kinh tế:
Môi trường kinh tế bao gồm mọi hoạt động của tất cả các thành phần kinh
Trang 28tế mà đặc trưng của nó là trình độ phát triển kinh tế, thu nhập quốc dân, thunhập bình quân đầu người… Bất kỳ sự biến động nào của các hoạt động kinh
tế đều ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các lĩnh vực còn lại.Hơn nữa, hoạt động của các NHTM được coi là chiếc cầu nối giữa các lĩnhvực khác nhau của nền kinh tế, vì vậy, sự ổn định hay bất ổn, tăng trưởngnhanh hay chậm của nền kinh tế sẽ tác động mạnh mẽ tới hoạt động của Ngânhàng, đặc biệt là hoạt động tín dụng nói chung và tín dụng tiêu dùng nóiriêng Một môi trường kinh tế lành mạnh, các chủ thể kinh tế hoạt động cóhiệu quả và có sự tham gia của các chủ thể kinh tế khác góp phần thúc đẩyquy mô tín dụng lên cao Ngược lại, nếu môi trường kinh tế có những biếnđộng khó lường hay trong tình trạng khó khăn, các kế hoạch hay dự tính khócó có thể chính xác được thỡ cỏc chủ thể kinh tế sẽ có xu hướng co cụm tronghoạt động của mình hoặc rút khỏi nền kinh tế hay lâm vào tình trạng khó khăn
về tài chính Chính những điều này làm quy mô tín dụng tụt giảm xuống Khinền kinh tế bước vào giai đoạn suy thoái và khủng hoảng thì chất lượng tíndụng cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng do thu nhập của người dân giảm sútdẫn đến giảm khả năng trả nợ cho Ngân hàng, rủi ro vì đó mà tăng lên
Môi trường xã hội:
Các nhân tố xã hội như: Niềm tin, tình hình trật tự an ninh và an toàn xãhội, trình độ dân trí, bản sắc dân tộc… ảnh hưởng trực tiếp tới các tác nhânchính tham gia vào các quan hệ tín dụng Ngân hàng, đó là Ngân hàng vàkhách hàng Chất lượng CVTD của Ngân hàng có cao hay không phụ thuộcmột phần vào thiện chí trả nợ của khách hàng, vào nét tính cách tiêu biểu củangười dân như tính cần cù, trung thực, ham lao động và tằn tiện hay là ưathích hưởng thụ…
Người dân Việt Nam có thói quen tiết kiệm để mua sắm nhà ở trong tươnglai khi có thể Sau đó mới nghĩ đến việc hưởng thụ; Bởi vậy, họ không có tưtưởng vay để sống sung túc trong cảnh nợ nần Yếu tố thu nhập ảnh hưởng
Trang 29trực tiếp đến nhu cầu vay tiêu dùng Những người có thu nhập cao thường cóthói quen mua sắm hưởng thụ cao hơn
Xu hướng di dõn từ nông thôn ra thành phố cũng là yếu tố tác động đến sự
mở rộng tín dụng tiêu dùng của các NHTM Việc tập trung ngày càng đông ởcác đô thị cộng với thu nhập cao sẽ đẩy nhu cầu vay tiền thoả mãn việc muasắm xây dựng nhà cửa tăng lên, mở rộng thị trường cho các NHTM
Đối thủ cạnh tranh
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, sự xuất hiện của các đối thủ cạnhtranh là khó tránh khỏi trong tất cả các lĩnh vực kinh tế nói chung cũng nhưtrong hoạt động CVTD nói riêng Các đối thủ cạnh tranh rất đa dạng và phứctạp, đó có thể là các đối thủ cũ, cũng có thể là các đối thủ mới, thậm chí là cácđối thủ còn chưa hoạt động trên thị trường Sự xuất hiện này dẫn đến thịtrường CVTD bị chia nhỏ Tuy nhiên, cạnh tranh không phải để thắng thuamà cạnh tranh để cùng phát triển Điều quan trọng là các Ngân hàng phải hiểuđối thủ, tìm ra bản sắc riêng của mình để không những giữ chân khách hàngmà còn thu hút thêm khách hàng mới
Môi trường pháp lý:
Do đặc thù của ngành Ngân hàng luôn mang tính rủi ro cao và sự đổ vỡ cótính chất dây chuyền, do đó kinh doanh Ngân hàng luôn phải chịu sự giám sátchặt chẽ của pháp luật Môi trường pháp lý sẽ đem đến cho Ngân hàng những
cơ hội mới và cả những thách thức mới Môi trường pháp lý thường sẽ giỳpcỏc Ngân hàng tránh được những rủi ro Do vậy, một Ngân hàng luôn luôncần chủ động điều chỉnh hoạt động kinh doanh sao cho phù hợp với nhữngquy định mới, phân tích và dự báo được những xu hướng thay đổi của môitrường pháp luật từ đó đưa ra những quyết sách phù hợp nhất với xu thếchung, nâng cao khả năng cạnh tranh của Ngân hàng
Khách hàng vay vốn.
