Trong thiên hạ, cái rất mềm làm chủ cái rất cứng” “muốn làm yếu đi, ắt hãy làm cho mạnh lên đấy; muốn vật suy tàn hãy làm cho nó hưng lên; muốn đoạt, hãy cho nó đi” “Thánh nhân dấu mình
Trang 1CHƯƠNG I
Trang 4(Trí tuệ) (Triết) (Khẩu)
HAI CÁCH LÝ GIẢI THUẬT NGỮ “TRIẾT” TRONG HÁN TỰ
Biên soạn: PHẠM VĂN SINH – Trường Đại học Kinh tế Quốc dân - 2006
(Trí tuệ) (Triết) (Khẩu)
HAI CÁCH LÝ GIẢI THUẬT NGỮ “TRIẾT” TRONG HÁN TỰ
Biên soạn: PHẠM VĂN SINH – Trường Đại học Kinh tế Quốc dân - 2006
Trang 5(Con đường suy ngẫm để con người đạt tới
“Chân lý thiêng liêng”)
Tương truyền Đức Phât
Thichca sau 49 ngày thiền
định dưới gốc cây Bồ Đề
mà đã thấu tỏ Chân lý
cuộc sống (Tứ diệu đế)
Trang 6Trường Athens (Bức họa của Raphael-TKXV)
Trang 7Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí, vai
trò của con người trong thế giới ấy.
Định nghĩa triết học
Trang 82 Đối tượng nghiên cứu của triết học
Trang 93 Các tiền đề ra đời của triết học
Trang 10• Khái niệm vấn đề cơ bản của triết học
• Vì sao vấn đề đó là vấn đề cơ bản của triết học
• Hai mặt của vấn đề cơ bản của triết học
Trang 11• Trong tác phẩm L Phơ bách và sự cáo chung
của triết học cổ điển Đức, Ph.Ăngghen định
nghĩa:
“Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là
triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại”.
Trang 12• Đây là mối quan hệ bao trùm của mọi sự vật hiện tượng trong thế giới
• Đây là vấn đề nền tảng và xuất phát điểm để giải quyết những vấn đề còn lại của TH
• Là tiêu chuẩn để xác định lập trường, thế giới quan của triết gia và học thuyết của họ
• Các học thuyết triết học đều trực tiếp hay gián tiếp phải giải quyết vấn đề này
Trang 13-Cô lập sự vật
Trang 14Nguyên lý Âm Dương thể hiện trong hội họa (Sáu bức họa chủ đề “HOA ĐIỂU” được chọn lọc qua các đời Tống-Nguyên -Minh – Thanh)
“HOA ĐIỂU HỌA TINH HOA”
“LƯỠNG LONG TRIỀU NGUYỆT”
(Biểu tượng của “QUẺ LY”
Trong “BÁT QUÁI” ) CŨNG LÀ MỘT BIỂU TƯỢNG TRONG
VĂN HÓA TRUNG QUỐC & ĐÔNG Á
Trang 17Các trình độ (loại hình) thế giới quan
Trang 181 Triết học Ấn Độ cổ đại
a Điều kiện kinh tế - xã hội
- Điều kiện tự nhiên
- Về kinh tế: Kinh tế tiểu nông nghiệp kết hợp với
thủ công nghiệp gia đình mang tính tự cung, tự cấp lấy gia đình, gia tộc của người Arya làm cơ
sở, đã tạo nền tảng vững chắc cho các công xã
nông thôn ra đời, toàn bộ ruộng đất đều thuộc
quyền sở hữu nhà nước của các đế vương
Trang 20- Về xã hội: nhà nước kết hợp với tôn giáo thống trị nhân dân và bóc lột nông nô công xã.
