Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CHO
2.4. Hội nhập quốc tế và các cải cách của Việt Nam về môi trường kinh
2.4.2. Một số cải cách của Việt Nam về môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp trong quá trình hội nhập
Đại hội lần thứ XII của Đảng đã xác định cải cách thể chế góp phần cải thiện môi trường kinh doanh là một trong ba khâu đột phá trong chiến lược
12 Nguyễn Minh Phong, Nguyễn Trần Minh Trí (2020), Triển vọng kinh tế Việt Nam n m 2020 và giai đoạn tới, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp ngày 24/04/2020.
phát triển kinh tế - xã hội. Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng, tiếp sau Hiến pháp năm 2013, có thể nói, từ năm 2014 với hàng loạt các thay đổi tạo nên sự khác biệt về chất của thể chế kinh tế đã mang lại những tác động to lớn và tích cực đối với môi trường kinh doanh mà cộng đồng doanh nghiệp đã mong đợi từ lâu.
Trong năm năm liên tiếp từ 2014 đến 2018, Chính phủ ban hành năm Nghị quyết cùng mang số 19 về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, trong đó mục tiêu quan trọng đƣợc đặt ra là lọt vào nhóm bốn quốc gia có môi trường kinh doanh tốt nhất khu vực Đông Nam Á. Kết quả thực hiện các Nghị quyết này đã giúp môi trường kinh doanh của Việt Nam được cải thiện 29 bậc trên bảng xếp hạng của Báo cáo Môi trường kinh doanh (Doing Business), từ vị trí thứ 99 vào cuối năm 2013 lên vị trí thứ 70 vào cuối năm 2019. Tuy nhiên, nếu xét riêng trong khu vực ASEAN, Việt Nam vẫn chưa hoàn thành được mục tiêu lọt vào nhóm bốn nước có môi trường kinh doanh tốt nhất, chúng ta vẫn đứng sau Singapore (xếp thứ 02), Malaysia (xếp thứ 12), Thái Lan (xếp thứ 21) và Brunei (xếp thứ 66).
Nghị quyết 02 năm 2019 đã đề ra mục tiêu cho giai đoạn ba năm, từ 2019 đến 2021, tập trung vào các vấn đề về cải thiện chỉ số môi trường kinh doanh, kiểm tra chuyên ngành, điều kiện kinh doanh, chuyển đổi số và hệ sinh thái khởi nghiệp. Đầu năm 2020, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị quyết 02 của năm 2020 nhằm nhắc lại các mục tiêu của Nghị quyết 02 năm 2019, đồng thời đƣa ra các biện pháp cần phải triển khai trong năm. Nghị quyết số 35/NQ- CP của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020 đƣợc ban hành vào giữa năm 2016, cho cả nhiệm kỳ Chính phủ. Nghị quyết 35 vừa thể hiện quan điểm, định hướng, các nguyên tắc và biện pháp chính mà Chính phủ xác định trong công tác hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp. Một quan điểm xuyên suốt của Nghị quyết 35 là tập trung phát triển kinh tế tƣ nhân, “doanh nghiệp tƣ nhân là động lực nâng cao sức cạnh tranh và tính tự chủ của nền kinh tế”.
Các nhóm giải pháp của Nghị quyết 02 vẫn có ba nội dung đƣợc duy trì và tiếp nối của nhiều năm gồm (1) Cải thiện thứ hạng trong các bộ chỉ số của quốc tế, (2) Đơn giản hóa điều kiện đầu tƣ kinh doanh và (3) Cắt giảm kiểm tra chuyên ngành. Việc Chính phủ tiếp tục đƣa ba nội dung này vào Nghị quyết 02 cho thấy mối quan tâm, lắng nghe của Chính phủ đối với các kiến nghị cải cách của cộng đồng doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Nghị quyết 02 năm 2020 tiếp tục tập trung hai nhóm giải pháp đã đƣợc đề ra từ Nghị quyết 02 năm 2019 về (4) Thanh toán điện tử, áp dụng thủ tục hành chính cấp độ 4 và (5) Hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Đây là những biện pháp then chốt giúp Việt Nam nhanh chóng thực hiện quá trình chuyển đổi số, nâng cao hiệu quả quản trị và phát triển kinh tế. Một số cải cách về môi trường kinh doanh đƣợc thể hiện thông qua các văn bản pháp luật bao gồm các nội dung:
Thứ nhất, đơn giản hóa, hợp lý hóa, giảm chí phí và thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp, thủ tục đầu tư.
