1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp vùng đông nam bộ trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

173 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp vùng đông nam bộ trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả Phạm Thành Long
Người hướng dẫn TS. Lê Quang Thông, TS. Lương Minh Huân
Trường học Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội Việt Nam
Chuyên ngành Quản lý kinh tế
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 173
Dung lượng 1,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để duy trì xu hướng tăng trưởng ấn tượng, đồng thời tránh bẫy thu nhập trung bình, Việt Nam phải giải quyết những thách thức chính bao gồm chính sách và quản trị nhà nước về kinh tế, cơ

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM THÀNH LONG

MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CHO DOANH NGHIỆP

VÙNG ĐÔNG NAM BỘ TRONG BỐI CẢNH

HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Hà Nội - 2022

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM THÀNH LONG

MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CHO DOANH NGHIỆP

VÙNG ĐÔNG NAM BỘ TRONG BỐI CẢNH

HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

Ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 9.34.04.10

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 TS Lê Quang Thông

2 TS Lương Minh Huân

Hà Nội - 2022

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận án

Phạm Thành Long

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH 9

1.1 Các yếu tố cấu thành môi trường kinh doanh 9

1.2 Vai trò của nhà nước trong cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh 14

1.3 Thực tiễn cải thiện môi trường kinh doanh ở Việt Nam thời gian qua 18

1.4 Các yêu cầu về môi trường kinh doanh trong hội nhập quốc tế 21

Tiểu kết chương 1 23

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CHO DOANH NGHIỆP TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 24

2.1 Các lý thuyết về môi trường kinh doanh và vai trò của môi trường kinh doanh trong phát triển kinh tế 24

2.1.1 Khái niệm và đặc điểm môi trường kinh doanh 24

2.1.2 Một số lý thuyết về môi trường kinh doanh 28

2.1.3 Lựa chọn mô hình lý thuyết nghiên cứu 35

2.2 Các yếu tố cấu thành môi trường kinh doanh 36

2.2.1 An ninh - chính trị 36

2.2.2 Đặc điểm kinh tế 37

2.2.3 Thể chế pháp luật 40

2.2.4 Bộ máy hành chính 41

2.2.5 Nguồn nhân lực 42

2.2.6 Cơ sở hạ tầng 42

2.3 Vai trò của môi trường kinh doanh đến tình hình hoạt động của doanh nghiệp 44

2.4 Hội nhập quốc tế và các cải cách của Việt Nam về môi trường kinh doanh trong hội nhập 51

2.4.1 Bối cảnh hội nhập 51

2.4.2 Một số cải cách của Việt Nam về môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp trong quá trình hội nhập 54

Trang 5

2.5 Bài học kinh nghiệm của một số nước về cải thiện môi trường kinh doanh 62

2.5.1 Trung Quốc 62

2.5.2 Singapore 65

2.5.3 Malaysia 66

Tiểu kết chương 2 69

Chương 3: THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG KINH DOANH VÙNG ĐÔNG NAM BỘ 70

3.1 Tổng quan vùng Đông Nam bộ 70

3.1.1 Tổng quan địa bàn nghiên cứu 70

3.1.2 Tình hình hoạt động các doanh nghiệp tư nhân vùng Đông Nam bộ giai đoạn 2015-2019 72

3.2 Thực trạng môi trường kinh doanh vùng Đông Nam bộ giai đoạn 2015-2019 81

3.2.1 An ninh - chính trị 81

3.2.2 Đặc điểm kinh tế 84

3.2.3 Thể chế pháp luật 92

3.2.4 Bộ máy hành chính 97

3.2.5 Nguồn nhân lực 101

3.2.6 Cơ sở hạ tầng 105

3.3 Thuận lợi và khó khăn trong cải thiện môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp vùng Đông Nam bộ 110

3.3.1 Thuận lợi 110

3.3.2 Khó khăn 112

Tiểu kết chương 3 118

Chương 4: ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG KINH DOANH VÙNG ĐÔNG NAM BỘ TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ ĐẾN NĂM 2030 121

4.1 Định hướng phát triển môi trường kinh doanh vùng Đông Nam bộ 121

4.1.1 Bối cảnh kinh tế Việt Nam và vùng Đông Nam bộ trong tình hình mới 121

Trang 6

4.1.2 Quan điểm và xu hướng cải thiện MTKD cho doanh nghiệp vùng

Đông Nam bộ trong hội nhập kinh tế quốc tế 123

4.1.3 Nhận thức vai trò của nhà nước về cải thiện môi trường kinh doanh trong bối cảnh hội nhập quốc tế 125

4.1.4 Định hướng phát triển môi trường kinh doanh vùng Đông Nam bộ 128

4.2 Các giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp vùng Đông Nam bộ trong quá trình hội nhập quốc tế 132

4.2.1 Giải pháp về đảm bảo an ninh – chính trị 132

4.2.2 Giải pháp về pháp luật kinh doanh 133

4.2.3 Giải pháp về cải cách hành chính và chính sách hỗ trợ 135

4.2.4 Giải pháp về thuế và các khoản “phải chi” 139

4.2.5 Giải pháp về cơ sở hạ tầng 140

4.2.6 Giải pháp về nguồn nhân lực 142

4.2.7 Giải pháp về chính sách hội nhập 144

4.2.8 Giải pháp liên kết vùng Đông Nam bộ 146

Tiểu kết chương 4 152

KẾT LUẬN 154

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 156

PHỤ LỤC 161

Trang 7

EVFTA (European-Vietnam Free Trade Agreement): Hiệp

định thương mại tự do Việt Nam – EU FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài

FTA (Free Trade Agreement) Hiệp định thương mại tự

TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh

USAID

Development - USAID) là một cơ quan phát triển quốc tế do chính phủ Liên bang Mỹ điều hành

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Số doanh nghiệp khu vực tư nhân đang hoạt động ở vùng

ĐNB 74 Bảng 3.2: Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu của doanh nghiệp khu vực tư

nhân vùng ĐNB (%) 78 Bảng 3.3 Tổng số lao động trong các doanh nghiệp khu vực tư nhân

vùng ĐNB 79 Bảng 3.4: Thu nhập bình quân một tháng của người lao động trong khu

vực kinh tế tư nhân (nghìn đồng) 80 Bảng 3.5 Các quyết định/kế hoạch cải thiện môi trường kinh doanh ở

các địa phương vùng Đông Nam bộ 93

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Mô hình PCI 29

Hình 2.2 Mô hình tiếp cận nghiên cứu MTKD của GEM 30

Hình 2.3 Mô hình Chẩn đoán tăng trưởng HRV 32

Hình 2.4 Mô hình phân tích PEST của Francis J Aguilar 34

Hình 2.5 Cấu trúc môi trường kinh doanh trong nghiên cứu 35

Hình 3.1.Tốc độ tăng trưởng kinh tế của vùng Đông Nam bộ so với cả nước 72

Hình 3.2: Tổng sản phẩm theo giá hiện hành của doanh nghiệp khu vực tư nhân của cả nước và các tỉnh vùng Đông Nam bộ (nghìn tỷ đồng) 74

Hình 3.3: Số doanh nghiệp khu vực tư nhân đăng ký thành lập mới của cả nước và vùng ĐNB 75

Hình 3.4: Số doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân đang hoạt động phân theo quy mô lao động (%) 76

Hình 3.5 Số doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân đang hoạt động phân theo quy mô vốn (%) 77

Hình 3.6 Doanh thu thuần sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp phân theo loại hình doanh nghiệp vùng ĐNB (Nghìn tỷ đồng) 78

Hình 3.7: Tổng thu nhập của lao động trong doanh nghiệp vùng ĐNB 80

Hình 3.8 Xếp hạng những trở ngại hàng đầu về môi trường kinh doanh của doanh nghiệp của Việt Nam năm 2016 82

Hình 3.9.Tình hình an ninh trật tự tại tỉnh là Tốt (%) 83

Hình 3.10 Vốn FDI đăng ký đầu tư vào các địa phương vùng ĐNB năm 2019 83

Hình 3.11 Mức thuế thu nhập doanh nghiệp (%) giai đoạn 2004 – 2020 87

Hình 3.12 Lãi suất cho vay bình quân và lãi suất huy động bình quân đối với các doanh nghiệp KTTN vùng Đông Nam bộ giai đoạn 2008 – 2019 89

Hình 3.13 Các kênh tài chính doanh nghiệp vùng Đông Nam bộ tiếp cận 91

Trang 10

Hình 3.14.Tin tưởng HTPL sẽ đảm bảo quyền tài sản/thực thi hợp đồng

của doanh nghiệp vùng Đông Nam bộ (%) 96Hình 3.15 Hệ thống pháp luật (HTPL) có cơ chế giúp doanh nghiệp tố

cáo cán bộ nhũng nhiễu (%) 96Hình 3.16 Đánh giá của DN tham gia điều tra về hệ thống pháp luật

trong kinh doanh ở vùng Đông Nam bộ 97Hình 3.17.Tính năng động của lãnh đạo các địa phương vùng Đông Nam

bộ năm 2015 và 2019 98Hình 3.18 Chi phí không chính thức các tỉnh vùng Đông Nam bộ giai

đoạn 2017-2019 99Hình 3.19 Các khoản CPKCT ở mức chấp nhận được (% Đồng ý) 99Hình 3.20 Chi phí thời gian của doanh nghiệp vùng Đông Nam bộ năm

2015và 2019 101Hình 3.21 Dân số trung bình vùng Đông Nam bộ giai đoạn 2015-2019 102Hình 3.22 Lao động vùng Đông Nam bộ đáp ứng được nhu cầu sử dụng

của doanh nghiệp (%) năm 2015 và 2019 102Hình 3.23 Lao động chuyên môn kĩ thuật bậc cao vùng Đông Nam bộ

năm 2019 104Hình 3.24 Lao động đang làm việc phân chia theo vị thế việc làm ở

vùng Đông Nam bộ 104 Hình 3.25: Lao động trong lĩnh vực công nghệ thông tin ở các tỉnh vùng 105Đông Nam bộ năm 2020 105Hình 3.26: Chỉ số đào tạo lao động trong PCI cấp tỉnh vùng Đông Nam

bộnăm 2020 105Hình 3.27 Dự báo tổng đầu tư cơ sở hạ tầng của vùng Đông Nam bộgiai

đoạn 2016- 2040 107

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc trên hành trình phát triển từ sau đổi mới đến nay với những cải cách kinh tế quan trọng được khởi xướng vào năm 1986 nhằm hướng tới nền kinh tế thị trường có điều tiết, nhờ vậy mà Việt Nam đã chuyển đổi từ một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới thành một quốc gia có thu nhập trung bình thấp và hướng tới quốc gia có mức thu nhập trung bình cao vào năm 2035 Để duy trì xu hướng tăng trưởng

