Chương 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH
1.3. Thực tiễn cải thiện môi trường kinh doanh ở Việt Nam thời gian qua
công nghệ, vốn vẫn do các DNNN, doanh nghiệp có vốn nước ngoài chiếm ưu thế. Vì thế chính phủ cũng cần có những biện pháp khác để nâng cao đƣợc năng lực cạnh tranh của các DNTN. Tenev và các đồng nghiệp (2003) cho rằng sự cạnh tranh không công bằng đƣợc coi là điều kiện khắc nghiệt nhất mà các DNTN phải trải qua. Có đến 42% doanh nghiệp ở khu vực này phàn nàn những ƣu đãi dành cho các DNNN là những cản trở chính cho quá trình sản xuất kinh doanh.
Rand và Tarp (2007) đánh giá cao điều kiện thị trường lao động linh hoạt, và coi là một trong những điểm mạnh của môi trường kinh doanh tại Việt Nam. Một trong những tiêu chí để đánh giá là những quy định liên quan đến việc tuyển dụng và sa thải nhân công. Theo các tác giả, những quy định này đƣợc coi là đơn giản, không phức tạp, bởi tỷ lệ lao động tạm thời trên lao động dài hạn thấp (trung bình 7.2%), ám chỉ rằng những chi phí thuê mướn và sa thải lao động không quá lớn, nên không khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động ngắn hạn. Trong khi đó, theo đánh giá của Báo cáo Môi trường kinh doanh của WB, chỉ tiêu tuyển dụng và sa thải lao động của Việt Nam đứng ở vị trí rất khiêm tốn so với các nước, cũng như so với các chỉ tiêu khác của Việt Nam. Tuy nhiên, vấn đề lao động nổi trội nhất trong các nghiên cứu chủ yếu liên quan đến khả năng tiếp cận lao động có kỹ năng và trình độ.
Đây có lẽ là hạn chế lớn nhất của lao động Việt Nam. Báo cáo của VNCI (2006) cho thấy lao động và nguồn nhân lực chất lƣợng cao hai năm liền là một trong ba khó khăn lớn nhất mà các doanh nghiệp phải đối mặt. Theo báo cáo chỉ số cạnh tranh toàn cầu GCI 2008-2009, trong cuộc khảo sát ý kiến các chuyên gia, thiếu lao động có trình độ là một trong ba yếu kém nhất của Việt Nam, và ảnh hưởng đến quá trình phát triển của doanh nghiệp.
Theo Phan Đức Hiếu (2018) hạn chế nổi bật nhất trong việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay chính là vẫn loay hoay với bài toán cải cách điều kiện kinh doanh. Muốn cắt giảm giấy tờ phải là cấp bộ, cải cách thủ tục hành chính thì từ cấp địa phương. Sự không tương thích giữa
các bộ ngành là mấu chốt dẫn đến việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh chưa được hiệu quả. Nguyễn Đình Huệ (2018) cải thiện môi trường kinh doanh thông qua cắt giảm thủ tục đăng ký kinh doanh, giấy phép con trên tinh thần tự nguyện, chủ động trong mỗi bộ, ngành tuy nhiên tính tự giác chƣa cao là một trong những nguyên nhân gây cản trở các doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Bên cạnh đó, trong cải cách hành chính thì vấn đề một cửa còn mang tính hình thức, rất ít cơ quan hành chính chịu giảm giấy tờ và công đoạn xử lý hồ sơ.
Trần Thọ Đạt (2018) cho rằng các mô hình tăng trưởng tân cổ điển và tăng trưởng nội sinh được cho là thất bại trong việc giải thích sự khác biệt về tăng trưởng kinh tế giữa các quốc gia dựa trên tích lũy vốn hay tiến bộ công nghệ, và kinh tế học thể chế ra đời rồi phát triển nhằm giải thích nguồn gốc của tăng trưởng bằng cách đưa vào yếu tố thể chế để xem xét ảnh hưởng của chúng đến tăng trưởng kinh tế và chất lượng của môi trường kinh doanh. Theo tác giả, thể chế kinh tế chậm đổi mới đƣợc xác định là một trong số các nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tốc độ tăng trưởng của Việt Nam có xu hướng giảm so với các giai đoạn trước đây và chúng ta đang thiếu những động lực quan trọng và đủ mạnh để đƣa nền kinh tế có thể vƣợt qua đƣợc vùng trũng tăng trưởng một cách bền vững. Việc nhận diện được các rào cản về thể chế kinh tế đối với sự phát triển môi trường kinh doanh của Việt Nam, từ đó đề xuất các định hướng và các giải pháp để nhanh chóng khắc phục những rào cản đó, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn sắp tới là đòi hỏi cấp thiết hiện nay.
Báo cáo “Chương trình cải cách môi trường kinh doanh Việt Nam c nhìn t doanh nghiệp” (đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết 02 năm 2020 và Nghị quyết 35 năm 2016 của Chính phủ) được Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) xây dựng trong khuôn khổ Dự án T ng cường tiếng n i của doanh nghiệp trong việc giám sát và thực hiện tái cơ cấu kinh tế (thuộc Chương trình Australia hỗ trợ cải cách kinh tế Việt Nam -
Aus4Reform, do Bộ Ngoại giao và Thương mại Australia - DFAT tài trợ). Báo cáo phản ánh, phân tích các hoạt động của cơ quan nhà nước nhằm thực thi Nghị quyết 02 và Nghị quyết 35 và tác động của chúng lên hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cũng như môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam. Nhìn chung, các biện pháp cải thiện môi trường kinh doanh và hỗ trợ doanh nghiệp vẫn đƣợc tiếp tục thực hiện, bất chấp bối cảnh dịch bệnh Covid- 19 và giai đoạn này trùng với thời điểm chuyển giao nhiệm kỳ. ĩnh vực thành lập doanh nghiệp và tiếp cận điện n ng vẫn đƣợc đánh giá cao nhất (lần lƣợt là 72,5% và 65,9% doanh nghiệp đánh giá có sự chuyển biến tốt hoặc rất tốt), và xếp cuối cùng là lĩnh vực phá sản (44,4% doanh nghiệp đánh giá tốt hoặc rất tốt). Tuy nhiên, tốc độ cải thiện dường như chậm lại so với các năm trước, và xu hướng thay đổi của các lĩnh vực tương đối trái ngược: các lĩnh vực có điểm số thấp (phá sản, bảo vệ nhà đầu tƣ và xuất nhập khẩu) tăng điểm, trong khi các lĩnh vực có điểm cao (thành lập doanh nghiệp, tiếp cận điện năng) lại giảm điểm. Đáng chú ý, cùng liên quan đến tài chính doanh nghiệp, trong khi tiếp cận tín dụng năm 2020 đƣợc cảm nhận khó khăn hơn so với năm 2019, thì thủ tục thuế lại trở nên dễ dàng hơn nhiều. Xét theo địa phương, các chỉ số vẫn thể hiện tích cực hơn so với năm 2019, nhƣng tốc độ cải thiện đã chậm lại.