-Hình thành 4 đẳng cấp với sự phân biệt hết sức khắc
nghiệt và dai dẳng:
+ Tăng lữ - bao gồm những người hành nghề tế lễ;
+ Quí tộc - bao gồm vua chúa, tướng lĩnh;
+ Bình dân tự do - bao gồm những người có chút ít tài
sản, ruộng đất;
+ Nô lệ, những người tận cùng không có quyền lợi gì
trong xã hội (có 15 loại nô lệ)
Trang 21- Thứ nhất, do chịu ảnh hưởng bởi tinh thần Vêđa
mà triết học Ấn Độ cổ đại không thể phân chia rõ ràng thành chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, phép biện chứng và phép siêu hình, mà luôn
có sự đan xen, hòa quyện;
Trang 22-Thứ hai, do chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi các tư
tưởng tôn giáo mà triết học Ấn Độ cổ đại thường là
một bộ phận lý luận quan trọng tạo nên nội dung giáo lý của các tôn giáo lớn, có xu hướng "hướng nội" đi sâu tìm hiểu đời sống tâm linh, tinh thần để phát hiện ra sức mạnh của linh hồn cá nhân con người
Trang 23- Thứ ba, triết học Ấn Độ cổ đại đã đặt ra nhiều vấn
đề, song nó rất quan tâm đến việc giải quyết các
vấn đề thuộc về lĩnh vực nhân sinh, nhằm tìm kiếm con đường giải thoát chúng sinh ra khỏi thực tế
khắc nghiệt của cuộc sống do chế độ đẳng cấp tạo ra
Trang 24Cuối thiên
niên kỷ II,
tr.CN
Thế kỷ VII, tr.CN
thời kỳ Phật giáo
Kinh
Vêđa UpanishadKinh
Thế kỷ I, tr.CN
Bộ sử thi Ramayana và
Trang 252 Triết học Trung Hoa cổ đại
a.Điều kiện lịch sử ra đời
Cốc, Đường Nghiêu, Ngu Thuấn và Hạ
Vũ
TK XVI tr.CN
XXI-Vương triều Hạ Dân biết dùng đồng đỏ, chữ viết chưa có, dân
cư sống phân tán
TK XVI-XII tr.CN Vương triều Thương
Dân sống định canh, định cư;
biết dùng đồng thau, khai khẩn ruộng đất và
thực hiện đường lối tỉnh điền
TK XII-221 tr.CN Vương triều Chu
Trang 26- Khổng Tử (551-479 TCN) là người sáng lập ra
Nho giáo vào cuối thời Xuân Thu Khổng Tử tên Khâu, hiệu Trọng Ni, người nước Lỗ (Sơn Đông) là một nhà tư tưởng, nhà giáo dục lớn và đầu tiên của Trung Quốc;
- Vạn vật luôn vận động, “mọi vật đều trôi đi, không có ngừng nghỉ”
- Tin ở trời, trời là quan tòa phán xét mọi việc, quyết định sự thành bại của con người
Trang 27- Mọi người phục tùng ý chí của trời, gọi đó là thiên
mệnh “sống chết tại mệnh, giàu sang là ý của trời”;
-Thừa nhận sự tồn tại của quỷ thần, nhưng đề cao
nỗ lực, trí tuệ của mỗi cá nhân;
-Quan điểm về “chính danh”;
-Quan điểm về “ngũ luân”; “tam cương”, chống
“cha truyền con nối”;
Trang 28- Người cầm quyền phải có đức, có tài, không cần tính đến nguồn gốc xuất thân; có đức nhân là minh quân, bề trên chính trực;
- Vua: đảm bảo cho dân được no ấm, xây dựng lực lượng quân sự hùng hậu; chiếm được lòng tin của dân; nếu thiếu lòng tin của dân, sớm muộn chính quyền cũng sẽ sụp đổ;
- Nhà cầm quyền: phân việc cho người dưới quyền; dung thứ lỗi nhỏ; dùng người hiền đức, tài cán;
Trang 29- Không nên lạm dụng luật pháp vì tạo ra sợ sệt, hận thù; ổn định xã hội nhất thiết phải bằng đức hạnh,
lễ nghĩa để cảm hóa con người, điều tiết quan hệ xã hội;
- Quan điểm về nhân, lễ, trí, dũng;
- Xây dựng mẫu người lý tưởng quân tử; “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”