ấn tượng, đồng thời tránh bẫy thu nhập trung bình, Việt Nam phải giải quyết những thách thức chính bao gồm chính sách và quản trị nhà nước về kinh tế,

cơ sở hạ tầng và nhu cầu năng lượng, tăng cường khả năng cạnh tranh của khu vực tư nhân và cải thiện môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp bởi lẽ khả năng hoạt động của các doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào những tác động tích cực hay tiêu cực từ môi trường kinh doanh mang lại Môi trường kinh doanh thuận lợi về mặt trực tiếp sẽ tạo cơ hội và động lực thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư kinh doanh, mở rộng hoạt động sản xuất, gia tăng lợi nhuận; gián tiếp sẽ tạo công ăn việc làm cho xã hội, góp phần xóa đói giảm nghèo, là động lực để nâng cao sức cạnh tranh và tính tự chủ của nền kinh tế cũng như nâng cao chất lượng tăng trưởng, góp phần hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia Do đó, vấn đề cải thiện môi trường kinh doanh ngày càng đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế không chỉ riêng Việt Nam mà là hầu hết các nước trên thế giới

Theo Tổng cục Thống kê, trong năm 2020, cả nước có 758.610 doanh nghiệp đang hoạt động, tăng 6,14% so với năm 2019 Tuy nhiên, đà phá sản của các doanh nghiệp trong thị trường vẫn tiếp tục tăng đặc biệt là trong bối cảnh dịch Covid-19 vẫn chưa được kiểm soát tốt trên thế giới như hiện nay Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, 8 tháng đầu năm 2020 có 34.300 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, 24.200 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, 10.400 doanh nghiệp hoàn tất thủ

Trang 12

tục giải thể và 30.600 doanh nghiệp không hoạt động, tất cả đều tăng cao so với cuối năm 20191 Trong báo cáo đánh giá môi trường kinh doanh 2020 của

WB, Việt Nam ở thứ hạng 70/190 quốc gia về chỉ số môi trường kinh doanh thuận lợi, Việt Nam đạt 69,8 điểm trên 100, cao hơn năm ngoái (68,36), nhưng lại tụt một bậc so với năm 2019 Qua đây có thể thấy rõ, cải thiện MTKD ở Việt Nam là việc làm cần thiết và quan trọng hàng đầu trong ổn định nền kinh

tế vĩ mô và hội nhập kinh tế quốc tế Xác định rõ vai trò quan trọng của việc cải thiện kinh doanh đối với sự phát triển của nền kinh tế, Chính phủ đã có những nỗ lực quan trọng cải cách môi trường kinh doanh (MTKD) thông qua Nghị quyết số 19/NQ-CP (NQ 19) của Chính phủ về cải thiện MTKD, nâng cao năng lực cạnh tranh (NLCT) quốc gia được ban hành hằng năm kể từ năm

2014 đến 2018 và Nghị quyết 02 từ năm 2019 đến nay Bên cạnh đó, Nghị quyết số 35/NQ-CP (NQ 35) năm 2016 về hỗ trợ phát triển doanh nghiệp đến năm 2020, để hướng đến mục tiêu đưa MTKD của Việt Nam vào nhóm 4 quốc gia hàng đầu khu vực ASEAN (ASEAN 4)2

Vùng Đông Nam bộ (ĐNB) là khu vực kinh tế năng động với mức tăng trưởng cao so với cả nước, nơi tập trung nhiều trung tâm kinh tế, công nghiệp, thương mại, dịch vụ, khoa học–kỹ thuật, đầu mối giao thông và giao lưu quốc tế, có lực lượng lao động dồi dào, tay nghề cao, có nhiều cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học, công nghệ; có hệ thống đô thị phát triển, các khu công nghiệp phát triển mạnh trở thành trung tâm và đầu mối giao lưu của các tỉnh phía Nam với cả nước và quốc tế, được gắn kết bởi đường bộ, đường biển, đường hàng không, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội Vùng cũng như mở rộng các quan hệ kinh tế liên vùng và quốc tế Bên cạnh

đó, năm 2019, vùng Đông Nam bộ đã đạt được những thành tựu to lớn, với quy mô GRDP chiếm khoảng 41,97% GDP toàn nền kinh tế, đóng góp gần

1 Trần Thủy (2020), 10 nghìn doanh nghiệp giải thể, hàng vạn doanh nghiệp gặp nguy cơ, Báo điện tử

Vietnamnet ngày 5/9/2020, truy cập ngày 25/01/2021

2 Đặng Thị Mai Hương & Đặng Thị Lan (2019), Việt Nam nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh, Tạp chí

Công Thương, truy cập ngày 26/06/2019

Trang 13

43,68% thu ngân sách quốc gia, thu nhập theo đầu người cao gấp 1,46 lần mức bình quân cả nước; tốc độ tăng trưởng kinh tế của vùng luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng bình quân chung nền kinh tế3

Theo thống kê tại Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam 2020, vùng Đông Nam bộ có bình quân 17,4 doanh nghiệp đang hoạt động trên 1000 dân, cao nhất trong 06 vùng kinh tế xã hội cả nước4

Từ nhận thức và hành động của chính phủ về cải thiện MTKD của Việt Nam

và vai trò quan trọng của sự phát triển doanh nghiệp ở vùng Đông Nam bộ, vốn là trung tâm kinh tế lớn nhất nước cho nên việc cải thiện MTKD vùng ĐNB cần phải quan tâm đặc biệt Tuy nhiên hiện nay, có rất ít các nghiên cứu

về MTKD chỉ cho riêng vùng Đông Nam bộ Nhận thức được tầm quan trọng

này, lựa chọn và nghiên cứu đề tài: “Môi trường kinh doanh cho doanh

nghiệp vùng Đông Nam bộ trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” là rất

cần thiết và có ý nghĩa lớn hiện nay

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu của luận án

Mục đích của luận án là xác định được các yếu tố cấu thành môi trường kinh doanh vùng ĐNB, nhận diện những thuận lợi, khó khăn của doanh nghiệp vùng ĐNB trong quá trình sản xuất, kinh doanh Từ đó có cơ sở đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp Vùng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

(i) Tổng quan một cách hệ thống cơ sở lý luận về môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp trong hội nhập kinh tế quốc tế;

(ii) Đánh giá thực trạng về môi trường kinh doanh vùng Đông Nam bộ (iii) Đề xuất giải pháp hoàn thiện môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp vùng Đông Nam bộ trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

3

Tổng cục thống kê (2019), Niên giám thống kê cả nước và các tỉnh vùng Đông Nam bộ, NXB

Thống kê

4 Nguyễn Thanh Hòa (2020), Tình hình phát triển doanh nghiệp và môi trường kinh doanh khu vực Đông

Nam bộ, Cổng thông tin quốc gia về Đăng ký doanh nghiệp ngày 30/09/2020, Truy cập ngày 25/01/2021

Trang 14

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Những vấn đề lý luận và thực tiễn về môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp vùng Đông Nam bộ

mẽ nhất từ môi trường kinh doanh nên Luận án tập trung phân tích môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp tư nhân trong nước vùng Đông Nam bộ

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

4.1 Phương pháp luận

Việc nghiên cứu môi trường kinh doanh của doanh nghiệp là hiện tượng kinh tế, xã hội tương đối phức tạp nên đòi hỏi cách tiếp cận đa dạng để giải thích hiện tượng Đã có rất nhiều lý thuyết và giả thiết khác nhau được xây dựng nhằm phân tích các nhân tố cấu thành MTKD cũng như tác động của MTKD đến doanh nghiệp Khi phân tích nhân tố cấu thành MTKD, luận án sử dụng các khung lý thuyết sau: mô hình PCI của VCCI ; mô hình nghiên cứu GEM, mô hình chẩn đoán tăng trưởng HRV, mô hình PEST Tính phù hợp khi áp dụng và nội dung các

mô hình lý thuyết nghiên cứu này sẽ được phân tích chi tiết trong phần Chương II

và cách tiếp cận này có ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương pháp thu thập số liệu điều tra và phương pháp nghiên cứu của luận án

4.2 Phương pháp nghiên cứu của luận án

- Phương pháp thống kê, mô tả

Luận án sử dụng nhiều nguồn số liệu thống kê từ các cơ quan nghiên cứu, các cơ quan quản lý nhà nước ở các tỉnh thuộc vùng Đông Nam bộ Các

số liệu này được nghiên cứu tập hợp và mô tả nhằm làm rõ vai trò của nhà nước trong tạo lập môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp ở vùng Đông Nam bộ và cả nước

Trang 15

- Phương pháp thu thập thông tin

Đề tài sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau nhằm đảm bảo sự đa dạng, phong phú của thông tin; độ tin cậy của các dữ liệu, các minh chứng, luận chứng đảm bảo tính chính xác, khách quan và khoa học; đảm bảo thuyết phục khi chứng minh cho các luận điểm được trình bày trong luận án

- Phương pháp nghiên cứu thông tin thứ cấp

Phương pháp này được sử dụng để thu thập, khai thác, tổng hợp thông tin từ các nguồn tư liệu đã có sẵn có liên quan đến các nội dung mà luận án nghiên cứu Phương pháp này nghiên cứu dữ liệu dưới dạng in ấn, hình ảnh hoặc âm thanh để khám phá xem chúng có ý nghĩa gì, thúc đẩy hay ngăn cản điều gì, và thông tin gì đang được truyền tải Hình thức dữ liệu cụ thể rất đa dạng bao gồm các bài báo, các cuộc khảo sát ý kiến, báo cáo của các doanh nghiệp, văn bản của chính phủ, thông tin về cải thiện năng lực cạnh tranh cấp tỉnh qua các năm Nguồn tài liệu thứ cấp còn là các công trình nghiên cứu từ các nhà khoa học, các báo cáo, số liệu thống kê, kết quả điều tra… của chính quyền, ban ngành, đoàn thể, tổ chức, cá nhân có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề nghiên cứu Nguồn tài liệu sẵn có được thu thập từ nguồn tài liệu trong nước lẫn nước ngoài có liên quan đến chức năng của nhà nước trong tạo lập môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp hiện nay

Phương pháp điều tra, khảo sát:

Mục đích của phương pháp này nhằm thông qua quá trình khảo sát, nhận diện những thuận lợi và khó khăn của doanh nghiệp trong quá trình phát triển Từ

đó, có cơ sở để đề xuất các kiến nghị, giải pháp cải thiện MTKD phù hợp với thực trạng hoạt động của doanh nghiệp trên địa bàn vùng Đông Nam bộ

LA khai thác các thông tin từ 130 phiếu hỏi điều tra phục vụ cho nghiên cứu Phiếu hỏi điều tra được thiết kế cho nhóm đối tượng là các doanh nghiệp

tư nhân trong nước ở vùng Đông Nam bộ trong đó số lượng mẫu phiếu điều tra được phân bổ bao gồm: TP.HCM (40); Bình Dương (30); Đồng Nai (30);

