Sự phát triển của tư duy trừu trượng và năng lức khái quát trong quá trình nhận thức dẫn đến hình thành các quan điểm, quan niệm chung nhất về thế giới và về vai trò của con người trong
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHENIKAA KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN
⸎⸎⸎⸎⸎
BÀI TẬP LỚN HỌC PHẦN TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
Chương 1 - Khái luận về triết học và triết học Mác – Lênin
Sinh viên : NGUYỄN LÊ NGÂN
Lớp : Triết học Mác - Lê nin-1-2-22(N08)
Mã SV : 22011455
Giảng viên hướng dẫn : ThS Đồng Thị Tuyền
HÀ NỘI, THÁNG 2/2023
Trang 2A PHÂN TÍCH THEO QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC – LENIN VỀ VẤN ĐỀ
CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC?
1 Nguồn gốc ra đời của Triết học nói chung
So với các khoa học khác, thì Triết học ra đời rất sớm, vào khoảng thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ VII trước Công nguyên Triết học ra đời gần như đồng thời ở cả phương Đông (Trung Quốc, Ấn Độ) và phương Tây (Hy Lạp) Con người đã sáng tạo
ra những luận thuyết chung nhất, có tính hệ thống phản ánh thế giới xung quanh và thế giời của con người nhằm đáp ứng nhu cầu về nhận thức và hoạt động thực tiễn của mình Triết học là hoạt động tinh thần bậc cao, là loại hình nhận thức có trình độ trìu tượng hóa và khái quát hóa rất cao Triết học tồn tại với tính cách là một hình thái ý thức xã hội, triết học nào cũng có tham vọng xây dựng nên bức tranh tổng quát nhất
về thế giới và con người (gtrinh Triết, tr7)
Để một trường phái Triết học ra đời, thì cần phải hội tụ đủ hai nguồn gốc gồm nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội Nhận thức về thế giới là một nhu cầu khách quan của con người -> con người giải thích thế giới -> hình thành những quan niệm của con người về thế giới -> câu truyện thần thoại, tín ngưỡng nguyên thủy, tôn giáo sơ khai
Trong quá trình nhận thức thế giới, con người dần có kinh nghiệm và tri thức về thế giới -> đầu tiên là những tri thức rời rạc, cảm tính -> dần dần hình thành nên tri thức hệ thống, logic -> đòi hỏi nhận thức phải ngày càng sâu sắc hơn Sự phát triển của tư duy trừu trượng và năng lức khái quát trong quá trình nhận thức dẫn đến hình thành các quan điểm, quan niệm chung nhất về thế giới và về vai trò của con người trong thế giới đó => đó là lúc triết học ra đời với tư cách là một loại hình tư duy lý luận (Nguồn gốc nhận thức)
Triết học chỉ xuất hiện khi kho tang tri thức của loài người đã hình thành vốn hiểu biết nhất định và trên cơ sở đó, tư duy con người đã đạt đến trình độ khái quát hóa…
2
Trang 3Triết học ra đời khi loài người đã xuất hiện giai cấp -> lao động trí óc đã tách khỏi lao động chân tay, trí thức xuất hiện như một tầng lớp xã hội -> chú trọng việc học hành -> trí thức được xã hội coi trọng -> có điều kiện nghiên cứu, có năng lực hệ thống hóa các quan điểm thành học thuyết, lý luận -> những người xuất sắc đã hệ thống hóa các tri thức thời đại dưới dạng quan điểm, các học thuyết lý luận có tính hệ thống, giải thích sự vận động, quy luật hay các quan hệ nhân quả của một đối tượng nhất định, được xã hội công nhận là các nhà thông thái (nguồn gốc xã hội)
2 Triết học Mác - Lenin
- Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, (1841 – 1844) ảnh hưởng của cách mạng công nghiệp, đây là thời kỳ hình thành tư tưởng triết học với bước chuyển từ chủ nghĩa duy tâm và dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy tâm và dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy vật và lập trường giai cấp vô sản
- (1844 – 1848) Thời kỳ đề xuất những nguyên lý triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
- (1848 - 1895) Thời Kỳ C.Mác và Ph.Angghen bổ sung và phát triển toàn diện lí luận triết học
- Sau khi C.Mác và Ph.Anggen qua đời, chủ nghĩa đế quốc phát triển đến một đỉnh cao -> triết học Mác luôn luôn là kẻ thù số 1 của chủ nghĩa đế quốc (bởi vì đó là một lý luận đúng đắn, tiên tiến và nó sẽ soi đường, chỉ lối cho giai cấp vô sản, đứng lên để giải phóng, để lật đổ chủ nghĩa đế quốc) -> sau khi 2 ông qua đời, chủ nghĩa đế quốc đã tìm mọi cách để bóp méo, xuyên tạc với âm mưu xóa bỏ chủ nghĩa Mác trên toàn thế giới -> V.I.Lenin (Nga) đã đứng lên để bảo vệ chủ nghĩa Mác, trở thành người kế tục trung thành
và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác trong hoàn cảnh mới (gtrinh tr28-48)
II NỘI DUNG
1 Khái niệm triết học
- Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, vị trí vai trò của con người trong thế giới ấy Triết học phản ánh thế giới một cách chỉnh thể,
3
Trang 4nghiên cứu những vấn đề chung nhất những quy luật chung nhất của chỉnh thể này và thể hiện chúng một cách có hệ thống dướng dạng lý luận Cũng như những khoa học khác thì triết học giải quyết rất nhiều vấn đề có liên quan với nhau, trong đó vấn đề cực kì quan trọng là nền tảng và là điểm xuất phát giải quyết những vấn đề còn lại được gọi là vấn đề
cơ bản của triết học
2 Các vấn đề cơ bản của triết học
a) Nội dung vấn đề cơ bản của triết học: giải quyết vấn đề mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
- Vấn đề cơ bản của triết học là vấn đề về mối quan hệ giữa tồn tại và tư duy, giữa vật chất và ý thức, nó là vấn đề cơ bản vì việc giải quyết nó sẽ quyết định cơ sở để giải quyết những vấn đề khác của triết học, điều đó đã được chứng minh trong lịch sử phát triển lâu dài và phức tạp của triết học
b) Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt
Thứ nhất: giữa vật chất và ý thức cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào?
Một là, vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức Như vậy, mang đến sự xuất hiện ban đầu của vật chất Các tồn tại chưa mang đến ý nghĩa trong tác động với sự vật Nhưng khi có ý thức, con người bắt đầu nghiên nâng cao hiệu quả Từ nền tảng có sẵn của vật chất để ứng dụng phù hợp.Như vậy, với nền tảng của vật chất, ý thức mới có cơ sở để thực hiện các vận động Từ đó với các nghiên cứu qua thời gian để mang đến ứng dụng ngày càng có ý nghĩa Cách giải quyết này thừa nhận tính thứ nhất của vật chất, tính thứ hai của ý thức
Hai là, ý thức có trước, vật chất có sau, ý thức quyết định vật chất Sự xuất hiện đầu tiên của ý thức Và dựa vào các phát triển, tìm kiếm và phục vụ nhu cầu Trên nền tảng ý thức để tạo ra vật chất Khi đó, ý thức có trước để làm nền tảng cho vật chất ra đời.Cách giải quyết này thừa nhận tính thứ nhất của ý thức, tính thứ hai của vật chất Cũng một nguyên thể ra đời trước Quyết định với sự ra đời của yếu tố còn lại
4
Trang 5 Thứ hai: con người có khả năng nhận thức thế giới hay không?