- Quan điểm về “trung dung”, hài hòa, đừng thái quá, không thiên lệch
Trang 30-Về tính nguời: "tính tương cận, tập tương viễn",
tức là tính của con nguời khi sinh ra vốn là giống nhau, gần nhau, nhưng do tập nhiễm mà thành ra xa nhau, khác nhau, kẻ hiền nguời ác
-Về các hạng nguời: Trong xã hội con nguời có sự phân biệt về nhân cách và địa vị thành ba hạng là quân tử, kẻ sĩ và tiểu nhân
Trang 31- Về giáo dục: học có ba mục đích: Học để hiểu
biết, học để hoàn thiện nhân cách, học để làm việc Ông chủ trương “hữu giáo vô loại”, giáo dục không phân biệt đẳng cấp, bất cứ ai Nhưng, với dân, việc gì cần thiết thì sai khiến, không nên giảng giải;
- Mục đích cao nhất của việc học là để nhậm chức triều đình, tham gia gánh công việc quốc gia, để hiểu kỷ cương của xã hội mà tuân theo;
Trang 32- Đối với học trò: phải biết nghe nhiều, học nhiều; xóa bỏ sự thụ động:
“Kẻ nào không cố công tìm kiếm, ta chẳng chỉ vẽ
Kẻ nào không bộc lộ tư tưởng của mình, ta chẳng khai sáng cho Kể nào ta dạy một mà không biết hai ta chẳng dạy nữa” (Luận ngữ)
Trang 33- Đề cao ứng dụng những việc đã học vào trong cuộc sống:
“Những ai đã đọc thuộc hết 300 thiên trong Kinh Thi,… mà cai trị chẳng xuôi,… người ấy học nhiều cũng trở nên vô ích” (Luận ngữ)
Trang 34- Vai trò của giáo dục: ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực thi lẽ công bằng, tôn ti trật tự, hình
thành ý thức đạo đức của mỗi người;
- Coi trọng nguyên tắc làm gương; “thuyết giáo tùy nghi”, thông qua ngôn ngữ, hành vi của người học để xác định nội dung giáo dục phù hợp; (???)
- Quan điểm về dân: niềm tin- dân làm gốc, nhưng dân được coi là tiểu nhân, “hạ ngu”; thể hiện giá trị giả của bộ mặt đạo đức giả;
Trang 35- Thảo luận:
+ Giá trị và hạn chế tư tưởng Nho giáo? (về thế giới quan, nhân sinh quan, quy luật vận động của xã hội, giáo dục, …)
+ Ảnh hưởng đến Việt Nam? (đối với xã hội, tư duy, giáo dục,…)
Trang 36• Đạo gia được Lão Tử (khoảng thế kỷ VI TCN),
còn gọi là Lão Đam, tên Lý Nhĩ, người nước Sở,
sáng lập ra; và sau đó, Trang Tử (369-286 TCN),
người nước Tống phát triển thêm vào thời Chiến quốc
+ Đạo là phạm trù triết học vừa để chỉ bản nguyên
vô hình, phi cảm tính, phi ngôn từ, sâu kín, huyền diệu của vạn vật
+ Đức là thể hiện sức mạnh tiềm ẩn của đạo, là cái
hình thức nhờ đó vạn vật được định hình
Trang 37+ Đạo sinh ra vạn vật, đức nuôi nấng, bảo tồn vạn vật Vạn vật nhờ đạo mà được sinh ra, nhờ đức mà
thể hiện, và khi mất đi là lúc vạn vật quay trở về với đạo
+ Đạo vừa mang tính khách quan (vô vi) vừa mang tính phổ biến; vì vậy, trong thế giới, không đâu
không có đạo, không ai không theo đạo
Trang 38+ Trong vạn vật, các mặt đối lập không chỉ thống nhất mà chúng còn xung đột, đấu tranh, chuyển hóa lẫn nhau tạo ra sự thay đổi, biến hoá không ngừng của vạn vật trong vũ trụ
+ Luật quân bình: vũ trụ vận động, biến hóa trong trạng thái cân bằng, theo trật tự điều hòa tự nhiên, không thái quá,
“ Gãy thì liền, cong thì thẳng, ít thì được, nhiều thì mất”
Trang 39+ Quy luật phản phục: cái gì phát triển đến tột đỉnh
thì sẽ trở thành cái đối lập với nó.