Khách hàng vay vốn là nhân tố mang tính quyết định đến chất lượng của
Trang 30tín dụng, đặc biệt là tín dụng tiêu dùng Nhân tố này được xem xét đến dựatrên các mặt như đạo đức của khách hàng, tính trung thực của khách hàngv.v… Đạo đức của khách hàng được đánh giá trên năng lực pháp lý và độ tínnhiệm nó là yếu tố quyết định đến hành vi trả nợ của khách hàng Khách hàngphải có năng lực pháp lý để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho doanh nghiệp trongquan hệ tín dụng Mức tín nhiệm của khách hàng liên quan đến sự sẵn lòng vàthiện chí thực hiện hợp đồng.
Trên thực tế, nguồn trả nợ cho Ngân hàng trong CVTD là một vấn đề quantrọng Đa số thu nhập thường xuyên của khách hàng trong tương lai là nguồntrả nợ chính của khách hàng, khách hàng có thu nhập càng cao thì việu trả nợđịnh kỳ càng ít ảnh hưởng tới các chi tiêu khác, đặc biệt là chi tiêu thườngxuyên của khách hàng, ít ảnh hưởng tới tình hình tài chính của khách hàng vàkhoản vay càng an toàn Tuy vậy, ở thực tế để xác định được thu nhập thườngxuyên ở Việt Nam là rất khó khăn vì đa số họ không giao dịch thanh toán quaNgân hàng, giao dịch tiền mặt còn chiếm tỷ trọng lớn Việc đảm bảo thựchiện tiền vay của khách hàng là thiết lập cớ sở pháp lý để cú thờm một nguồnthu nợ thứ hai, giảm nhiều rủi ro cho Ngân hàng khi cấp ra một khoản tíndụng Tài sản đảm bảo là một trong những điều kiện xét duyệt cho vay nhưngkhông phải là tiêu chuẩn quan trọng nhất để ra quyết định cho vay
Môi trường công nghệ:
Sự ra đời và phát triển của công nghệ hiện đại đã làm thay đổi bộ mặt củangành Ngân hàng Công nghệ mới cho phép Ngân hàng đổi mới không chỉquy trình nghiệp vụ mà còn đổi mới cả cách thức phân phối, đặc biệt là pháttriển sản phẩm dịch vụ mới như sự phát triển của mạng lưới máy tính chophép Ngân hàng cung cấp các dịch vụ Ngân hàng điện tử, có thể phục vụkhách hàng 24/24 Phương thức trao đổi giữa khách hàng và Ngân hàng cũngrất nhạy cảm đối với các tiến bộ công nghệ Trong cạnh tranh, người quản lýNgân hàng phải tìm ra những lợi thế về công nghệ của Ngân hàng, đánh giá,
Trang 31xác định rõ khoảng cách về công nghệ giữa Ngân hàng mình và các Ngânhàng đối thủ trong và ngoài nước Công nghệ Ngân hàng càng tốt, khả năngbảo mật càng cao, tốc độ giao dịch nhanh, chính xác thì càng nâng cao khảnăng cạnh tranh, đáp ứng càng tốt nhu cầu của khách hàng.
Nhóm nhân tố của chính bản thân Ngân hàng.
