Định hướng phát triển môi trường kinh doanh vùng Đông Nam bộ

Một phần của tài liệu Môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp vùng đông nam bộ trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế (Trang 138 - 142)

Chương 4: ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG KINH DOANH VÙNG ĐÔNG NAM BỘ TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ ĐẾN NĂM 2030

4.1. Định hướng phát triển môi trường kinh doanh vùng Đông Nam bộ

4.1.4. Định hướng phát triển môi trường kinh doanh vùng Đông Nam bộ

Điểm tắc nghẽn nội sinh của mô hình: mô hình hiện nay mà Vùng đang

“vận hành” nương theo lợi thế vốn nhân lực dồi dào nhưng thu nhập chính cho GDP vùng chỉ từ lương, không phát triển được năng lực công nghiệp nội địa. Mô hình này khác với mô hình từng đƣợc áp dụng bởi Đức, Nhật và các quốc gia thuộc nhóm quốc gia 4 “con hổ” Châu Á khi mà các quốc gia này đều nâng cấp đƣợc năng lực công nghiệp nội địa. Với mức sống tăng lên, lợi thế lao động rẻ không còn trong tương lai, làn sóng công việc gia công lắp ráp sẽ chảy ra nước ngoài để lại nguy cơ thất nghiệp lớn cho Vùng. Do đó, „gia công lắp ráp‟ cần gắn với “thẩm thấu”, phát triển năng lực nội địa và nền công nghệ quốc gia. Điều này sẽ giúp kinh tế vùng ĐNB nâng cấp toàn diện chuỗi giá trị bao gồm: Nâng cấp sản phẩm (Product upgrading), nâng cấp quy trình (Process upgrading), nâng cấp chức năng (Functional upgrading) và nâng cấp ngành (sectoral upgrading), từ đó giúp chuyển từ trung gian “lắp ráp” thành nhà sản xuất địa phương theo hướng “Make in Vietnam”.

CMCN 4.0 sẽ định vị lại vai trò của các quốc gia tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Nhìn lại hai đặc điểm quan trọng trong mô hình tăng trưởng hiện nay khi việc tăng trưởng dựa vào xuất khẩu và sự tham gia của các doanh nghiệp nội vùng vào chuỗi giá trị toàn cầu được dẫn dắt bởi các công ty đa quốc gia29. Trong bối cảnh đó, không mấy lạc quan nếu nhìn dài hạn cho tăng trưởng kinh tế Vùng bởi tự động trong quy trình sản xuất sẽ dịch chuyển việc làm từ thị trường lao động tay nghề thấp sang thị trường lao động có tay nghề cao và mô hình tích hợp quy trình sản xuất sẽ đưa nhà máy sản xuất đến gần với khách hàng hơn. Tính tất yếu, quá trình tăng trưởng dài hạn sẽ đối mặt rủi ro nếu các công ty đa quốc gia đang hoạt động tại 6 tỉnh vùng ĐNB rời khỏi nơi đây vì một hoặc cả hai mục đích này. Do đó, việc phải nhanh chóng nâng cấp trở thành trọng điểm làm chủ toàn bộ chuỗi giá trị chứ không chỉ tham gia một vài khâu. Cùng với đó, việc kết hợp với các lợi thế nhƣ: (i) Vị trí chiến lƣợc của vùng ĐNB trong bản đồ kinh tế Việt Nam và khu vực; (ii) Nơi

29 Theo Tổng cục Thống kê, năm 2019, lƣợng vốn FDI đổ vào vùng Đông Nam bộ là 16.840,4 triệu USD;

chiếm 43,2% vốn FDI cả nước.

người lao động Việt Nam chất lượng cao ở nước ngoài chọn về; (iii) Tư duy mở thoáng của Vùng; (iv) Giao thông thuận lợi; (v) Lợi ích và sự tham gia của Việt Nam vào một số Hiệp định thương mại ưu đãi… sẽ làm cho Vùng ĐNB hấp dẫn các nhà đầu tƣ quan trọng nhƣ Nhật, Hàn Quốc, Mỹ và EU,…

giúp kinh tế ĐNB phát triển hiệu quả hơn.

Ở giai đoạn 2020 - 2030, Việt Nam sẽ tiếp tục hội nhập sâu hơn, điều này sẽ làm tăng sức ép cạnh tranh không chỉ đối với thị trường ngoài nước mà còn cả thị trường nội địa. Là Vùng có đặc trưng kinh tế hướng nhiều về xuất khẩu, tham gia các hiệp định tự do hóa thương mại có thể giúp hàng hóa của ĐNB có cơ hội tiếp cận các thị trường lớn hơn, từ đó mở ra cơ hội phát triển cho nhiều ngành hàng.

Rà soát, làm rõ hơn định hướng kinh tế của Vùng theo hướng phát triển các ngành công nghiệp có hàm lƣợng công nghệ cao, tạo giá trị gia tăng lớn, công nghiệp sạch để không cạnh tranh với các vùng khó khăn về các loại hình đầu tƣ dựa vào lao động giá rẻ, thúc đẩy sự năng động hơn của các khu công nghiệp theo chiến lược tăng trưởng mới, do đó: (1) cần xây dựng quỹ, “vườn ươm” phát triển DN trong nước gắn với đầu tư sáng tạo công nghệ của các trung tâm nghiên cứu; (ii) phát triển dịch vụ chất lƣợng cao và hiện đại kết nối, cạnh tranh quốc tế phát triển dịch vụ thống nhất toàn vùng với các trung tâm logistic quốc tế hiện đại; (iii) nông nghiệp gắn liền với công nghiệp chế biến hình thành chuỗi nông nghiệp thực phẩm khép kín, hiện đại; (iv) tăng cường quan hệ hợp tác, trao đổi thương mại, nghiên cứu và phát triển ứng dụng đối với việc phát triển kinh tế - xã hội Vùng, góp phần quan trọng để hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh liên kết và phát triển kinh tế - xã hội các vùng khác trong phạm vi cả nước.