Trang 16

Bình Phước (10); Tây Ninh (10) và BRVT (10) Cụ thể, ý kiến rất đồng ý (đạt mức độ 5); ý kiến đồng ý (đạt mức độ 3 và 4); ý kiến ít đồng ý (mức độ 1 và 2) và ý kiến không đồng ý (mức độ 0)

Thời gian thực hiện điều tra: từ tháng 3 - 6/2019

Mẫu điều tra được lựa chọn có chủ đích theo phương pháp ngẫu nhiên thuận tiện, xác định những người tham gia điều tra có liên quan tới chủ đề nghiên cứu

Tháng 7/2019, tổng số phiếu thu về là 130 phiếu, trong đó có 120 phiếu đạt nội dung yêu cầu đề ra

Do phạm vi nội dung của đề tài chủ yếu tập trung vào xem xét môi trường kinh doanh các doanh nghiệp KTTN, nên LA chỉ tập trung khai thác sâu một số câu hỏi có liên quan trong phiếu hỏi điều tra (được trình bày cụ thể trong phụ lục 1) Dữ liệu liên quan đến các câu hỏi mà LA quan tâm được nhập vào phần mềm chuyên dụng SPSS (Statistical Package for the Social Sciences), phần mềm thống kê được sử dụng khá phổ biến phục vụ cho công tác phân tích thống kê LA sử dụng phần mềm SPSS dạng thống kê mô tả và dạng phân tích bảng tra chéo

Để có thêm thông tin chi tiết và khắc phục những thông tin thiếu ở những câu hỏi đóng trong phiếu điều tra, ngoài việc sử dụng dữ liệu trong phiếu hỏi, LA còn sử dụng các kết quả điều tra về môi trường kinh doanh của VCCI (Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam) trong giai đoạn 2015 –

2019, dữ liệu từ Tổng cục Thống kê, Cục thống kê 6 tỉnh thành trong vùng Đông Nam bộ

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Trên cơ sở các phương pháp nghiên cứu môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp vùng Đông Nam bộ, luận án có một số đóng góp mới, cụ thể như sau:

Thứ nhất, luận án đã tổng quan cơ sở lý luận về môi trường kinh doanh

đối với hoạt động đầu tư kinh doanh, trong đó nêu rõ các mục tiêu, phương pháp, nội dung và mô hình họat động của doanh nghiệp; các vấn đề về MTKD cũng như vai trò của MTKD trong quá trình đưa các doanh nghiệp vùng Đông Nam bộ hội nhập với sân chơi quốc tế

Trang 17

Thứ hai, luận án tổng kết một số bài học thành công và chưa thành công từ

cải thiện môi trường kinh doanh của một số quốc gia Trung Quốc, Singapore, Malaysia Đây là cơ sở quan trọng để đối chiếu và so sánh để đánh giá vai trò của quản lý nhà nước đối với môi trường kinh doanh tại Việt Nam nói chung và Đông Nam bộ nói riêng

Thứ ba, luận án đã đi sâu phân tích thực trạng họat động của các doanh

nghịệp tư nhân vùng Đông Nam bộ giai đọan 2015-2019 Quá trình đổi mới môi trường kinh doanh tại Việt Nam và có sự khác biệt môi trường kinh doanh của vùng Đông Nam bộ so với các vùng khác cả nước Tác giả cũng đã sử dụng các số liệu điều tra thu thập được để đánh giá đổi mới môi trường kinh doanh, nhìn dưới nhiều góc độ: cơ quan quản lý, các DN và các chuyên gia kinh tế, từ đó cho thấy sự cần thiết phải tăng cường đổi mới quản lý nhà nước đối với môi trường kinh doanh Trên cơ sở các kết quả phân tích dữ liệu điều tra, tác giả đánh giá những thành công và hạn chế trong đổi mới môi trường kinh doanh cho các doanh nghịêp

Thứ tư, luận án đã phân tích bối cảnh kinh tế Việt Nam và vùng Đông

Nam bộ trong xu hướng đầu tư của các doanh nghiệp tác động đến sự đổi mới quản lý nhà nước đối với môi trường kinh doanh Đây là những cơ sở để thực hiện các giải pháp đổi mới môi trường kinh doanh, đảm bảo hài hòa lợi ích của doanh nghiệp, nhà nước, xã hội theo các mục tiêu phát triển bền vững nền kinh

tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Song song với các giải pháp Luận án cũng đưa ra một số nội dung kiến nghị DN để đảm bảo đổi mới môi trường kinh

doanh được thực hiện có hiệu quả

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

6.1 Ý nghĩa lý luận

Góp phần bổ sung làm rõ cơ sở lý luận về môi trường kinh doanh của doanh nghiệp, vai trò của môi trường kinh doanh đến quá trình phát triển của doanh nghiệp vùng ĐNB

Trang 18

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Góp phần cung cấp các luận cứ khoa học cho việc bổ sung, hoàn thiện môi trường kinh doanh vùng Đông Nam bộ nói riêng và ở Việt Nam nói chung nhất là trong việc phối hợp giữa chính quyền các địa phương trong vùng để cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh cho doanh nghiệp

7 Cơ cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục; Luận án được trình bày trong 4 chương như sau:

Chương I: Tổng quan các nghiên cứu về môi trường kinh doanh

Chương II: Cơ sở lý luận về môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Chương III: Thực trạng môi trường kinh doanh vùng Đông Nam bộ Chương IV: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện môi trường kinh doanh vùng Đông Nam bộ trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 19

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

VỀ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH

Cùng với sự biến động không ngừng của tình hình kinh tế - xã hội cũng như nhu cầu phát triển của các doanh nghiệp trên lãnh thổ Việt Nam, yêu cầu

về việc cải thiện MTKD nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, nâng cao năng suất ngày càng được đặt ra cấp thiết Từ sự đòi hỏi này, nhiều các công trình nghiên cứu về MTKD đã được thực hiện với các nhóm nội dung:

1.1 Các yếu tố cấu thành môi trường kinh doanh

Lê Danh Vĩnh (2009) cho rằng môi trường kinh doanh được cấu thành

từ 2 nhóm nhân tố: (1) thể chế chính thức và (2) thể chế phi chính thức Đích hướng đến của quá trình hội nhập quốc tế là việc giảm thiểu tối đa khả năng hoạt động của thể chế phi chính thức và cần sự can thiệp, hỗ trợ của Nhà nước trong việc hiện thực hoá, hữu ích hoá các điều kiện của thể chế chính thức Quá trình này đòi hỏi phải có sự minh bạch cũng như một lộ trình cụ thể trong việc đưa ra các “luật chơi” công bằng cho tất cả các hình thức kinh doanh Mặt khác, tác giả cho thấy việc cải cách thể chế ở Việt Nam trong giai đoạn 2002-

2006 để thực hiện các yêu cầu của hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ thông qua các pháp lệnh và luật được ban hành và sửa đổi qua các năm Bên cạnh đi sâu trình bày về thể chế môi trường kinh doanh Việt Nam, tác giả còn tập trung vào môi trường kinh doanh và các tiêu chí đánh giá môi trường kinh doanh của các tổ chức trong nước (VCCI, VNCI: chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh/thành – PCI) và quốc tế (WB, IFC: chỉ số thuận lợi kinh doanh – BEI; đại học Harvard và Diễn đàn Kinh tế Thế giới - WEF: chỉ số môi trường thương mại – ETI) Tác giả đưa ra các quan điểm và định hướng hoàn thiện thể chế môi trường kinh doanh ở Việt Nam, theo đó việc hoàn thiện thể chế môi trường kinh doanh phải quán triệt bốn điểm chính Tác giả đề xuất các nhóm

Trang 20

giải pháp chung hoàn thiện thể chế môi trường kinh doanh, thực thi các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế

Phạm Huy Vinh và Trần Khánh Hưng (2011) xác định những nhân tố tác động và chức năng của thể chế trong nền kinh tế Theo các tác giả, có 3 nhân tố chính hình thành nên thể chế kinh tế: nhà nước, thị trường và các chủ thể kinh tế hoạt động theo các kiểu lợi ích khác nhau Trong đó: Nhà nước điều tiết các hoạt động kinh tế thông qua các chính sách kinh tế, thị trường điều tiết cung – cầu và giá cả hàng hóa, các doanh nghiệp hoạt động dựa trên tiêu thức lợi nhuận Ngoài ra, thể chế kinh tế còn chịu tác động của một số nhân tố khác như: trình độ phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, cơ chế quản lý, trình độ năng lực xây dựng và tổ chức thực hiện luật, ý thức chấp hành luật của doanh nghiệp,… Tác giả cũng nêu những thành tựu nổi bật trong môi trường kinh doanh Việt Nam như: (i) Nguyên tắc pháp quyền ngày càng được khẳng định và phát huy hiệu quả trong các hoạt động nền kinh tế, nếu trước đây Nhà nước quản lý kinh tế - xã hội chủ yếu bằng chính sách, nghị quyết và mệnh lệnh hành chính thì nay đã được pháp luật hóa; (ii) tạo được khuôn khổ pháp lý cho việc xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và (iii) dân chủ hóa đời sống kinh tế - xã hội Tuy nhiên, một số hạn chế cũng được tác giả chỉ ra như: tính bình đẳng trong môi trường kinh doanh giữa các thành phần kinh tế và sự mâu thuẫn giữa các quy định, thẩm quyền ban hành các thể chế quá rộng rãi, giao cho nhiều cơ quan, cải cách hành chính vẫn còn chậm

Boddewyn và Brewer (1994) cho rằng môi trường kinh doanh phụ thuộc rất lớn vào thể chế kinh tế của các quốc gia Với đặc thù thể chế khác nhau là điều kiện hình thành nên những đặc trưng môi trường kinh doanh khác nhau Ba cấu thành quan trọng của hệ thống thể chế gồm có thể chế chính thức (thành văn, như luật lệ), thể chế phi chính thức (bất thành văn, như tục

lệ và các quy tắc xử thế), và các cơ chế và biện pháp chế tài Scott (1995) chỉ ra rằng, để tồn tại, các doanh nghiệp phải phù hợp với các quy tắc và hệ

Trang 21

thống niềm tin phổ biến trong môi trường kinh doanh cụ thể, ví dụ như, các Tập đoàn đa quốc gia (MNCs) hoạt động tại các nước khác nhau với môi trường thể chế khác nhau, sẽ phải đối mặt với các áp lực khác nhau cả ở nước

sở tại và nước chủ đầu tư, điều này ảnh hưởng cơ bản đến chiến lược cạnh tranh (Martinsons, 1993; Porter, 1990) và hoạt động quản lý nguồn nhân lực (HRM) (Rosenzweig và Singh, 1991; Zaheer, 1995) Có nhiều bằng chứng cho thấy các doanh nghiệp trong các nền kinh tế khác nhau, sẽ phản ứng khác nhau với cùng một loại thách thức (Knetter, 1989) Xã hội, kinh tế, chính trị

và các yếu tố cấu thành một cơ cấu thể chế trong một môi trường cụ thể có thể tạo ra lợi thế cho các doanh nghiệp khi tham gia vào các hoạt động cụ thể ở