* Nguồn gốc của nhận thức
- Thế giới vật chất tồn tại khách quan là nguồn gốc duy nhất và cuối cùng của nhận thức
Triết học Mac – Lênin thừa nhận sự tồn tại khách quan củathế giới và cho rằng thế giới khách quan là đối tượng của nhận thức Không phải ý thức của con người sản sinh ra thế giới mà thế giới vật chất tồn tại độc lập với con người, đó là nguồn gốc “duy nhất và cuối cùng” của nhận thức
- Triết học Mac – Lênin khẳng định: Con người có khả năng nhận thức thế giới
Lênin chỉ rõ: có những thứ mà con người chưa biết chứ không có cái gì không thế biết
*Bản chất của nhận thức
* Bản chất:
- Nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người, là hoạt
động tìm hiểu khách thể của chủ thể Thế giới vật chất tồn tại khách quan độc lập đối với
ý thức của con người tuy nhiên không có cái gì là không thể nhận thức được mà chỉ có cái con người chưa nhận thức được mà thôi
VD: Trong công xã nguyên thủy, con người ban đầu chỉ biết săn bắn hái lượm, về sau con người bắt đầu nhận thức về vấn đề ăn chín uống sôi và tạo ra rửa, chế tạo công cụ lao động
- Nhận thức là một quá trình biện chứng có sự vận động và phát triển. Khẳng định sự phản ánh đó là một quá trình biện chứng, tích cực, tự giác và sáng tạo Quá trình phản ánh ấy diễn ra theo trình tự từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, từ hiện tượng đến bản chất
VD: Quá trình học tập của sinh viên năm nhất với môn Triết Khi mới trở thành sinh viên đại học, sv năm nhất biết đến môn triết từ các anh chị khóa trên hoặc nghe mọi người nói, chỉ là biết đến chứ chưa biết được môn triết là gì Sau một thời gian học, sinh viên năm nhất có thể dần hình dung ra được môn triết như thế nào, gồm những gì, đó là qtr nhận thức có sự vận động và phát triển, từ chưa biết đến biết ít, và sau này sẽ biết nhiều hơn
5
Trang 6- Nhận thức là quá trình tác động biện chứng giữa chủ thể và khách thể thông qua hoạt động thực tiễn của con người Coi thực tiễn là cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận
thức, là động lực, mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý
VD: Trong chiến tranh thì con người chỉ nghĩ lamg thế nào để bảo vệ gìn giữ dân tộc Khi cách mạng thành công thì đi lên mọi người nhận thức được bảo vệ dân tộc là phải phát triển mọi mặt của xã hội từ kinh tế, chính trị, đời sống, tri thức
3 Chỉ ra sự khác nhau căn bản giữa quan điểm chủ nghĩa duy vật (chất phác, diêu hình, biện chứng – quan điểm Mác – Lenin) với quan điểm chủ nghĩa suy tâm (khách quan, chủ quan)
Chủ nghĩa duy vật là trường phái triết học xuất phát từ quan điểm bản chất của thế giới là vật chất, vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ 2; vật chất là cái có trước và quyết định ý thức Chủ nghĩa duy vật có nguồn gốc từ sự phát triển của khoa học và thực tiễn, thường gắn với lợi ích của giai cấp và lực lượng tiến bộ trong lịch sử Nó là kết quả của quá trình đúc kết khái quát kinh nghiệm để vừa phản ánh những thành tựu mà con người đã đặt được trong từng giai đoạn lịch sử, vừa định hướng cho các luwcj lượng xã hội tiến bộ hoạt động trên nền tảng của những thành tựu ấy
Ngược lại chủ nghĩa duy tâm là trường phái triết học xuất phát từ quan điểm bản chất của thế giới là ý thức, ý thức là tính thứ nhất, vật chất là tính thứ hai; ý thức có trước
và quyestes định vật chất Chủ nghĩa duy tâm có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội, đó là sự xem xét phiếm diện, tuyệt đối hóa, thành thánh hóa một mặt, một đặc tính nào đó của quá trình nhận thức, đồng thời thường gắn với lợi ích các giai cấp, tầng lớp áp bức, bóc lột nhân dân lao động
III TÓM TẮT NỘI DUNG TRỌNG TÂM CỦA BÀI VÀ LIÊN HỆ BẢN THÂN SINH VIÊN
6
Trang 7B TẠI SAO NÓI: “TRIẾT HỌC LÀ HẠT NHÂN LÝ LUẬN CỦA THẾ GIƯỚI QUAN?”, NÊU VÍ DỤ.
