Chương 3: THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG KINH DOANH VÙNG ĐÔNG
3.2. Thực trạng môi trường kinh doanh vùng Đông Nam bộ giai đoạn 2015-2019
3.2.6. Cơ sở hạ tầng
Tiếp cận đất đai
Có thể thấy vùng ĐNB là nơi có chỉ số về tiếp cận đất đai thấp nhất cả nước. So sánh kết quả qua các năm, TP.HCM là địa phương có chỉ số “tiếp cận đất đai” thấp nhất. Điều này có thể dễ hiểu bởi là thành phố có tính năng
động và tốc độ phát triển cao nhất nước nên khả năng tiếp cận với nguồn tài nguyên đất trở nên khó khăn hơn so với các địa phương khác trong vùng.
Riêng về chỉ tiêu này, trong giai đọan 2013 đến 2017, khả năng tiếp cận đất của Bình Dương tụt dốc mạnh.Với sự phát triển lan tỏa của TP.HCM sang các vùng lân cận, điều này làm cho đất đai ở các tỉnh ven TP.HCM trong đó có Bình Dương trở nên khan hiếm hơn. Các địa phương có sự tương đồng cao, chỉ có sự khác biệt nhỏ (tăng hoặc giảm nhẹ) về điểm chỉ số thành phần này giữa năm 2017 và 2016.
Thực tế ở Việt Nam nói chung và Đông Nam bộ nói riêng, đất đai là tài sản quan trọng nhất để góp vốn liên doanh liên kết hoặc thế chấp vay vốn để phát triển sản xuất kinh doanh. Hiện nay, nhà đầu tư trong nước còn gặp một số bất lợi khi thuê đất từ nhà nước. Nhà đầu tư trong nước ít khi thuê được đất của nhà nước trả trước một lần mà nếu được không phải doanh nghịêp vừa và nhỏ nào cũng đủ khả năng trả hết một lần. Trong khi đó, nếu họ thuê đất trả tiền hàng năm thì họ không có quyền gì với đất (ngoại trừ mục đích đã đƣợc xác định trong thời gian thuê), nhất là không có quyền bán hoặc dùng đất để thế chấp trừ quyền đƣợc thế chấp các tài sản trên đất. Quy định này tạo nên một điều thiếu rõ ràng giữa chủ đất và chủ nợ - ngân hàng (làm thế nào ngân hàng có thể đảm bảo đƣợc quyền đối với tài sản trên đất nếu không có quyền đối với mảnh đất đó) và do đó hạn chế khả năng doanh nghiệp tƣ nhân trong nước sử dụng đất đi thuê để được thuế chấp vay vốn. Thủ tục hành chính liên quan đến đất còn phức tạp.
Kết quả chỉ số thành phần “Tiếp cận đất đai” của các tỉnh ĐNB cho thấy các địa phương trong vùng cần có thêm nhiều nỗ lực nhằm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận mặt bằng sản xuất kinh doanh và sự ổn định trong sử dụng đất. Ngoại trừ BRVT duy trì đƣợc điểm số tốt từ năm 2015 đến nay trên nhiều tiêu chí đánh giá, các địa phương khác dù có tiến bộ nhưng vẫn cần tiếp tục cải cách và duy trì các thành quả cải cách để tạo thuận lợi hơn nữa cho doanh nghiệp. Việc rà soát lại các quy trình thủ tục để tạo điều kiện cho doanh
nghiệp nhanh chóng đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cần đƣợc xem là ƣu tiên trong chính sách đất đai. Bên cạnh đó, nâng cao tính minh bạch trong quản lý khung giá đất và thực hiện các giải pháp hỗ trợ mặt bằng kinh doanh là những việc cần làm tiếp theo để việc tiếp cận đất đai của các doanh nghiệp ở ĐNB đƣợc diễn ra thuận lợi.