Duy trì được mức tăng trưởng cao là điều kiện cần để Việt Nam nói chung và vùng ĐNB nói riêng đạt đƣợc nguyện vọng về thịnh vƣợng và tiến bộ xã hội, nhƣng trong chiến lƣợc mới cần quan tâm đến chất lƣợng, chứ không chỉ tốc độ tăng trưởng. Bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường trong tăng trưởng phải được quan tâm nhiều hơn nữa so với trước đây. Điều đó có nghĩa

là tăng trưởng sẽ ngày càng phải dựa vào tăng năng suất, hiệu quả để đảm bảo bền vững và không gây ra mất cân đối về tài khóa và kinh tế vĩ mô. Tăng trưởng cũng cần tiếp tục mang tính “bao trùm”, nghĩa là tạo điều kiện cho mọi người dân đều được góp phần và hòa mình vào sự thịnh vượng, đi lên. Và cuối cùng, tăng trưởng không được đánh đổi với cái giá là “suy kiệt” tài nguyên, đồng thời phải ứng phó hiệu quả hơn với biến đổi khí hậu toàn cầu. Tóm lại, điều đó có nghĩa là phải chuyển từ chiến lược chủ yếu tập trung vào tốc độ t ng trưởng sang chiến lƣợc đồng thời nâng cao chất lượng, hiệu quả t ng trưởng bao trùm cho toàn Vùng ĐNB.

Để cụ thể hóa định hướng của Chính phủ và đạt được các mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển nhanh, bền vững, Vùng Đông Nam bộ cần có những định hướng phát triển MTKD sau:

Thứ nhất, pháp luật trong kinh doanh Cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tƣ kinh doanh, đảm bảo cạnh tranh công bằng và bình đẳng trong đó khuyến khích mạnh khu vực kinh tế tƣ nhân để khu vực này thực sự trở thành động lực của tăng trưởng kinh tế. Trong thực tế, việc thực thi pháp luật về kinh doanh còn thiếu tính ổn định, minh bạch, tạo ra gánh nặng trong thực thi đối với các chủ thể kinh tế. Hoạt động cải cách tƣ pháp còn thiếu đồng bộ. Hệ thống pháp luật dân sự, hành chính, kinh tế, lao động, tố tụng tƣ pháp, tổ chức hoạt động của các cơ quan tƣ pháp chậm hoàn thiện. Chất lƣợng công tác tƣ pháp chƣa đáp ứng yêu cầu. Tình hình tham nhũng có diễn biến phức tạp, thủ đoạn tinh vi; phạm vi, lĩnh vực tham nhũng ngày càng rộng. Tồn tại tình trạng chồng chéo, không phân định rõ trách nhiệm trong các vấn đề có tính liên ngành, liên lĩnh vực…

Thứ hai, tiếp cận các nguồn lực và thị trường của DN, đặc biệt là thị trường lao động và nguồn nhân lực. Các hạn chế nổi bật là năng lực đáp ứng của cơ sở hạ tầng, trong tiếp cận thị trường đầu ra; trong tiếp cận thị trường nước ngoài và hội nhập kinh tế quốc tế...

- Vùng Đông Nam bộ phải tích cực đào tạo nguồn nhân lực cao đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nguồn nhân lực trực tiếp tạo tri thức và sáng tạo. Tăng cường thu hút nguồn nhân lực, tận dụng cơ hội cơ cấu dân số vàng, thúc đẩy hoạt động mua bán sáp nhập (M&A) doanh nghiệp gắn với đẩy mạnh cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước. Đây cũng là cơ hội lớn để nhà đầu tƣ, doanh nghiệp tìm kiếm đối tác chiến lƣợc trong các lĩnh vực có nhiều tiềm năng phát triển.

- Thực hiện đột phá về phát triển hạ tầng nhất là hạ tầng giao thông và đô thị, yêu cầu mở rộng và phát triển hạ tầng đang trở nên cấp bách kết nối kinh tế vùng và quốc tế.

- Khuyến khích nước ngoài đầu tư gắn với lợi ích lâu dài của doanh nghiệp, hỗ trợ chuyển giao công nghệ mới, nâng cao giá trị thương hiệu, quản trị doanh nghiệp, cung ứng nguyên vật liệu tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, thúc đẩy phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp.

Thứ ba, Cơ chế thực thi và phối kết hợp giữa các địa phương nội vùng trong tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh phải đạt hiệu quả cao. Đồng thời, cần có cơ chế, chính sách phù hợp để hiện thực hóa được các chủ trương, chính sách nhất là trong việc đẩy mạnh ứng dụng khoa học và công nghệ, nâng cao năng lực đổi mới và sáng tạo, tăng cường quản trị hiện đại và chuyên nghiệp. Đẩy mạnh sự tham gia của các DN trong vùng vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Một phần của tài liệu Môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp vùng đông nam bộ trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế (Trang 138 - 142)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(173 trang)