I. MỞ ĐẦU (khái quát nguồn gốc, khái niệm triết học (nói chung) và triết học Mác – Lenin (nói riêng)) (đã nêu ở mục trên)
II NỘI DUNG
1 Nêu định nghĩa về thế giới quan và các hình thức phát triển của thế giới quan
- Thế giới quan là khái niệm triết học chỉ hệ thống các tri thức, quan điểm, tình cảm, niềm tin, lý tưởng xác định về thế giới và về vị trí của con người trong thế giới đó Thế giới quan quy định nguyên tắc, thái độ, giá trị trong định hướng nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người
- Thế giới quan bao gồm các yếu tố cơ bản là tri thức, niềm tin và lý tưởng Tri thức
là cơ sở trực tiếp hình thành thế giới quan Tri thức chỉ trở thành thế giới quan khi đã được kiểm nghiệm và trở thành niềm tin Lý tưởng là trình độ phát triển cao nhất của thế giới quan Thế giới quan bao hàm trong nó nhân sinh quan.
2 Phân tích vai trò của thế giới quan
a) Triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan
- Khác với thế giới quan thần thoại và tôn giáo, thế giới quan triết học dựa vào tri thức, là sự diễn tả quan niệm của con người dưới dạng hệ thống các quy luật, phạm trù đóng vai trò là những nấc thang trong quá trình nhận thức thế giới Với ý nghĩa đó, triết học đợc xem là hạt nhân lý luận của thế giới quan, là hệ thống các quan điểm lý luận chung nhất về thế giới và về vị trí của con người trong thế giới đó
b) Bản thân triết học là thế giới quan
c) Trong các thế giới quan, triết học đóng vai trò là nhân tố cốt lõi
d) Triết học có ảnh hưởng và chi phối thế giới quan khác
e) Thế giới quan triết học quy định các thế giới quan khác
3 Khẳng định vai trò quan trọng của thế giới quan duy vật biện chứng
7
Trang 8- Từ các ý a) b) c) d) e) bên trên, có thể khẳng định, Thế giới quan duy vật biện chứng là đỉnh cao của thế giưới quan do nó dựa trên quan niệm duy vật về vật chất và ý thức, trên các nguyên lý, quy luật biện chứng
4 Nêu ví dụ
- Ví dụ về phép duy vật biện chứng theo quy luật chuyển hóa những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại:
Sau khi tan làm, đối tượng V đi xe máy với quãng đường 10 cây số từ cơ quan để có thể
về đến nhà Lúc này, tất cả sự thay đổi trong quảng đường mà X di chuyển từ cơ quan đến trước khi về đến nhà được coi là sự thay đổi về lượng, cho đến thời điểm X về đến nhà thì đó là có thay đổi về chất Như vậy trong trường hợp cụ thể được nêu này, chúng ta
có thể thấy sự thay đổi về lượng đã dẫn đến sự thay đổi về chất
III KẾT LUẬN (tóm tắt nội dung trọng tâm của bài và liên hệ bản thân sinh viên)
8
Trang 9C TRIẾT HỌC MÁC - LENIN LÀ GÌ? NÊU ĐỐI TƯỢNG VÀ CHỨC NĂNG
CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LENIN?