đó Các doanh nghiệp có xu hướng thực hiện hiệu quả hơn nếu họ nhận được

sự hỗ trợ về thể chế từ nhà nước (Allan Mudanya, 2013)

Theo VCCI, môi trường kinh doanh được đánh giá dưới 10 yếu tố cấu thành: chi phí gia nhập thị trường, tiếp cận đất đai, tính minh bạch, chi phí thời gian, chi phí không chính thức, cạnh tranh bình đẳng, tính năng động, dịch vụ

hỗ trợ doanh nghiệp, đào tạo lao động và thiết chế pháp lý Hay GEM lại cho rằng bên cạnh các yếu tố cơ bản như: thể chế, cơ sở hạ tầng, ổn định kinh tế vĩ

mô, giáo dục thì môi trường kinh doanh là một động thái trong đó có sự chi phối mạnh mẽ bởi bối cảnh kinh tế - xã hội và đặc trưng văn hoá của quốc gia

Môi trường kinh doanh có thể ảnh hưởng đến tác động lan tỏa theo nhiều cách Một trong những cách ảnh hưởng quan trọng nhất được nêu rất chi tiết trong lý thuyết là thông qua cạnh tranh Theo đó, có sự tương quan thuận giữa cạnh tranh và sức mạnh của lan tỏa Abraham và cộng sự (2006) kết luận rằng tác động lan tỏa chỉ tích cực trong những lĩnh vực có mức độ cạnh tranh cao Sự cạnh tranh đóng vai trò như chất xúc tác, qua đó giúp các doanh nghiệp trong nước nâng cao hiệu suất Sự gia tăng số lượng của các đối thủ cạnh tranh sẽ thúc đẩy nâng cao chất lượng để thu hút khách hàng hoặc tối thiểu hóa chi phí nhằm giảm giá thành, tăng thị phần Có nhiều công ty hoạt động trong cùng thị trường cũng làm tăng khả năng doanh nghiệp thu được tác

Trang 22

động lan tỏa tích cực Mặc dù vậy, sự cân bằng giữa cạnh tranh và lợi nhuận trung bình thấp khi cạnh tranh xảy ra cũng nên được cân nhắc

Báo cáo môi trường kinh doanh của WB/IFC: dựa vào các cuộc điều tra

từ các công ty tư vấn luật, đánh giá mức độ thuận lợi của các quốc gia thông qua việc rà soát những quy định pháp luật thúc đẩy hoặc kìm hãm các hoạt động của doanh nghiệp trong từng lĩnh vực như thành lập doanh nghiệp, tuyển dụng và sa thải lao động, thực thi hợp đồng, vay vốn, đóng cửa kinh doanh, cấp giấy phép, đóng thuế, thương mại quốc tế, bảo vệ nhà đầu tư và đăng kí bất động sản Như vậy, báo cáo không tính đến các yếu tố như các chính sách kinh tế vĩ mô, chất lượng cơ sở hạ tầng hay biến động tiền tệ Cụ thể, trong

Báo cáo môi trường kinh doanh 2020 của ngân hàng Thế giới

www.doingbusiness.orgkhảo sát môi trường kinh doanh của 189 nền kinh tế trên thế giới Trong đó New Zealand đứng đầu về môi trường kinh doanh thuận lợi, tiếp theo là Hong Kong, Trung Quốc, Singapore,…Việt Nam đứng

vị trí thứ 70/190 quốc gia, là nước đứng đầu trong khu vực Đông Nam Á – Thái Bình Dương trong việc thực hiện cải cách cho môi trường kinh doanh.Việt Nam cải thiện hệ thống thông tin tín dụng bằng một nghị định thành lập một khuôn khổ pháp lý cho thành lập các tổ chức tín dụng tư nhân, tăng cường việc bảo hộ các nhà đầu tư trong các trường hợp giao dịch có liên quan đến các bên Tuy nhiên, khả năng bảo vệ nhà đầu tư của Việt Nam xếp hạng thấp nhất trong 10 lĩnh vực, đứng thứ 157 trong số 190 nước Trong lĩnh vực thuế, doanh nghiệp mất tới một phần ba thời gian làm việc trong năm để

đi đóng thuế - 872 giờ đồng hồ, gấp 10 lần so với Singapore Đó là những hạn chế trong môi trường kinh doanh ở Việt Nam được báo cáo nêu rõ

Báo cáo chỉ số tự do kinh tế IEF của tổ chức Heritage Foundation chủ yếu dựa vào những chính sách và môi trường vĩ mô để đánh giá mức độ can thiệp của chính phủ vào các hoạt động doanh nghiệp và là một chỉ số trung bình của 10 yếu tố bao quát nhiều chủ điểm khác nhau của nền kinh tế như chính sách thương mại, chính sách tài khóa, tiền tệ, luồng vốn vào – ra, đầu tư

Trang 23

nước ngoài, tài chính và ngân hàng, giá cả và tiền lương, luật sở hữu và thị trường phi chính thức

Báo cáo chỉ số cạnh tranh toàn cầu GCI của diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) thì dựa trên những số liệu thống kê được công bố rộng rãi tại mỗi quốc gia và cả những số liệu khảo sát được cung cấp bởi các đối tác là các viện nghiên cứu về kinh tế, các tổ chức kinh doanh tại địa phương và các công ty

đa quốc gia lớn trên thế giới Báo cáo của WEF nhằm cung cấp một bức tranh tổng thể về những yếu tố đang tác động đến môi trường kinh doanh của mỗi nền kinh tế cũng như khả năng của mỗi quốc gia đạt được sự bền vững trong tăng trưởng và phát triển

Báo cáo chỉ số môi trường kinh doanh BCI của Phòng Thương mại Châu Âu tại Việt Nam (EuroCham), chỉ số này được hình thành dựa trên mức

độ cảm nhận trực tiếp của gần 800 doanh nghiệp Châu Âu là hội viên của EuroCham đang hoạt động trên thị trường Việt Nam Báo cáo thông qua 4 quý trong 1 năm nhằm đánh giá liên tục mức độ cảm về MTKD của các doanh nghiệp, qua đó nắm bắt được các khó khăn trực tiếp mà các DN đang gặp phải, làm căn cứ cho các đề xuất đối với Chính phủ Việt Nam trong việc cải thiện MTKD

Robin Wood (2000) cho rằng MTKD là một tập hợp các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội, công nghệ và được gọi là phân tích PEST (Political, Economic, Socio-cultural, Technology) hoặc STEP (Social, Technological, Political, Economic) Những yếu tố này nằm ngoài tầm kiểm soát và có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của DN Mở rộng thêm khái niệm của Robin Wood (2000), một số tác giả khác phân chia thành tố môi trường theo các yếu

tố xã hội, công nghệ, kinh tế, môi trường và chính trị (STEEP: Social, Technological, Economic, Environmental, Political) hoặc văn hóa-xã hội, chính trị-luật pháp, kinh tế, điều kiện tự nhiên và công nghệ (SPENT: Socio- cultural, Political-legal, Economic, Natural, Technological) Thậm chí, một số nghiên cứu tại Việt Nam còn thu hẹp khái niệm MTKD hơn nữa khi cho rằng

Trang 24

MTKD chủ yếu là các chính sách và quy định mà chính phủ áp dụng để điều tiết các hoạt động kinh doanh của DN (VCCI, 2008) Porter (2008) cũng cho rằng MTKD của một quốc gia là kết quả tích lũy của các chính sách nhà nước

ở tất cả các thang bậc hành chính khác nhau

1.2 Vai trò của nhà nước trong cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh

World Bank (2019), Vai trò của nhà nước trong phát triển doanh

nghiệp tư nhân Việt Nam, nghiên cứu cho rằng nhà nước có vai trò nòng cốt

trong thị trường cạnh tranh, với vai trò là một chủ thể với chức năng điều tiết, khắc phục sự thất bại của thị trường, tạo một sân chơi bình đẳng cho tất cả các doanh nghiệp, cá nhân đồng thời tạo thuận lợi cho việc cung cấp những dịch

vụ và cơ sở hạ tầng công thiết yếu Thành công trong tương lai của Việt Nam trong việc chuyển đổi nhanh chóng thành quốc gia có thu nhập cao sẽ phụ thuộc vào việc tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước Vấn

đề không phải là nhà nước hay thị trường tốt hơn mà vấn đề là ở chỗ thiết kế sắp xếp thể chế như thế nào cho tốt nhất để đảm bảo rằng nhà nước và thị trường bổ sung cho nhau nhằm đạt được các mục tiêu cốt lõi Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng năng lực nhà nước cần nâng cao nhằm phục vụ tốt hơn sự phát triển của tất cả các thể chế kinh tế thị trường và tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển các thị trường nhân tố Và do năng lực của nhà nước (nhân lực và tài lực) là có hạn, cần phải nổ lực hơn nữa để đảm bảo rằng nguồn lực được phân bổ cho các lĩnh vực và các vấn đề được ưu tiên cao nhất

Nghị quyết chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ 12 (2016) đã tái khẳng định rằng đổi mới mô hình tăng trưởng và hoàn thiện nền kinh tế thị trường là hai nhiệm vụ chủ chốt cho giai đoạn từ 2016 tới năm 2020 Đề cập đến vai trò tương đối của nhà nước và thị trường, nghị quyết cho rằng: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam bao gồm nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế với khu vực tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế; thị trường đóng vai trò lớn trong việc huy động và phân bổ hiệu quả nguồn lực cho phát triển; nhà nước đóng vai trò trong định hướng, xây

Trang 25

dựng và hoàn thiện các thể chế kinh tế tạo ra sự cạnh tranh công bằng, minh bạch và lành mạnh.” Nghị quyết cũng ưu tiên hoàn thiện quy trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và “một nền kinh tế thị trường hiện đại, đầy đủ và tích hợp với quyền sở hữu đa dạng – hoạt động đầy đủ và hiệu quả, theo quy luật kinh tế thị trường – cần phải được phát triển

và hoàn thiện” Nghị quyết nêu bật sự cần thiết cải cách thể chế nhằm tăng cường quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cần lưu ý rằng “nhiều quy định trong hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách, quản lý và quản trị không hoàn toàn tuân theo quy tắc của kinh tế thị trường, đặc biệt trong phân bổ nguồn lực, quản lý giá hàng hoá và dịch vụ thiết yếu và đảm bảo cạnh tranh công bằng”