Theo xếp hạng của Ngân hàng về mức độ thuận lợi trong kinh doanh, Luật doanh nghiệp (sửa đổi) sẽ cắt giảm 5 thủ tục (so với 10 thủ tục trước đây); và thời gian hoàn thành thủ tục đăng ký doanh nghiệp cũng sẽ giảm từ 34 xuống còn 6 ngày. Với thay đổi nói trên, chỉ số khỏi sự kinh doanh của nước ta có thể sẽ được cải thiện rõ rệt. Ngoài ra, với việc bãi bỏ ghi ngành nghề trong giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, thì toàn bộ các yêu cầu, thủ tục và chi phí đăng ký bổ sung, thay đổi ngành, nghề kinh doanh như trước đây cũng sẽ bài bỏ. Trước đây, khoảng hai phần 3 số công việc của cơ quan đăng ký kinh doanh ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là đăng ký bổ sung, thay đổi ngành, nghề kinh doanh. Đồng thời, Luật đầu tƣ (sửa đổi) cũng bãi bỏ yêu cầu cấp giấy chứng nhận đầu tư đối với tất cả các dự án đầu tư trong nước, bất kể quy mô và ngành, nghề kinh doanh; thu hẹp phạm vi cấp giấy chứng nhận đầu tư đối với các dự án đầu tư nước ngoài; chỉ yêu cầu xin giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án của nhà đầu tư nước ngoài và dự án của doanh nghiệp FDI mà trong đó nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ từ 51%. Đồng
thời, rút ngắn thời gian cấp giấy chứng nhận đầu tƣ còn 15 ngày, thay vì 45 ngày như trước đây.
Thứ hai, quyền tự do kinh doanh của người dân và doanh nghiệp đã được mở rộng.
Lần đầu tiên, doanh nghiệp Việt Nam đƣợc tự do kinh doanh trong tất cả các ngành, nghề mà luật không cấm. Luật Đầu tƣ 2014 có những điểm mới, tiến bộ và phạm vi điều chỉnh rõ ràng hơn so với Luật Đầu tƣ 2005. Trong đó, đáng chú ý là cải cách quy định về lĩnh vực cấm đầu tƣ kinh doanh và đầu tƣ kinh doanh có điều kiện, đó là sự thay đổi phương pháp tiếp cận, thay vì “chọn cho” (nghĩa là cái gì cho thì ghi trong luật), đã chuyển sang cách “chọn bỏ”
(quy định những gì cấm, còn lại thì doanh nghiệp, nhà đầu tƣ đƣợc phép đầu tƣ, kinh doanh theo quy định của pháp luật). Đây là quy định tiến bộ, khẳng định “Nhà đầu tƣ có quyền thực hiện hoạt động đầu tƣ kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm”. Theo đó, Điều 6, Luật Đầu tƣ 2014 đã vạch rõ giới hạn của các ngành nghề cấm đầu tƣ kinh doanh, gồm 07 ngành nghề theo Luật số 03/2016/QH14 ngày 22 tháng 11 năm 2016 sửa đổi Điều 6 và phụ lục 4 của Luật Đầu tƣ (so với 06 ngành nghề trong Luật Đầu tƣ 2014). Tất cả những ngành, nghề cấm đầu tƣ kinh doanh quy định tại Điều này đều đã đƣợc quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật liên quan, nhƣng đƣợc tổng hợp trong Luật Đầu tƣ để làm rõ hơn quy định về quyền tự do kinh doanh của công dân. Ngoài ra, Luật Đầu tƣ 2014 đã quy định danh mục ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện thay vì trước đây phải tìm hiểu qua các văn bản chuyên ngành. Theo Luật số 03/2016/QH14, danh mục ngành nghề đầu tƣ kinh doanh có điều kiện bao gồm 243 ngành nghề (so với 267 ngành nghề trong Luật Đầu tƣ 2014). Điều đáng chú ý là Luật đầu tƣ và Luật doanh nghiệp (sửa đổi) đã coi ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh tương ứng do pháp luật đặt ra đối với người dân và doanh nghiêp là một hình thức hạn chế quyền kinh doanh của người dân. Vì vậy, các quy định về ngành, nghề đầu tƣ kinh doanh có điều kiện, và điều kiện kinh doanh phải phù
hợp với khoản 2 Điều 14 của Hiến pháp năm 2013. Đó là: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội và sức khỏe của cộng đồng”. Sự đổi mới tƣ duy và hàm ý chính sách nói trên chắc chắn mở đường cho một cuộc cải cách đột phá trong các quy định hiện hành về điều kiện kinh doanh. Quy định này cũng tránh đƣợc cách hiểu khác nhau của người thi hành, áp dụng luật. Cái bẫy “kinh doanh trái phép” đối với doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp và người quản lý doanh nghiệp về cơ bản đã đƣợc tháo bỏ.