3 Nguồn gốc ra đời của Triết học nói chung
So với các khoa học khác, thì Triết học ra đời rất sớm, vào khoảng thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ VII trước Công nguyên Triết học ra đời gần như đồng thời ở cả phương Đông (Trung Quốc, Ấn Độ) và phương Tây (Hy Lạp) Con người đã sáng tạo
ra những luận thuyết chung nhất, có tính hệ thống phản ánh thế giới xung quanh và thế giời của con người nhằm đáp ứng nhu cầu về nhận thức và hoạt động thực tiễn của mình Triết học là hoạt động tinh thần bậc cao, là loại hình nhận thức có trình độ trìu tượng hóa và khái quát hóa rất cao Triết học tồn tại với tính cách là một hình thái ý thức xã hội, triết học nào cũng có tham vọng xây dựng nên bức tranh tổng quát nhất
về thế giới và con người (gtrinh Triết, tr7)
Để một trường phái Triết học ra đời, thì cần phải hội tụ đủ hai nguồn gốc gồm nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội Nhận thức về thế giới là một nhu cầu khách quan của con người -> con người giải thích thế giới -> hình thành những quan niệm của con người về thế giới -> câu truyện thần thoại, tín ngưỡng nguyên thủy, tôn giáo sơ khai
Trong quá trình nhận thức thế giới, con người dần có kinh nghiệm và tri thức về thế giới -> đầu tiên là những tri thức rời rạc, cảm tính -> dần dần hình thành nên tri thức hệ thống, logic -> đòi hỏi nhận thức phải ngày càng sâu sắc hơn Sự phát triển
9
Trang 10của tư duy trừu trượng và năng lức khái quát trong quá trình nhận thức dẫn đến hình thành các quan điểm, quan niệm chung nhất về thế giới và về vai trò của con người trong thế giới đó => đó là lúc triết học ra đời với tư cách là một loại hình tư duy lý luận (Nguồn gốc nhận thức)
Triết học chỉ xuất hiện khi kho tang tri thức của loài người đã hình thành vốn hiểu biết nhất định và trên cơ sở đó, tư duy con người đã đạt đến trình độ khái quát hóa…
Triết học ra đời khi loài người đã xuất hiện giai cấp -> lao động trí óc đã tách khỏi lao động chân tay, trí thức xuất hiện như một tầng lớp xã hội -> chú trọng việc học hành -> trí thức được xã hội coi trọng -> có điều kiện nghiên cứu, có năng lực hệ thống hóa các quan điểm thành học thuyết, lý luận -> những người xuất sắc đã hệ thống hóa các tri thức thời đại dưới dạng quan điểm, các học thuyết lý luận có tính hệ thống, giải thích sự vận động, quy luật hay các quan hệ nhân quả của một đối tượng nhất định, được xã hội công nhận là các nhà thông thái (nguồn gốc xã hội)
4 Triết học Mác - Lenin
- Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, (1841 – 1844) ảnh hưởng của cách mạng công nghiệp, đây là thời kỳ hình thành tư tưởng triết học với bước chuyển từ chủ nghĩa duy tâm và dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy tâm và dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy vật và lập trường giai cấp vô sản
- (1844 – 1848) Thời kỳ đề xuất những nguyên lý triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
- (1848 - 1895) Thời Kỳ C.Mác và Ph.Angghen bổ sung và phát triển toàn diện lí luận triết học
- Sau khi C.Mác và Ph.Anggen qua đời, chủ nghĩa đế quốc phát triển đến một đỉnh cao -> triết học Mác luôn luôn là kẻ thù số 1 của chủ nghĩa đế quốc (bởi vì đó là một lý luận đúng đắn, tiên tiến và nó sẽ soi đường, chỉ lối cho giai cấp vô sản, đứng lên để giải phóng, để lật đổ chủ nghĩa đế quốc) -> sau khi 2 ông qua đời, chủ nghĩa đế quốc đã tìm mọi cách để bóp méo, xuyên tạc với âm mưu xóa bỏ chủ nghĩa Mác trên toàn thế giới ->
10