Trong nghiên cứu của Bộ kế hoạch - đầu tư (MPI) và World Bank (WB) (2016) Báo cáo Việt Nam 2035 đã nêu lên những vai trò nhất định của “nhà nước” trong mối tương quan với “thị trường” trong tương lai, đó là: một nhà nước Việt Nam hiệu quả sẽ áp dụng những triết lý thị trường vào việc hoạch định các chính sách kinh tế Mối quan hệ giữa nhà nước – thị trường sẽ được đặc trưng hóa bởi sự phân chia rõ ràng giữa các khu vực công tư Các cơ quan chính quyền tham gia vào điều tiết kinh tế sẽ không tham gia vào các hoạt động kinh doanh ở bất kỳ hình thức nào Vai trò nhà nước trong nền kinh tế sẽ tập trung vào việc tạo sân chơi bình đẳng cho nền kinh tế với việc thực thi các quyền tài sản minh bạch hơn, an toàn hơn và cạnh tranh công bằng hơn

Nghiên cứu chuyên đề của CIEM (2016) thông qua tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế cho thấy nhà nước nên đóng vai trò với trọng tâm hẹp hơn, tập trung vào phát triển hạ tầng kinh tế và các thể chế cần thiết cho nền kinh tế thị trường Có 2 lí do chính để nhà nước đóng vai trò mang tính trọng tâm hơn Thứ nhất, nhà nước có năng lực hạn chế (về thể chế, con người và tài chính)

để can thiệp có hiệu quả Thứ hai, nhà nước đầu tư vào các hoạt động kinh doanh thương mại có xu hướng kém hiệu quả hơn đầu tư tư nhân

Trang 26

Trần Thị Hằng & Nguyễn Thị Minh Hiền (2019), Quản lý nhà nước

trong nền kinh tế số, nghiên cứu tiếp cận dưới góc nhìn quản lý nhà nước về

kinh tế trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0, khi mà các phương thức hoạt động kinh tế trên thế giới và Việt Nam đang có sự thay đổi mạnh mẽ Các đặc trưng của kinh tế thị trường như trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa cá nhân,

tổ chức, doanh nghiệp bắt đầu dựa trên ứng dụng công nghệ số Điều này đặt

ra một thách thức cho nhà nước, đòi hỏi nhà nước cũng phải đổi mới mô hình

và cách thức áp dụng công nghệ số trong quản lý kinh tế hiện nay

Đặng Xuân Hoan (2019), Đổi mới quản lý nhà nước trong điều kiện

kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Trước sự phát

triển của khoa học và công nghệ, tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đứng trước những cơ hội và thách thức không nhỏ Để vượt lên thách thức, biến những cơ hội thành kết quả phát triển, hoạt động quản lý nhà nước cần có những đổi mới để thích ứng Bài viết đánh giá thành tựu của quản lý nhà nước về kinh tế như: giải quyết tốt mối quan hệ nhà nước – xã hội – thị trường trong các hoạt động quản lý nhà nước, tốc độ tăng trưởng GDP cao, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư dần được cải thiện Bên cạnh đó, những hạn chế của quản lý nhà nước đối với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta giai đoạn 2011 – 2019 cũng được đề câp như: quản lý nhà nước chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; hiệu lực, hiệu quả chưa cao; kỷ luật, kỷ cương không nghiêm Qua những phân tích trên, nghiên cứu cũng đề xuất một

số định hướng đổi mới quản lý nhà nước đối với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong tương lai

World Bank (1997), Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi-

đánh giá khía cạnh các doanh nghiệp tư nhân, Báo cáo của ngân hàng thế giới

tập trung bàn về các nội dung: nhà nước nên làm gì? nên làm thế nào và có thể làm thế nào để đạt kết quả tốt hơn trong một thế giới đang thay đổi nhanh

Trang 27

chóng Nghiên cứu chia ra làm 4 phần: (1) Tư duy là về một nhà nước: tập trung thay đổi cách nhìn nhận về vai trò của nhà nước trong thời kì mới, nhấn mạnh vai trò “điều hướng” nền kinh tế thay vì “chỉ đạo” như trước đây (2) Làm cho vai trò của nhà nước tương xứng với năng lực: chỉ ra những hạn chế của nhà nước trong quá trình phân bổ nguồn lực, nhấn mạnh vai trò “nuôi dưỡng thị trường” của nhà nước bằng cách tự do hóa, điều tiết và đưa nhà nước đến gần người dân hơn (3) Làm sống lại năng lực thể chế: nhấn mạnh vai trò của thể chế trong việc quản lý nền kinh tế của nhà nước và (4) nêu lên những thách thức mới cho nhà nước trong vận hành nền kinh tế trong tương lai

Mishra, Deepak (2011), Báo cáo Phát triển Việt Nam 2012: Kinh tế Thị

trường khi Việt Nam trở thành Quốc gia có Thu nhập Trung bình,

Washington, D.C.: Ngân hàng Thế giới Nghiên cứu cho rằng, các nền kinh tế thị trường nguyên thuỷ dựa trên cơ sở sản xuất và trao đổi giản đơn có thể hoạt động một cách có hiệu quả mà không cần sự can thiệp của Nhà nước Tuy nhiên, vì nền kinh tế tăng trưởng dưới tác động bên ngoài ngày một phức tạp nên sự can thiệp của Nhà nước xuất hiện như một tất yếu cho sự hoạt động có hiệu quả của nền kinh tế Trong các nền kinh tế thị trường đã phát triển, Nhà nước có 3 chức năng kinh tế rõ rệt là: can thiệp, quản lý và điều hoà phúc lợi Mặc dù còn có những hạn chế nhất định, song sự điều tiết của Nhà nước vẫn

là một trong các hoạt động của nền kinh tế thị trường Theo đó, thị trường tự

do với đúng nghĩa của nó không thể tồn tại, ngoại trừ trong các lý thuyết kinh

tế Tuy nhiên, khi khẳng định sự cần thiết phải có sự can thiệp của Nhà nước thì cũng cần cân nhắc kỹ lưỡng từ cái được - cái mất của sự can thiệp ấy Cách giải quyết không phải là bỏ mặc thị trường, mà phải là nâng cao hiệu quả của

sự can thiệp đó Nhà nước có một vai trò chính đáng và thường xuyên trong các nền kinh tế hiện đại Vai trò đó của Nhà nước đặc biệt thể hiện rõ rệt ở việc xác định "các quy tắc trò chơi" để can thiệp vào những khu vực cần có sự lựa chọn, thể hiện nhưng khuyết tật của thị trường, để đảm bảo tính chỉnh thể của nền kinh tế và để cung cấp những dịch vụ phúc lợi

Trang 28

NCIF (2016) Vai trò của Nhà nước trong Đầu tư và Cung cấp Dịch vụ

công Nền tảng về Vai trò của Nhà nước trong Phát triển Nền kinh tế Việt Nam Tài liệu tập trung phân tích ở góc độ vai trò của nhà nước trong cung

cấp dịch vụ công, trong đó nổi bật với việc: nhà nước cần thiết lập môi trường thể chế cho cung cấp dịch vụ công dựa trên các nhu cầu khách quan của xã hội Nhà nước đóng vai trò như nhà đầu tư và nhà cung cấp dịch vụ công trực tiếp chủ yếu thông qua các đơn vị dịch vụ công (PSUs) Nghiên cứu của NCIF nhấn mạnh rằng thách thức chính của nhà nước trong việc cải thiện mức độ và chất lượng cung cấp dịch vụ công là đổi mới thể chế và cơ cấu thể chế Cơ chế

và chính sách nhà nước cần phải được xây dựng lại để phản ánh nhất quán bản chất “công” (mức độ cần thiết) của dịch vụ công với một định nghĩa rõ ràng về chức năng của Nhà nước trong mỗi giai đoạn của việc lập kế hoạch, cung cấp

và giám sát dịch vụ công Hệ thống phân bổ nguồn lực và loại hình hỗ trợ cho cung cấp dịch vụ công cần phải tập trung vào kết quả (đầu ra) Vai trò của xã hội trong cung cấp dịch vụ công cần phải được định nghĩa rõ ràng và được khuyến khích, chủ yếu tập trung vào vai trò tương ứng của chính phủ và xã hội trong đánh giá và theo dõi mức độ và chất lượng dịch vụ công

1.3 Thực tiễn cải thiện môi trường kinh doanh ở Việt Nam thời gian qua

Hakkala và Kokko (2007) nhận thấy mặc dù những cải cách kinh tế trong thời gian qua ở Việt Nam đã dần tạo được môi trường kinh doanh công bằng hơn, những quy định và chính sách đang dần trở nên thân thiện và thuận lợi hơn cho khu vực tư nhân, nhưng những cản trở lớn nhất đối với các doanh nghiệp tư nhân (DNTN) vẫn nằm ở những ưu đãi đối khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) trong khả năng tiếp cận thị trường, vốn, đất đai,… tạo hiệu ứng lấn át các DNTN Qua đó, nhóm tác giả cho rằng, việc tạo lập được môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các DNTN và DNNN là vô cùng quan trọng, tuy nhiên ngay cả khi những biện pháp mạnh và triệt để được thực hiện thì các doanh nghiệp khu vực tư nhân, chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng khó có thể cạnh tranh được trong những ngành thâm dụng vốn và kĩ năng

Trang 29

công nghệ, vốn vẫn do các DNNN, doanh nghiệp có vốn nước ngoài chiếm ưu thế Vì thế chính phủ cũng cần có những biện pháp khác để nâng cao được năng lực cạnh tranh của các DNTN Tenev và các đồng nghiệp (2003) cho rằng sự cạnh tranh không công bằng được coi là điều kiện khắc nghiệt nhất mà các DNTN phải trải qua Có đến 42% doanh nghiệp ở khu vực này phàn nàn những ưu đãi dành cho các DNNN là những cản trở chính cho quá trình sản xuất kinh doanh

Rand và Tarp (2007) đánh giá cao điều kiện thị trường lao động linh hoạt, và coi là một trong những điểm mạnh của môi trường kinh doanh tại Việt Nam Một trong những tiêu chí để đánh giá là những quy định liên quan đến việc tuyển dụng và sa thải nhân công Theo các tác giả, những quy định này được coi là đơn giản, không phức tạp, bởi tỷ lệ lao động tạm thời trên lao động dài hạn thấp (trung bình 7.2%), ám chỉ rằng những chi phí thuê mướn và

sa thải lao động không quá lớn, nên không khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động ngắn hạn Trong khi đó, theo đánh giá của Báo cáo Môi trường kinh doanh của WB, chỉ tiêu tuyển dụng và sa thải lao động của Việt Nam đứng ở vị trí rất khiêm tốn so với các nước, cũng như so với các chỉ tiêu khác của Việt Nam Tuy nhiên, vấn đề lao động nổi trội nhất trong các nghiên cứu chủ yếu liên quan đến khả năng tiếp cận lao động có kỹ năng và trình độ Đây có lẽ là hạn chế lớn nhất của lao động Việt Nam Báo cáo của VNCI (2006) cho thấy lao động và nguồn nhân lực chất lượng cao hai năm liền là một trong ba khó khăn lớn nhất mà các doanh nghiệp phải đối mặt Theo báo cáo chỉ số cạnh tranh toàn cầu GCI 2008-2009, trong cuộc khảo sát ý kiến các chuyên gia, thiếu lao động có trình độ là một trong ba yếu kém nhất của Việt Nam, và ảnh hưởng đến quá trình phát triển của doanh nghiệp