Đối với Luật Doanh nghiệp năm 2014, việc thành lập doanh nghiệp trở nên dễ dàng hơn rất nhiều do Luật này không yêu cầu nhà đầu tƣ phải đáp ứng các yêu cầu, điều kiện kinh doanh khi xin đăng ký thành lập doanh nghiệp.
Luật này tạo ra khung khổ pháp lý linh hoạt hơn cho hoạt động của công ty bằng cách cho phép các công ty linh hoạt hơn trong lựa chọn mô hình tổ chức quản trị, linh hoạt hơn trong việc quy định nguyên tắc quản trị cụ thể phù hợp thực tế của công ty, nhƣ: cho phép công ty cổ phần tự do lựa chọn hình thức tổ chức quản lý theo mô hình “đơn hội đồng” hoặc “đa hội đồng”. Luật này cũng bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích chính đáng của nhà đầu tƣ khi có yêu cầu cao hơn về công khai hóa thông tin đối với công ty, mở rộng quyền tiếp cận thông tin cho các cổ đông, tăng cường quyền được tiếp cận thông tin, định kỳ hoặc theo yêu cầu, đối với mọi cổ đông không hạn chế về tỷ lệ sở hữu cổ phần, đặc biệt đối với các thông tin về quản lý và giao dịch có nguy cơ phát sinh tƣ lợi của doanh nghiệp; xác định rõ hơn, cụ thể hơn nghĩa vụ và trách nhiệm của người quản lý doanh nghiệp.
Thứ ba, bảo vệ tốt hơn, hiệu lực hơn các quyền của các nhà đầu tư Quyền sở hữu tài sản và bảo vệ hữu hiệu quyền sở hữu tài sản tƣ nhân là một trong các đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường hiện đại. Theo xếp hạng của Ngân hàng Thế giới chỉ số hiệu lực bảo vệ quyền sở hữu của các nhà đầu tư ở nước ta rất thấp, ở vị trí thứ 165/189 quốc gia và nền kinh tế được
xếp hạng. Những thay đổi trong hàng loạt các điều, khoản có liên quan của Luật doanh nghiệp (sửa đổi) sẽ có cải thiện vƣợt bậc mức độ bảo vệ quyền và lợi ích của các nhà đầu tƣ tại Việt nam. Đó là những thay đổi: (i) tạo điều kiện dễ dàng và thuận lợi hơn, ít tốn kém hơn cho các cổ đông nhỏ trong việc trực tiếp khởi kiện những người quản lý công ty; (ii) mở rộng đối tượng những người có lợi ích liên quan của công ty theo đúng thông lệ quốc tế; tăng thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông trong việc xem xét, chấp thuận các giao dịch của công ty với những người có liên quan của công ty; thực hiện công khai, minh bạch hóa thông tin và nâng cao hiệu lực giám sát đối với giao dịch của công ty với những người có liên quan; và (iii) nâng cao và thắt chặt trách nhiệm của những người quản lý, những người có liên quan của công ty trong việc công khai hóa, minh bạch hóa thông tin, cũng nhƣ trách nhiệm của họ trong bồi thường thiệt hại từ các giao dịch đó đối với công ty. Ngoài ra, việc thay đổi khái niệm “doanh nghiệp nhà nước” từ năm 2021, theo đó, doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ, cũng thể hiện hàm ý chính sách tôn trọng đầy đủ và công bằng quyền của các cổ đông trong các công ty có vốn đầu tư của nhà nước; và quyền và lợi ích của họ sẽ đƣợc bảo vệ theo đúng các nguyên tắc và thực tiễn tốt của quản trị công ty. Những thay đổi nói trên đã tiến sát với thông lệ quốc tế tốt; và có thể giúp chỉ số bảo vệ nhà đầu tƣ cải thiện đƣợc cải thiện mạnh.
Thứ tư, giảm chi phí tuân thủ, cải thiện đáng kể mức độ thuận lợi, dễ dàng đối với kinh doanh
Đi đầu, đột phá trong giảm chí phí tuân thủ, cải thiện đáng kể mức độ thuận lợi và dễ dàng đối với kinh doanh là Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 18 tháng 3 năm 2014 của Chính phủ về một số giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Nghị quyết đã đề ra gần 50 giải pháp, trong đó, trọng tâm là tập trung cải thiện các chỉ số năng lực cạnh tranh quốc gia theo xếp hạng của Ngân hàng thế giới để hết năm 2020, năng lực cạnh tranh của môi trường kinh doanh Việt nam tối thiểu bằng trung
bình ASEAN 4. Với sự chỉ đạo sát sao và quyết liệt của Thủ tướng Chính phủ, kết quả thực hiện cho đến nay là rất đáng kể. Các bộ, ngành, địa phương đã triển khai thực hiện nhiều giải pháp mang lại kết quả rõ nét. Ngoài chỉ số khởi sự kinh doanh và bảo vệ nhà đầu tƣ nhƣ trình bày trên đây, thì thời gian nộp thuế và nộp bảo hiểm của doanh nghiệp đã giảm từ 872 giờ xuống còn khoảng 170 giờ/năm. Doanh nghiệp sẽ nộp thuế hàng quý, thay vì hàng tháng nhƣ hiện nay. Hồ sơ kê khai thuế đƣợc đơn giản hóa đáng kể không chỉ giảm chi phí tuân thủ, mà còn giảm rủi ro cho doanh nghiệp vì nhầm lẫn hay sai sót trong việc kê khai... thời gian tiếp cận điện đối với trạm trung áp đã rút ngắn đƣợc 42 ngày; giảm xuống còn 18 ngày.