CVTD ở các NHTM không chỉ chịu ảnh hưởng của các nhân tố kháchquan mà còn chịu ảnh hưởng của các nhân tố thuộc chính bản thân Ngân hàngnhư chính sách, tài sản, cán bộ nhõn viờn…
Vốn tự có của Ngân hàng
Vốn tự có đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động Ngân hàng vì Ngânhàng là một doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực đặc biệt đó là kinh doanhtiền tệ Tuy nhiên, nguồn vốn này chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồnvốn của Ngân hàng nhưng nó là cơ sở để thu hút các nguốn vốn khác và khởiđầu tạo uy tín cho Ngân hàng Theo luật các tổ chức tín dụng thì Ngân hàngkhông được phép cho một tổ chức nào vay quá 15% vốn tự có của mỡnh nờnkhi Ngân hàng có vốn tự có lớn thì khả năng mở rộng tín dụng cao sẽ caohơn Cũng chính sức mạnh của vốn tự có này giúp Ngân hàng có thể chịuđựng khi nền kinh tế gặp khó khăn hay tình hình hoạt động của Ngân hàngkhông tốt
Chính sách tín dụng:
Chính sách tín dụng bao gồm các yếu tố hạn mức cho vay đối với mộtkhách hàng, kì hạn của khoản tín dụng, lãi suất cho vay và mức lệ phí, cácloại cho vay được thực hiện, tài sản đảm bảo và khả năng thanh toán nợ củakhách hàng, hướng giải quyết phần tín dụng vượt qua giới hạn, các khoản vaycó vấn đề… Tất cả các yếu thuộc chính sách tín dụng đúng đắn, hợp lý và linhhoạt, đáp ứng được nhu cầu đa dạng của khách hàng về vốn thì Ngân hàng sẽthành công trong việc mở rộng tín dụng và đảm bảo chất lượng tín dụng.Ngược lại, nếu các yếu tố chính sách đều cứng nhắc, không hợp lý, không đáp
Trang 32ứng được nhu cầu đa dạng về vốn của khách hàng thì Ngân hàng không thểthực hiện mục tiêu mở rộng quy mô tín dụng của mình Trong cơ chế thịtrường, sự cạnh tranh gay gắt xảy ra giữa các Ngân hàng trong việc thu hútkhách hàng thì chính sách tín dụng đúng đắn, linh hoạt là hết sức quan trọng.Ngân hàng càng đa dạng hoá mức lãi suất phù hợp với từng loại khách hàng,từng kỳ hạn cho vay và cú cỏch xử lý đúng đắn các khoản nợ của khách hàng,có chính sách khách hàng, chính sách sản phẩm hấp dẫn thì càng thu hút đượcnhiều khách hàng
Quy trình cấp tín dụng:
Sự tôn trọng và kết hợp nhịp nhàng trong các bước sẽ tạo điều kiện choNgân hàng phát hiện kịp thời các khuyết điểm, nắm được diễn biến của khoảntín dụng để có biện pháp can thiệp kịp thời, sớm ngăn chặn hạn chế rủi ro cóthể xảy ra Song trong khi thực hiện cần phải áp dụng linh hoạt trong từngtrường hợp để không gây khó khăn cho khách hàng vì quá nhiều thủ tục rườmrà, quá nhiều công đoạn làm mất khả năng thu hút được nhiều khách hàng vàcảm tình của họ khi quan hệ với Ngân hàng
Thông tin tín dụng:
Đây là các thông tin về thị trường, về khách hàng, về tình hình tài chính,năng lực của khách hàng, thông tin về tình hình kinh tế xã hội, xu hướng pháttriển và khả năng cạnh tranh của chính Ngân hàng mỡnh… Cỏc thông tin nàygiúp Ngân hàng chủ động trong việc cung cấp tín dụng và đánh giá rủi ro mộtcách chính xác hơn về các khoản tín dụng của mình Thông tin đầy đủ, chínhxác, kịp thời giúp cho Ngân hàng ngăn chặn hạn chế những rủi ro tiềm năngvà giữ được khách hàng tốt cho mình
Chất lượng nhân sự và cơ sở vật chất thiết bị:
Chất lượng nhân sự và cơ sở vật chất thiết bị là 2 nhân tố quan trọng trongchiến lược mở rộng tín dụng, đặc biệt là tín dụng tiêu dùng Chất lượng nhânsự bao gồm cả hai yếu tố đó là đạo đức nghề nghiệp và trình độ nghiệp vụ
Trang 33Dưới con mắt của khách hàng, cán bộ tín dụng là hình ảnh của Ngân hàng.Ngân hàng có đội ngũ cán bộ tín dụng lấy được lòng khách hàng thì sẽ thu hútđược nhiều khách hàng đến với Ngân hàng mình, và đội ngũ cán bộ tín dụngđó phải có trình độ nghiệp vụ cao, khi đó Ngân hàng sẽ tránh được những rủi
ro tín dụng không đáng có trong quá trình cung cấp tín dụng
Cơ sở vật chất thiết bị phục vụ hoạt động tín dụng cũng có ảnh hưởng sâusắc tới việc thu hút khách hàng cũng như mục tiêu mở rộng tín dụng Việctrang bị đầy đủ các thiết bị tiên tiến, phù hợp với phạm vi và quy mô hoạtđộng, phục vụ các yêu cầu của khách hàng sẽ giảm chi phí và giúp Ngân hàngnâng cao được khả năng cạnh tranh của Ngân hàng