Theo Phan Đức Hiếu (2018) hạn chế nổi bật nhất trong việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay chính là vẫn loay hoay với bài toán cải cách điều kiện kinh doanh Muốn cắt giảm giấy tờ phải là cấp bộ, cải cách thủ tục hành chính thì từ cấp địa phương Sự không tương thích giữa

Trang 30

các bộ ngành là mấu chốt dẫn đến việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh chưa được hiệu quả Nguyễn Đình Huệ (2018) cải thiện môi trường kinh doanh thông qua cắt giảm thủ tục đăng ký kinh doanh, giấy phép con trên tinh thần tự nguyện, chủ động trong mỗi bộ, ngành tuy nhiên tính tự giác chưa cao

là một trong những nguyên nhân gây cản trở các doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp xuất nhập khẩu Bên cạnh đó, trong cải cách hành chính thì vấn

đề một cửa còn mang tính hình thức, rất ít cơ quan hành chính chịu giảm giấy

tờ và công đoạn xử lý hồ sơ

Trần Thọ Đạt (2018) cho rằng các mô hình tăng trưởng tân cổ điển và tăng trưởng nội sinh được cho là thất bại trong việc giải thích sự khác biệt về tăng trưởng kinh tế giữa các quốc gia dựa trên tích lũy vốn hay tiến bộ công nghệ, và kinh tế học thể chế ra đời rồi phát triển nhằm giải thích nguồn gốc của tăng trưởng bằng cách đưa vào yếu tố thể chế để xem xét ảnh hưởng của chúng đến tăng trưởng kinh tế và chất lượng của môi trường kinh doanh Theo tác giả, thể chế kinh tế chậm đổi mới được xác định là một trong số các nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tốc độ tăng trưởng của Việt Nam có xu hướng giảm so với các giai đoạn trước đây và chúng ta đang thiếu những động lực quan trọng và đủ mạnh để đưa nền kinh tế có thể vượt qua được vùng trũng tăng trưởng một cách bền vững Việc nhận diện được các rào cản về thể chế kinh tế đối với sự phát triển môi trường kinh doanh của Việt Nam, từ đó đề xuất các định hướng và các giải pháp để nhanh chóng khắc phục những rào cản đó, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn sắp tới là đòi hỏi cấp thiết hiện nay

Báo cáo “Chương trình cải cách môi trường kinh doanh Việt Nam c

nhìn t doanh nghiệp” (đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết 02 năm 2020

và Nghị quyết 35 năm 2016 của Chính phủ) được Phòng Thương mại và Công

nghiệp Việt Nam (VCCI) xây dựng trong khuôn khổ Dự án T ng cường tiếng

n i của doanh nghiệp trong việc giám sát và thực hiện tái cơ cấu kinh tế

(thuộc Chương trình Australia hỗ trợ cải cách kinh tế Việt Nam -

Trang 31

Aus4Reform, do Bộ Ngoại giao và Thương mại Australia - DFAT tài trợ) Báo cáo phản ánh, phân tích các hoạt động của cơ quan nhà nước nhằm thực thi Nghị quyết 02 và Nghị quyết 35 và tác động của chúng lên hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cũng như môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam Nhìn chung, các biện pháp cải thiện môi trường kinh doanh và hỗ trợ doanh nghiệp vẫn được tiếp tục thực hiện, bất chấp bối cảnh dịch bệnh Covid-

19 và giai đoạn này trùng với thời điểm chuyển giao nhiệm kỳ ĩnh vực thành

lập doanh nghiệp và tiếp cận điện n ng vẫn được đánh giá cao nhất (lần lượt

là 72,5% và 65,9% doanh nghiệp đánh giá có sự chuyển biến tốt hoặc rất tốt),

và xếp cuối cùng là lĩnh vực phá sản (44,4% doanh nghiệp đánh giá tốt hoặc rất tốt) Tuy nhiên, tốc độ cải thiện dường như chậm lại so với các năm trước,

và xu hướng thay đổi của các lĩnh vực tương đối trái ngược: các lĩnh vực có điểm số thấp (phá sản, bảo vệ nhà đầu tư và xuất nhập khẩu) tăng điểm, trong khi các lĩnh vực có điểm cao (thành lập doanh nghiệp, tiếp cận điện năng) lại giảm điểm Đáng chú ý, cùng liên quan đến tài chính doanh nghiệp, trong khi tiếp cận tín dụng năm 2020 được cảm nhận khó khăn hơn so với năm 2019, thì thủ tục thuế lại trở nên dễ dàng hơn nhiều Xét theo địa phương, các chỉ số vẫn thể hiện tích cực hơn so với năm 2019, nhưng tốc độ cải thiện đã chậm lại

1.4 Các yêu cầu về môi trường kinh doanh trong hội nhập quốc tế

Theo USAID (2020), hội nhập quốc tế đặt ra nhiều yêu cầu mới đòi hỏi môi trường kinh doanh không chỉ là “trạng thái” mà là một “động thái” thay đổi liên tục để thích ứng trong tình hình mới Theo đó, trong hội nhập quốc tế, môi trường kinh doanh cần đảm bảo các tiêu chí sao cho năng lực cạnh tranh của khu vực tư nhân nội địa được tăng cường, cần có những đổi mới sáng tạo nhằm giúp Việt Nam chuyển đổi sang nền kinh tế tri thức và trở thành trung tâm công nghệ của khu vực vào năm 2045 Cùng với đó, những cải thiện về MTKD không chỉ dừng lại ở các tiêu chí của sự phát triển nhất thời mà kết hợp với các lợi thế từ hội nhập quốc tế hướng đến phát triển bền vững hơn trong tương lai

Trang 32

Nguyễn Thanh (2019), khi xu hướng phát triển bền vững, sáng tạo đang nổi lên với sức hấp dẫn, lôi cuốn và lan tỏa khắp thế giới và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra; tư duy về hội nhập kinh tế quốc tế cũng cần thay đổi Ngày nay, chủ động cải thiện MTKD đã trở thành một hướng đi mới thiết thực mà quốc gia nào cũng thấy cần thiết để đáp ứng nhu cầu và mục tiêu trước mắt, cũng như lâu dài Đích hướng đến cuối cùng là xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ, có cơ cấu kinh tế hợp lý, hiệu quả và bảo đảm độ an toàn cần thiết, đó là nền kinh tế phát triển bền vững và có năng lực cạnh tranh cao; cơ cấu xuất, nhập khẩu cân đối; đầu tư trực tiếp của nước ngoài trong một

số ngành kinh tế, nhất là những ngành kinh tế quan trọng, chiếm một tỷ lệ không thể chi phối được nền kinh tế; hạn chế hoặc không cho phép đầu tư nước ngoài vào những ngành nhạy cảm Do đó, trong hội nhập quốc tế, muốn làm chủ “cuộc chơi” bản thân các quốc gia phải “chủ động” trong quá trình thiết lập môi trường đầu tư

Những tác giả có nghiên cứu về môi trường kinh doanh ở Việt Nam, chuyên sâu về môi trường kinh doanh như Nguyễn Đình Cung (2008) - về việc thực hiện luật đầu tư và luật doanh nghiệp từ góc độ cải cách thể chế; Tenev và các đồng nghiệp (2003) - về hoạt động không chính thức và sự bất bình đẳng trong môi trường kinh doanh; Tuấn và các đồng nghiệp (2004) – về đánh giá tác động của chính sách đến hoạt động sản xuất kinh doanh của những doanh nghiệp vừa và nhỏ, Hansen và các đồng nghiêp (2006) – về định lượng những hỗ trợ trực tiếp của chính phủ trong quá trình thành lập doanh nghiệp và tương tác với khu vực nhà nước ảnh hưởng thế nào đến hiệu quả sản xuất

Trang 33

Tiểu kết chương 1

Các công trình nghiên cứu đi theo nhiều hướng tiếp cận khác nhau với mục đích là tìm ra các nhân tố tạo lập MTKD cũng như vai trò của MTKD trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Các nghiên cứu này đã cung cấp những luận cứ khoa học đa dạng cho việc nghiên cứu về MTKD ở vùng ĐNB Các nhân tố MTKD được tìm thấy trong các nghiên cứu là rất đa dạng

và có sự khác biệt về số lượng cũng như chiều hướng ảnh hưởng của các nhân

tố này (tích cực hoặc tiêu cực)

Các nghiên cứu hiện nay phần lớn đều đưa ra các nhận định và đánh giá chung cho môi trường kinh doanh của toàn bộ Việt Nam mà chưa đi vào cụ thể những đặc điểm khác biệt và môi trường kinh doanh mang tính chất vùng miền trong lãnh thổ Việt Nam Các nghiên cứu nước ngoài thường so sánh xếp hạng các yếu tố về MTKD, vẫn còn khiêm tốn trong việc đi sâu hiểu nguyên nhân để đưa ra các giải pháp Các nghiên cứu trong nước thì thường tiếp cận sâu nhưng chỉ là một hoặc một vài yếu tố của MTKD chưa tiếp cận một cách toàn diện Hơn nữa các nghiên cứu này thường tập trung nghiên cứu ở cấp độ quốc gia, ít nghiên cứu tập trung ở cấp độ tỉnh hoặc vùng PCI của VCCI có nghiên cứu từng tỉnh, nhưng lại cũng chỉ xếp hạng và so sánh và chỉ ra các tỉnh làm tốt, chưa tốt, chứ không đi sâu vào các tỉnh hoặc vùng để tìm hiểu rõ nguyên nhân và giải pháp cải thiện MTKD cho mỗi vùng/tỉnh

Đây chính là khoảng trống tạo động lực thúc đẩy tác giả thực hiện nghiên cứu này với mong muốn góp phần nhỏ công sức của mình giải quyết vấn đề cải thiện MTKD ở vùng ĐNB trong thời gian tới