“Vật hễ thêm nó, thì nó lại bớt, bớt nó, nó lại thêm Trong thiên hạ, cái rất mềm làm chủ cái rất cứng”
“muốn làm yếu đi, ắt hãy làm cho mạnh lên đấy; muốn vật suy tàn hãy làm cho nó hưng lên; muốn đoạt, hãy cho nó đi”
“Thánh nhân dấu mình ở sau nên thân được ở trước, Biết đủ không nhục, biết ngừng không nguy”
Trang 40• Về thuyết vô vi: Vô vi là sống và hành động theo lẽ tự
nhiên, thuần phác, không giả tạo, không gò ép trái với bản tính của mình và ngược với bản tính của tự nhiên; là từ bỏ tính tham lam, vị kỷ để không làm mất đức Chỉ khi nào từ bỏ được thói tư lợi thì mới nhận
thấy đạo; và chỉ khi nhận thấy đạo mới có thể vô vi
được.
• Lão Tử cho rằng hành động hay nhất là đừng can
thiệp đến việc đời, nhưng, nếu đời cần ta phải làm thì ta hãy làm cái không làm một cách kín đáo, khéo
léo
Trang 41• Hàn Phi Tử (280-233 TCN)
+ Thừa nhân tính qui luật của những lực lượng khách
quan mà ông gọi là lý Lý chi phối mọi sự vận động
của tự nhiên và xã hội Ông yêu cầu con người phải
nắm lấy cái lý của vạn vật luôn luôn biến hóa mà
hành động cho phù hợp
+ Không có quỷ thần, tin vào quỷ thần sẽ mất nước, thất bại
Trang 42+ Thừa nhận sự biến đổi của đời sống xã hội Do
không có chế độ xã hội nào bất di bất dịch nên không có khuôn mẫu chung cho mọi xã hội
+ Người thống trị phải căn cứ vào nhu cầu khách quan của lịch sử, đặt ra chính sách cho thích hợp
+ Không có một thứ pháp luật nào luôn luôn đúng
với mọi thời đại Pháp luật mà biến chuyển được theo thời đại thì thiên hạ trị, còn thời thế thay đổi
mà phép trị dân không thay đổi thì thiên hạ loạn
Trang 43+ Do bản tính con người là ác và do trong xã hội người tốt cũng có nhưng ít, còn kẻ xấu thì rất nhiều nên muốn xã hội yên bình, không nên trông chờ vào số ít, mong chờ họ làm việc thiện (thực hành nhân nghĩa trị), mà phải xuất phát từ số đông, ngăn chặn không cho họ làm điều ác (thực hiện pháp trị)
Trang 44- Tư tưởng về pháp, thế và thuật:
+ Pháp được hiểu là qui định, luật lệ có tính chất
khuôn mẫu mà mọi người trong xã hội phải tuân theo; là tiêu chuẩn khách quan để định rõ danh phận, trách nhiệm của con người trong xã hội
Bậc minh chủ sai khiến bề tôi, không đặt ý ngoài pháp, không ban ơn trong pháp, không hành động trái pháp
Trang 45+ Thế được hiểu là địa vị, thế lực, quyền uy của
người cầm đầu chính thể Địa vị, thế lực, quyền uy
đó của người trị vì phải là độc tôn (Tôn quân quyền).