Nhìn nhận ở một khía cạnh khác, trong khoảng thời gian gần đây, khi lượng dân di cư từ các tỉnh thành đến TP.HCM và các địa phương lân cận TP.HCM thuộc vùng Đông Nam bộ có dấu hiệu tăng nhanh đáng kể. Chính vì vậy mà cơ sở hạ tầng của ĐNB đang có dấu hiệu quá tải, khi số lƣợng các vụ kẹt xe, ngập úng có dấu hiệu tăng nhanh chóng, điều này gây khó khăn đáng kể cho các doanh nghiệp vùng Đông Nam bộ. Do đó, đây có thể đƣợc xem là một trong những rào cản cơ bản của các doanh nghiệp cần Chính phủ hỗ trợ trong quá trình phát triển.
Hình 3.27. Dự báo tổng đầu tƣ cơ sở hạ tầng của vùng Đông Nam bộ giai đoạn 2016- 2040.
Nguồn: Global Infrastructure Hub, 2020 Thiếu thốn nguồn lực, tắc nghẽn cơ sở hạ tầng, chƣa có một thể chế phù hợp cho hợp tác và liên kết vùng là ba nút thắt đối với tăng trưởng của vùng Đông Nam bộ. Những nút thắt này nếu không đƣợc tháo gỡ thì tốc độ tăng trưởng của Đông Nam bộ nhất định sẽ giảm, cơ cấu kinh tế sẽ khó chuyển đổi,
cơ hội bứt phá vươn lên hầu như sẽ không có. Quan trọng không kém, khi sức sống và động lực của vùng kinh tế Đông Nam bộ không còn mạnh mẽ nhƣ trước thì tất yếu dẫn đến sự guy giảm kinh tế của cả nước. Ưu tiên đầu tư cho TP Hồ Chí Minh và cả vùng Đông Nam bộ vì vậy, cần đƣợc xem xét nhƣ một ưu tiên chiến lược kinh tế của cả nước, nếu nhìn trong tái cơ cấu kinh tế tổng thể và chuyển đổi mô hình tăng trưởng cho Thành phố, khu vực và cả nước.
Hạ tầng công nghệ
Hạ tầng viễn thông liên tục đƣợc các doanh nghiệp viễn thông đầu tƣ, phát triển theo hướng hiện đại. Mạng cáp quang phủ đến cấp phường/xã; sóng thông tin di động phủ 100% địa bàn các tỉnh, thành phố, hạ tầng thông tin di động 3G, 4G đã phủ khắp các khu đô thị và khu công nghiệp, đáp ứng nhu cầu cung cấp dịch vụ với chất lƣợng ngày càng cao và “mạng 5G”- nền tảng cho kinh tế số - đang được thử nghiệm tại TPHCM. Tỉnh Bình Dương, TPHCM và Bà Rịa – Vũng Tàu đã sử dụng mạng Truyền số liệu chuyên dùng băng thông rộng cho các cơ quan Đảng, Nhà nước trên địa bàn tỉnh, thành phố phủ đến cấp xã/phường. Trong Báo cáo Chỉ số thương mại điện tử Việt Nam 2021 của Hiệp hội thương mại điện tử Việt Nam, trong các tỉnh, thành được khảo sát, vùng ĐNB có 04 tỉnh, thành thuộc nhóm 20 tỉnh, thành dẫn đầu cả nước về chỉ số nguồn nhân lực và hạ tầng công nghệ thông tin. Bên cạnh việc đánh giá chất lƣợng nguồn nhân lực, hạ tầng, chỉ số này còn thể hiện sự thích nghi nhanh chóng của các địa phương vùng ĐNB trong các phương pháp thanh toán mới thời kì chuyển đổi số. Đặc biệt, trong khi đại dịch Covid-19 vẫn đang hoành hành, việc ứng dụng các giải pháp thanh toán không dùng tiền mặt nhƣ thẻ thanh toán, ví điện tử… đã giúp loại bỏ các nhƣợc điểm của hình thức thanh toán tiền mặt truyền thống, tạo sự thuận tiện và an toàn cho người tiêu dùng khi mua sắm trực tuyến. Trong các tỉnh, thành của vùng ĐNB, có 03/06 đại diện lọt nhóm 10 tỉnh, thành có số lượng tên miền “.vn” cao nhất cả nước:
TPHCM(1), Bình Dương (4), Đồng Nai (6), bên cạnh đó đã có một số đại diện nhƣ: UBND TPHCM, UBND tỉnh Đồng Nai chuyển đổi IPv6 thành công cho
Cổng Thông tin điện tử25. Hai yếu tố ứng dụng IPv6 và sử dụng tên miền
“.vn” là điều kiện quan trọng cho Internet thế hệ mới, phục vụ cho việc phát triển hạ tầng số, phát triển kinh tế số, chuyển đổi số quốc gia, hiện thực hóa sứ mệnh ứng dụng công nghệ cao để phát triển môi trường internet an toàn, bền vững.