Trang 34

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH

CHO DOANH NGHIỆP TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

2.1 Các lý thuyết về môi trường kinh doanh và vai trò của môi trường kinh doanh trong phát triển kinh tế

2.1.1 Khái niệm và đặc điểm môi trường kinh doanh

Theo cách hiểu rộng nhất, MTKD là tập hợp những điều kiện bên trong

và bên ngoài có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động sản xuất và kinh doanh của các doanh nghiệp (DN) Đây cũng là quan điểm của Jauch và Glueck (1988), theo đó có những tầng mức MTKD khác nhau Tầng mức môi trường nội tại bao gồm một số yếu tố bên trong mà DN có thể kiểm soát được như vốn, lao động, thông tin, ý tưởng, đất đai, thiết bị, và quyết định sản lượng Tầng mức môi trường bên ngoài liên quan đến các yếu tố ngành (điều kiện chung cho tất cả các doanh nghiệp hoạt động cùng ngành), quốc gia (hệ thống các yếu tố rộng và bao quát những ngành hoạt động khác nhau của nền kinh tế như ngân hàng, giáo dục, thương mại, công nghiệp,…), khu vực và thế giới (các điều kiện ảnh hưởng đến quốc gia) Đây là tầng mức môi trường mà

DN không thể kiểm soát được mà chỉ có thể phản hồi hoặc tương tác lại Các

DN sẽ điều chỉnh những thành tố môi trường nội tại để nắm bắt được những

cơ hội cũng như để đối mặt với những thách thức từ môi trường bên ngoài

Robin Wood (2000) cho rằng MTKD là một tập hợp các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội, công nghệ và được gọi là phân tích PEST (Political, Economic, Socio-cultural, Technology) hoặc STEP (Social, Technological, Political, Economic) Những yếu tố này nằm ngoài tầm kiểm soát và có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của DN Mở rộng thêm khái niệm của Robin Wood (2000), một số tác giả khác phân chia thành tố môi trường theo các yếu

tố xã hội, công nghệ, kinh tế, môi trường và chính trị (STEEP: Social, Technological, Economic, Environmental, Political) hoặc văn hóa-xã hội,

Trang 35

chính trị-luật pháp, kinh tế, điều kiện tự nhiên và công nghệ (SPENT: Socio- cultural, Political-legal, Economic, Natural, Technological) Thậm chí, một số nghiên cứu tại Việt Nam còn thu hẹp khái niệm MTKD hơn nữa khi cho rằng MTKD chủ yếu là các chính sách và quy định mà chính phủ áp dụng để điều tiết các hoạt động kinh doanh của DN (VCCI, 2008) Porter (2008) cũng cho rằng MTKD của một quốc gia là kết quả tích lũy của các chính sách nhà nước

ở tất cả các thang bậc hành chính khác nhau

Theo World Bank (2005), môi trường kinh doanh là tập hợp các yếu tố đặc trưng nhằm tạo ra các cơ hội và các khuyến khích để cho các doanh nghiệp tiến hành các hoạt động đầu tư, mở rộng quy mô doanh nghiệp và tăng trưởng Các thành tố của môi trường kinh doanh bao gồm: môi trường thể chế chính thức, thể chế phi chính thức (mạng lưới doanh nghiệp), môi trường cơ

sở hạ tầng (cứng và mềm) và môi trường ngành Do đó, theo WB, muốn hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển, cần quan tâm đến MTKD thông qua các yếu tố cấu thành nó

Theo Mai Ngọc Cường (1996), MTKD là tổng hợp nhiều yếu tố, điều

kiện mà doanh nghịêp sử dụng để tiến hành toàn bộ quá trình kinh doanh Đó

là tổng thể những điều kiện, những yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho doanh nghiệp họat động có hiệu quả Môi trường bên trong bao gồm toàn bộ những quan hệ kinh tế, tổ chức, kĩ thuật nhằm đảm bảo cho DN kết hợp một cách hợp lý các yếu tố sản xuất đầu vào để tạo ra sản phẩm, theo nguyên tắc chi phí tối thiểu có sản phẩm tối đa Môi trường bên ngoài là tổng hợp các quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội, luật pháp, khoa học kĩ thuật, tài nguyên; hình thành một cách khách quan, tác động đến hoạt động kinh doanh của DN Cách tiếp cận này có ưu điểm là giúp xác định rõ các yếu

tố và điều kịên của MTKD Tuy nhiên hạn chế là không thấy được tính phức tạp và thường xuyên biến động của MTKD Bởi các yếu tố này luôn có sự thay đổi, biến động và tác động qua lại lẫn nhau, từ đó phát sinh nhu cầu điều chỉnh, hoàn thiện

Trang 36

Theo Vũ Huy Từ (2008), MTKD là sự vận động tổng hợp, tương tác lẫn nhau giữa các yếu tố gây ảnh hưởng trực tiếp đến họat động kinh doanh của

DN Các yếu tố được hình thành theo 4 nhóm sau đây:

- Các loại thị trường: thị trường hàng hóa dịch vụ, thị trường bất động sản, thị trường lao động, thị trường khoa học công nghệ thông tin, thị trường tiền tệ theo nghĩa rộng (bao gồm thị trường vốn, thị trường chứng khoán, các yếu tố: tỷ giá, lãi suất, )

- Môi trường kinh tế chính trị xã hội thể hiện ở trình độ phát triển kinh

tế, xã hội, các yếu tố thuộc chủ trương đường lối, chính sách của nhà nước, những đặc điểm về truyền thống, văn hóa, tâm lý xã hội

- Môi trường sinh thái: yếu tố này đặc bịêt quan trọng với các DN phát triển nông nghiệp, công nghiệp chế biến

- Môi trường hành chính kinh tế bao gồm các yếu tố về mô hình tổ chức, họat động của bộ máy và cơ chế quản lý kinh tế xã hội của nhà nước

Các yếu tố trên luôn tác động qua lại lẫn nhau, tạo thành MTKD của

DN, chúng phát sinh vận động theo những quy luật khách quan Cách tiếp cận này chỉ chú ý đến các yếu tố bên ngoài, làm giảm vai trò của DN trong MTKD, chưa nhận thức đủ vai trò của DN trong việc thiết lập MTKD Trên thực

tế, DN có vai trò rất lớn trong vịêc tạo lập MTKD cho mình Điều này thấy rõ ở các quốc gia có nền kinh tế năng động như EU, Mỹ, Anh, Pháp, cộng đồng DN

có tiếng nói rất quan trọng tới các chính sách kinh tế của nhà nước, họ đã trực tiếp tác động đến MTKD và là một bộ phận của môi trường đó

Mặc dù có nhiều định nghĩa khá đa dạng về MTKD, nhưng chủ điểm chính của MTKD như các thủ tục hành chính và quản lý, hoạt động và chi phí không chính thức, các chính sách hỗ trợ/can thiệp của nhà nước, khả năng tiếp cận các nguồn lực,… vẫn luôn là trung tâm của phần lớn những thảo luận và nghiên cứu về MTKD của các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng Những chủ điểm này đã bao chứa những tầng lớp môi trường chính

có tác động đến hoạt động của các DN trong phạm vi một quốc gia, cũng như

Trang 37

có sự gắn bó mật thiết với thể chế cũng như pháp luật, quy định của chính phủ đối với DN

Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về MTKD nhưng để đến gần hơn với khái niệm, cần lưu ý một số đặc trưng sau:

+ Bản thân kinh doanh là một quá trình vận động trong một môi trường cũng không ngừng vận động Bởi vậy mọi sự mô phỏng tĩnh tại chỉ là tương đối theo mục đích nghiên cứu

+ Các nhân tố cấu thành MTKD vừa tự vận động, lại vừa tác động qua lại với nhau và tạo thành ngoại lực chính cho sự vận động biến đổi của MTKD

+ Các nhân tố của MTKD rất đa dạng và phong phú Do đó, việc nghiên cứu nó đòi hỏi nhiều cách tiếp cận và nhiều phương pháp Với các quy mô nghiên cứu, địa bàn nghiên cứu, khía cạnh nghiên cứu khác nhau thì các yếu tố cấu thành MTKD khác nhau

+ DN không chỉ thụ động chịu các tác động từ MTKD mà chính nó lại sản sinh ra các tác nhân làm thay đổi MTKD

Từ việc luận giải trên có thể nhận thức rằng: MTKD là tổng hợp các yếu

tố bên trong, bên ngoài doanh nghiệp tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến quá trình hoạt động kinh doanh

Cách tiếp cận này cho thấy, MTKD bao gồm tổng thể các nhân tố mang tính khách quan và chủ quan, vận động và tương tác lẫn nhau, tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến họat động kinh doanh của DN Sự tác động này có thể tạo ra những thuận lợi hoặc khó khăn cho họat động kinh doanh Khác với các

tổ chức khác, họat động của một DN không mang tính độc lập, mỗi một DN như là một khâu, một mắc xích trong hệ thống sản xuất xã hội nhất định, ranh giới giữa DN với MTKD rất linh họat theo mô hình hệ thống mở MTKD luôn luôn thay đổi, cho nên các yếu tố, điều kiện tác động đến hoạt động kinh doanh của DN không cố định một cách tĩnh tại mà thường xuyên vận động, biến đổi Bởi vậy để nâng cao hiệu quả họat động của DN, các nhà quản trị phải nhận biết một cách nhạy bén và dự báo đúng được sự thay đổi của

Trang 38

MTKD, có biện pháp thích hợp để quản lý sự thay đổi đó nhằm tạo MTKD thuận lợi cho các DN họat động có hiệu quả cao

2.1.2 Một số lý thuyết về môi trường kinh doanh

2.1.2.1 Mô hình nghiên cứu PCI của VCCI

VCCI nghiên cứu về môi trường kinh doanh thông qua chỉ số PCI Chỉ

số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI (Provincial Competitiveness Index) là chỉ

số đánh giá cảm nhận của các doanh nghiệp trên cả nước về chất lượng điều hành kinh tế và môi trường kinh doanh tại từng địa phương Từ năm 2005 tới nay, báo cáo chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh được VCCI phối hợp với USAID tiến hành điều tra, nghiên cứu và công bố thường niên tới rộng rãi cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư, cơ quan chính phủ, các tổ chức quốc tế

và các cơ quan báo chí trong và ngoài nước Chỉ số PCI hiện được coi là công

cụ đánh giá khách quan, hữu ích cho các cơ quan hoạch định chính sách và giới doanh nhân tại Việt Nam Nhiều địa phương trên cả nước ngày càng quan tâm hơn tới việc cải thiện năng lực cạnh tranh và sử dụng PCI như phương hướng cải thiện chất lượng điều hành kinh tế cũng như thúc đẩy các cải cách

về môi trường kinh doanh một cách lành mạnh, hiệu quả

PCI được công bố thí điểm lần đầu tiên vào năm 2005 gồm 8 chỉ số thành phần, mỗi chỉ số thành phần lý giải sự khác biệt về phát triển kinh tế giữa các tỉnh, thành phố của Việt Nam, theo đó đã có 47 tỉnh, thành phố ở Việt Nam được xếp hạng và đánh giá Lần thứ hai vào năm 2006, hai lĩnh vực quan trọng của MTKD bao gồm: thiết chế pháp lý và đào tạo lao động được đưa vào xây dựng chỉ số PCI