Theo Hàn Phi Tử, thế quan trọng đến mức có
thể thay thế vai trò của bậc hiền nhân Muốn thi hành được pháp thì phải có thế Pháp và thế không tách rời nhau
Trang 46+ Thuật là phương pháp, thủ thuật, cách thức,
mưu lược khiển việc, khiến người ta triệt để thực hiện mệnh lệnh mà không hiểu người sai dùng họ như thế nào
Vua phải dùng pháp như trời, dùng thuật như quỷ Và nếu pháp được công bố rộng rãi trong dân,
thì thuật là cơ trí ngầm, là thủ đoạn của vua được dấu kín Nhờ Thuật mà vua chọn được người tài năng, trao đúng chức vụ quyền hạn, và loại được kẻ bất tài
Trang 47- Một là, triết học Trung Hoa cổ đại là một hệ
thống đồ sộ, bao quát nhiều vấn đề triết học,
nhưng nó chủ yếu tập trung giải quyết những vấn
đề do thực tiễn đạo đức - chính trị - xã hội của
thời đại đặt ra
- Hai là, triết học Trung Hoa cổ đại bàn nhiều về vấn đề con người, đặc biệt là nguồn gốc, số phận,
bản tính… của con người
Trang 48- Ba là, triết học Trung Hoa cổ đại cũng bị chi phối
bởi cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm; nhưng đó là cuộc đấu tranh xung
quanh vấn đề con người; giữa Con người với
Trời, Đất là vấn đề mang tính xuyên suốt;
- Bốn là, các trường phái triết học Trung Hoa cổ
đại không chỉ phê phán, xung đột nhau mà còn
biết hấp thụ những tư tưởng của nhau để bổ
sung, hoàn chỉnh lý luận của chính mình
Trang 49- Những nét đặc trưng của tư tưởng Việt Nam:
+ Tư tưởng triết học VN chưa có hệ thống, chưa có trường phái và các tác phẩm triết học chuyên biệt, được thể hiện trong văn, sử, y, đạo đức,
+ Cuộc đấu tranh giữa CNDV và CNDT không rõ nét + Quan niệm về dân tộc độc lập và quốc gia có chủ quyền mang tính hệ thống
Trang 50- Những nét đặc trưng của tư tưởng Việt Nam:
+ Đạo làm người là tư tưởng nổi bật trong lịch sử
tư tưởng VN
+ Tư tưởng yêu nước:
Trang 51- Một số nhà tư tưởng tiêu biểu:
+ Trần Nhân Tông (1258 – 1308), tên thật là Trần Khâm là vị vua thứ ba của nhà Trần (sau vua cha
Trần Thánh Tông và trước Trần Anh Tông) Ông là con trai trưởng của vua Trần Thánh Tông, Ông được sử sách ca ngợi là một trong những vị vua anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam
Trang 52- Một số nhà tư tưởng tiêu biểu:
+ Trần Nhân Tông - tư tưởng chủ yếu
- Về bản thể luận: chân như, thực tướng, chân không, là lòng trong sạch, Phật, tính sáng, báu vật (hay báu vật bên trong mỗi con người), là khởi nguyên, cội nguồn hay là bản thể của toàn vũ trụ
• Về vị trí, vai trò con người trong cuộc sống, về thái độ sống tu luyện đạo đức và trí tuệ để đạt tới giải thoát hết sức sâu sắc
Trang 53- Một số nhà tư tưởng tiêu biểu:
+ Nguyễn Trãi (1380 - 1442) hiệu là Ức Trai, là con
của Nguyễn Phi Khanh, cháu ngoại của quan tư
đồ Trần Nguyên Đán, quê ở Thường Tín, Hà Tây+ Ông là một nhà yêu nước lớn của dân tộc ta vào nửa đầu thế kỷ XV
Trang 54- Một số nhà tư tưởng tiêu biểu:
+ Nguyễn Trãi – tư tưởng chủ yếu:
* Quan điểm về thiên mệnh, về trời đất và con người: chịu ảnh hưởng của Khổng Tử “Trên có trời đất quỷ thần, dối trời lừa vua rồi bảo rằng trời cao Lưới trời lồng lộng không thể trốn“
* Nhân nghĩa, trước hết được gắn chặt với tư tưởng vì dân và an dân
* Lòng thương người, ở sự khoan dung độ lượng
Trang 55- Một số nhà tư tưởng tiêu biểu:
+ Hồ Chí Minh (1890 – 1969)
+ Những tư tưởng chủ yếu