Công tác bảo đảm an toàn thông tin trong các cơ quan, đơn vị tiếp tục đƣợc duy trì ổn định trên mô hình bảo đảm an toàn thông tin cho hệ thống thông tin 4 lớp; triển khai Trung tâm Giám sát an toàn thông tin (SOC - Security Operations Center) dưới hình thức thử nghiệm (POC - Proof of Concept). Cơ sở dữ liệu (CSDL) dùng chung đƣợc quản lý tập trung thuận lợi cho việc kết nối trục của tỉnh (LGSP - Local Government Service Platform)với trục dịch vụ công quốc gia (NGSP - National Government Service Platform). Xét riêng chỉ số hạ tầng kỹ thuật ICT của các địa phương vùng ĐNB26, kết quả thống kê cho thấy chỉ số này ở các tỉnh, thành phố đã đạt đƣợc những kết quả đƣợc cải thiện: với ba địa phương thuộc nhóm tỉnh, thành có hạ tầng kỹ thuật ICT đứng đầu cả nước (tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, TP.HCM, tỉnh Bình Dương), 03 địa phương còn lại có hạ tầng ở mức trung bình, cần được chú trọng đầu tư, phát triển để hình thành hạ tầng kỹ thuật công nghệ đủ tiêu chuẩn.
Ở một khía cạnh khác, trong môi trường kinh doanh cạnh tranh hiện nay, việc xây dựng thương hiệu, mở rộng thị trường và tìm kiếm khách hàng là những hoạt động quan trọng đối với doanh nghiệp. Bên cạnh các kỹ năng xây dựng thương hiệu truyền thống, tiếp thị trực tuyến đang nổi lên như một công cụ mới hiệu quả, dễ triển khai, chi phí thấp. Môi trường trực tuyến đang trở thành công cụ tiếp thị quan trọng và phù hợp với các doanh nghiệp tƣ nhân, đặc biệt các doanh nghiệp vừa vả nhỏ. Vì vậy mà sàn giao dịch Thương mại điện tử Đông Nam bộ đƣợc vận hành từ tháng 4 năm 2010 tập hợp các doanh nghiệp chủ lực của vùng, tạo lập một không gian giao dịch trực tuyến
25 Báo cáo tài nguyên Internet Việt Nam năm 2020 của Bộ Thông tin và Truyền thông
26https://www.mic.gov.vn/Upload_Moi/TinTuc/Vietnam-ICT-Index-2020-dang-tai-Cong-TTTT20210524.pdf
cho doanh nghiệp. Đây đƣợc coi là một kênh hỗ trợ thông tin đa chiều giữa cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp nhằm kết nối, phát huy được các nguồn lực của cộng đồng doanh nghiệp tại 6 tỉnh, thành phố vùng Đông Nam bộ. Tham gia Chương trình, doanh nghiệp sẽ được tiếp cận và nắm bắt những lợi ích thực tiễn của thương mại điện tử. Đây có thể thấy những bước đầu tiên của Chính phủ trong việc tạo điều kiện về khoa học công nghệ giúp các doanh nghiệp vùng ĐNB tồn tại và phát triển.