Từ năm 2006 trở đi, tất cả các tỉnh thành của Việt Nam đều được đưa vào bảng xếp hạng, đồng thời các chỉ số thành phần cũng được tăng cường thêm

Năm 2009, phương pháp luận PCI được điều chỉnh để phản ánh kịp thời

sự phát triển năng động của nền kinh tế và các thay đổi trong môi trường pháp

lý Việt Nam Sau khi loại bỏ chỉ số “ưu đãi doanh nghiệp nhà nước”, hiện nay,

Trang 39

PCI còn 10 chỉ số thành phần, theo đó, một tỉnh được đánh giá là thực hiện tốt tất cả 10 chỉ số thành phần này cần có:

Hình 2.1 Mô hình PCI

Nguồn:pcivietnam.org, 2020 2.1.2.2 Mô hình nghiên cứu GEM

Nghiên cứu GEM cũng là một sáng kiến để cung cấp các chỉ số dự báo phát triển kinh tế GEM đo lường sự nhận thức của các cá nhân đối với hoạt động kinh doanh, nỗ lực của họ khi tham gia vào các hoạt động kinh doanh và động lực của họ khi tham gia vào các hoạt động này Những thông tin này được thu thập qua việc khảo sát người trưởng thành sẽ được bổ sung bởi các đánh giá về môi trường kinh doanh của các chuyên gia trong nước Nhờ việc

sử dụng hai nguồn dữ liệu quan trọng trên, GEM giúp nghiên cứu tác động của thể chế đến các hoạt động kinh doanh cũng như là mối quan hệ giữa sự phát triển kinh doanh và sự phát triển kinh tế của quốc gia

Trên thực tế, trước khi GEM xuất hiện, chưa có một nghiên cứu hay sáng kiến nào giúp so sánh sự phát triển kinh doanh giữa các quốc gia Mặc dù

đã có một số dự án cố gắng cung cấp các chỉ số giúp so sánh sự phát triển kinh doanh giữa các quốc gia như cơ sở dữ liệu COMPENDIA của OECD, tuy nhiên những chỉ số này hoặc là chỉ phản ánh sự phát triển kinh doanh thông qua 1 tiêu chí (trong khi các nhà nghiên cứu đều đồng ý rằng kinh doanh là tổng thể của rất nhiếu yếu tố), hoặc chỉ so sánh dữ liệu chủ yếu giữa các quốc gia phát triển Sự ra đời của GEM đã giúp cung cấp một cơ sở dữ liệu tổng

Đào tạo lao động Thiết chế pháp lý

Môi trường kinh doanh

Trang 40

hợp về tình hình phát triển kinh doanh tại mỗi quốc gia và có thể so sánh được

với các nước trong khu vực cũng như trên thế giới Dù hiện nay cũng đã xuất

hiện một vài nghiên cứu tương tự như GEM giúp cung cấp chỉ số so sánh mức

độ phát triển kinh doanh ở các nước, trong đó phải kể đến ba nghiên cứu nổi

tiếng là: Chương trình chỉ số kinh doanh (Entrepreneurship Indicators

Programme - EIP) của OECD/Kauffman, Dữ liệu khảo sát doanh nghiệp

(Enterprise Data/Survey) của World Bank và Khảo sát kinh doanh (Survey on

entrepreneurship) của Eurobarometer Theo cách tiếp cận của nghiên cứu

GEM, môi trường kinh doanh hiểu một cách toàn diện và đầy đủ, là kết quả

đồng thời của hai yếu tố: hoạt động kinh doanh hiện tại và đặc điểm của doanh

nhân Hai yếu tố này có mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau, do đó khi nghiên cứu môi

trường kinh doanh cần phải xem xét đồng thời bản thân hoạt động kinh doanh và

các cá nhân là chủ và là người quản lý hoạt động kinh doanh đó Đây cũng là

phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu của GEM thể hiện trong Hình 2.2

Hình 2.2 Mô hình tiếp cận nghiên cứu MTKD của GEM

Nguồn: Amoros và Bosma (2014)

Ngày đăng: 28/08/2023, 23:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9/ Robin Wood (2000): Managing Complexity: Managing Complexity: How Businesses Can Adapt and Prosper in the Connected Economy, Economist Books Sách, tạp chí
Tiêu đề: Managing Complexity: How Businesses Can Adapt and Prosper in the Connected Economy
Tác giả: Robin Wood
Nhà XB: Economist Books
Năm: 2000
10/ Tenev, Stoyan, Amanda Carlier, , Omar Chaudry, and Nguyen Quynh Trang (2003), Informality and the Playing Field in Vietnam‟s Business Sector, World Bank and IFC, Washington, D.C Sách, tạp chí
Tiêu đề: Informality and the Playing Field in Vietnam‟s Business Sector
Tác giả: Stoyan Tenev, Amanda Carlier, Omar Chaudry, Nguyen Quynh Trang
Nhà XB: World Bank
Năm: 2003
12/ WIDER (2016), Đặc điểm môi trường kinh doanh ở Việt Nam – Kết quả điều tra doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm môi trường kinh doanh ở Việt Nam – Kết quả điều tra doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2015
Tác giả: WIDER
Năm: 2016
13/ World Bank (2005), Doing Business 2005. Comparing Business Regulation in190 Economies (October), Washington, DC: World Bank Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doing Business 2005. Comparing Business Regulation in 190 Economies
Tác giả: World Bank
Nhà XB: World Bank
Năm: 2005
14/ World Bank (2006). Vietnam Development Report 2006: Business. Hanoi: World Bank Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vietnam Development Report 2006: Business
Tác giả: World Bank
Nhà XB: World Bank
Năm: 2006
15/ World Bank (2014). “Đánh giá Khu vực Tài chính Việt Nam”. Washington, DC: World Bank Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá Khu vực Tài chính Việt Nam
Tác giả: World Bank
Nhà XB: World Bank
Năm: 2014
16/ World Economic Forum (2016), “Báo cáo N ng lực Cạnh tranh Toàn cầu” 2016-2017.2/ Tài liệu trong nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo N ng lực Cạnh tranh Toàn cầu 2016-2017
Tác giả: World Economic Forum
Năm: 2016
1/ Ban Kinh tế Trung ƣơng và USAID (2017), Chẩn đoán t ng trưởng kinh tế Việt Nam, Nxb Thông tin và Truyền Thông, Hà Nội 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chẩn đoán t ng trưởng kinh tế Việt Nam
Tác giả: Ban Kinh tế Trung ƣơng, USAID
Nhà XB: Nxb Thông tin và Truyền Thông
Năm: 2017
3/ Đặng Thị Mai Hương & Đặng Thị Lan (2019), Việt Nam nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh, Tạp chí Công Thương, truy cập ngày 26/06/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh
Tác giả: Đặng Thị Mai Hương, Đặng Thị Lan
Nhà XB: Tạp chí Công Thương
Năm: 2019
4/ Hồ Sỹ Ngọc, Một số mô hình thu hút đầu tư nước ngoài- Kinh nghiệm cải tiến môi trường đầu tư Việt Nam. Nghiên cứu kinh tế, số 2 tháng 2 năm 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số mô hình thu hút đầu tư nước ngoài- Kinh nghiệm cải tiến môi trường đầu tư Việt Nam
Tác giả: Hồ Sỹ Ngọc
Nhà XB: Nghiên cứu kinh tế
Năm: 2013
5/ Huỳnh Ngọc Chương, Ảnh hưởng của môi trường thể chế đến dòng vốn vào thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2000 – 2011, Tạp chí Công nghệ ngân hàng, số 81/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của môi trường thể chế đến dòng vốn vào thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2000 – 2011
Tác giả: Huỳnh Ngọc Chương
Nhà XB: Tạp chí Công nghệ ngân hàng
Năm: 2012
6/ Lê Danh Vĩnh (2009), Hoàn thiện thể chế về môi trường kinh doanh của Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện thể chế về môi trường kinh doanh của Việt Nam
Tác giả: Lê Danh Vĩnh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2009
7/ Lê Danh Vĩnh (chủ biên), Hoàn thiện thể chế về môi trường kinh doanh của Việt Nam, NXB Hà Nội (2009) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện thể chế về môi trường kinh doanh của Việt Nam
Tác giả: Lê Danh Vĩnh
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2009
8/ Lê Duy Bình (2018), Báo cáo: Kinh tế tư nhân Việt Nam – N ng suất và thịnh vượng, Hà Nội 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo: Kinh tế tư nhân Việt Nam – N ng suất và thịnh vượng
Tác giả: Lê Duy Bình
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2018
9/ Lương Minh Huân (2014), Báo cáo Chỉ số Khởi nghiệp Việt Nam n m 2014, Nxb Thông Tấn, Hà Nội 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Chỉ số Khởi nghiệp Việt Nam n m 2014
Tác giả: Lương Minh Huân
Nhà XB: Nxb Thông Tấn
Năm: 2014
10/ Mai Ngọc Cường (1996), Nhận thức về môi trường kinh doanh, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 31/1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận thức về môi trường kinh doanh
Tác giả: Mai Ngọc Cường
Nhà XB: Tạp chí Kinh tế và Phát triển
Năm: 1996
11/ MPI (2008), Báo Cáo Thường Niên Doanh Nghiệp Vừa và Nhỏ Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Cáo Thường Niên Doanh Nghiệp Vừa và Nhỏ Việt Nam
Tác giả: MPI
Năm: 2008
12/ NCIF (2016). Vai trò của Nhà nước trong Đầu tư và Cung cấp Dịch vụ công. Tài liệu Nền tảng về Vai trò của Nhà nước trong Phát triển Nền kinh tế Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của Nhà nước trong Đầu tư và Cung cấp Dịch vụ công
Tác giả: NCIF
Nhà XB: Tài liệu Nền tảng về Vai trò của Nhà nước trong Phát triển Nền kinh tế Việt Nam
Năm: 2016
15/ Ngân hàng Thế giới: Bộ Kế hoạch Đầu tƣ Việt Nam (2016). “Việt Nam 2035 Hướng tới Thịnh vượng, Sáng tạo, Công bằng và Dân chủ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam 2035 Hướng tới Thịnh vượng, Sáng tạo, Công bằng và Dân chủ
Tác giả: Ngân hàng Thế giới, Bộ Kế hoạch Đầu tƣ Việt Nam
Năm: 2016
16/ Ngô Kim Thanh, Tái lập doanh nghiệp- giải pháp đổi mới và phát triển bền vững. Nghiên cứu kinh tế, số 153/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tái lập doanh nghiệp- giải pháp đổi mới và phát triển bền vững
Tác giả: Ngô Kim Thanh
Nhà XB: Nghiên cứu kinh tế
Năm: 2010

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w