Thời gian và thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu cũng đã giảm đáng kể. Vấn đề còn lại liên quan đến chỉ số thương mại qua biên giới chủ yếu nằm ở khâu trước và sau thông quan hàng hóa. Đó là khoảng 200 loại giấy phép, giấy chứng nhận chuyên ngành đƣợc quy định trong hàng trăm văn bản pháp luật khác nhau; đó là những yếu kém về năng lực, chồng chéo và chậm trễ trong kiểm định, kiểm tra chất lƣợng hàng hóa nhập khẩu, kiểm dịch động vật, thực vật, trong kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm… Vì vậy, việc giảm thời gian thủ tục thông quan qua biên giới đối với hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu từ 21 ngày xuống còn khoảng 13-14 ngày ( nhƣ mục tiêu Nghị quyết số 19) phụ thuộc chủ yếu vào sự phối hợp hiệu quả của các bộ, ngành trong cải thiện chất lƣợng các quy định quản lý chuyên ngành và năng lực thực hiện các quy định đó.
Thứ năm, giảm gánh nặng thuế và tạo thêm thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh
Ngày 16/5/2016, nghị quyết số 35/NQ-CP đƣợc Chính phủ thông qua về hỗ trợ và phát triển doanh nghịêp được nhiều địa phương trên cả nước tiếp nhận và thực thi theo các nội dung đƣa ra nhằm mục đích tạo ra một môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp, thực hiện cải thiện các chỉ số thành phần trong chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh cũng nhƣ nâng cao vị
thế cạnh tranh của địa phương trong lộ trình phát triển kinh tế chung của cả nước. Những nguyên tắc quan trọng về doanh nghiệp được đề cập trong các nghị quyết như: Doanh nghiệp có quyền tự do kinh doanh, Nhà nước đối xử bình đẳng giữa các doanh nghiệp, coi doanh nghiệp là đối tƣợng phục vụ chứ không phải đối tƣợng quản lý. Ƣu điểm nổi bật của Nghị quyết 35/NQ-CP là Chính phủ tập trung, đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo lập môi trường pháp lý và môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi cho hoạt động đổi mới sáng tạo;
đồng thời có những chính sách hỗ trợ mạnh mẽ các dự án đổi mới sáng tạo, các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Qua đó có thể thấy, môi trường kinh doanh thuận lợi sẽ tạo cơ hội và động lực thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tƣ và kinh doanh có hiệu quả, mở rộng hoạt động, tạo việc làm, tăng trưởng kinh tế và góp phần xóa đói giảm nghèo.
Bộ Tài chính ban hành Thông tư 03/2021 hướng dẫn về miễn thuế, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp khoa học và công nghệ quy định tại Nghị định số 13/2019 của Chính phủ. Theo đó, doanh nghiệp (DN) khoa học và công nghệ được hưởng ưu đãi miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) 4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo.
DN được hưởng ưu đãi được quy định tại luật Khoa học và công nghệ và Nghị định số 13. Đồng thời, phải đáp ứng một số điều kiện nhƣ DN đƣợc cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận DN khoa học và công nghệ; doanh thu hằng năm từ hoạt động sản xuất, kinh doanh các sản phẩm hình thành từ kết quả khoa học và công nghệ đạt tỷ lệ tối thiểu 30% trên tổng doanh thu hằng năm của DN; doanh thu đƣợc tạo ra từ dịch vụ có ứng dụng kết quả khoa học và công nghệ trong lĩnh vực công nghệ thông tin là doanh thu từ dịch vụ mới, không bao gồm các dịch vụ đã có trên thị trường13
Tóm lại, những cải cách đột phá nêu trên sẽ cũng cố thêm các yếu tố nền tảng của kinh tế thị trường ở nước ta, làm cho thị trường hoàn thiện hơn,
13 https://thanhnien.vn/tai-chinh-kinh-doanh/mien-giam-thue-thu-nhap-doanh-nghiep-doi-voi-doanh-nghiep- khoa-hoc-va-cong-nghe-1333646.html