Giải pháp về cải cách hành chính và chính sách hỗ trợ

Một phần của tài liệu Môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp vùng đông nam bộ trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế (Trang 145 - 149)

Chương 4: ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG KINH DOANH VÙNG ĐÔNG NAM BỘ TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ ĐẾN NĂM 2030

4.2. Các giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp vùng Đông Nam bộ trong quá trình hội nhập quốc tế

4.2.3. Giải pháp về cải cách hành chính và chính sách hỗ trợ

Nhiều điều kiện kinh doanh đã đƣợc bãi bỏ, nhƣng đến nay vẫn chƣa có những đột phá về cải cách hành chính trong kinh doanh, các điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính vẫn là rào cản lớn.

Rất nhiều người phải bỏ ý định kinh doanh sau khi nghiên cứu hệ thống pháp luật, điều kiện kinh doanh do không hình dung đƣợc làm thế nào để tuân thủ đúng các điều kiện kinh doanh đó, chƣa nói đến làm thế nào để sản xuất hiệu quả. Trong gần 2.000 điều kiện kinh doanh theo kiến nghị ban đầu của Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ cần đƣợc xử lý, tập trung vào 3 nhóm:

Nhóm thứ nhất, những điều kiện kinh doanh không rõ ràng, mơ hồ.

Ví dụ, DN phải có đủ năng lực sản xuất, hay phải có năng lực sản xuất phù hợp, hay phải có năng lực tài chính đủ để thực hiện dự án, khi đọc lên là thấy nó mơ hồ và tạo ra rủi ro. Cơ quan nhà nước không định lượng được điều đó lại tạo ra quy định bắt DN thực hiện thì rõ ràng những quy định nhƣ vậy phải bãi bỏ.

Nhóm thứ hai, những điều kiện kinh doanh quy định áp đặt sở hữu, DN kinh doanh phải có tiền đầu tƣ và sở hữu máy móc, thiết bị. Nếu DN xây dựng chuỗi chuyên nghiệp hóa kinh doanh hay thuê mua máy móc thì trong trường hợp này là không được. Như vậy sẽ làm hạn chế sản xuất, kinh doanh và tạo ra rào cản gia nhập thị trường.

Nhóm thứ ba, những điều kiện kinh doanh đặt ra mức trần ở mức tối thiểu. Ví dụ, theo nguyên tắc kinh tế thị trường, năng lực sản xuất là do

chính DN quyết định. Nhƣ vậy, khi sản xuất ra 10 hay 1 triệu sản phẩm là quyền của DN.

Muốn bãi bỏ các điều kiện kinh doanh bất hợp lý, cải cách hành chính phải làm từ trên xuống. Việc Chính phủ quyết tâm là rõ ràng, nhƣng Chính phủ cần có chỉ tiêu buộc các bộ, ngành, các tỉnh, thành phố phải làm theo. Chỉ tiêu của Chính phủ phải gắn với trách nhiệm của các bộ trưởng. Chỉ khi các cơ quan có liên quan thay đổi cách thức quản lý mới có thể đảm bảo đƣợc mục tiêu và hiệu quả cải cách hành chính.

Bãi bỏ điều kiện kinh doanh không chỉ là bãi bỏ số lƣợng các quy định kém chất lượng, quan trọng hơn là phải thay đổi phương thức quản lý nhà nước để nó mang tính thị trường hơn. Hiện Nhà nước đang can thiệp quá sâu, quá chi tiết và cứng nhắc vào kinh doanh, vào thị trường. Bãi bỏ các điều kiện kinh doanh là bãi bỏ, giảm dần sự can thiệp của Nhà nước vào kinh doanh. Nhà nước chỉ làm nhiệm vụ duy trì cạnh tranh lành mạnh, còn việc sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào thì do DN và người tiêu dùng quyết định. Thị trường tự vận hành hiệu quả đã được chứng minh ở nhiều nước đang phát triển. Nhà nước chỉ hỗ trợ để đảm bảo thị trường hoạt động một cách có hiệu quả, không can thiệp vào việc DN sản xuất cái gì, sản xuất thế nào và sản xuất bao nhiêu.

Cần đẩy mạnh hơn nữa việc cải cách thủ tục hành chính nhằm tháo gỡ những cản trở để cho doanh nghiệp phát triển. Tiếp tục hoàn thiện nâng cao hiệu quả hệ thống thông quan điện tử, phối hợp với các đơn vị triển khai thực hiện kết quả kết nối trao đổi thông tin thương mại giữa các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực logistics, bảo hiểm và các dịch vụ khác có liên quan. Xây dựng trung tâm (ban) chuyển đổi số cấp địa phương trực thuộc UBND tỉnh hoặc sở thông tin & truyền thông có chức năng tham mưu xây dựng, quản lý đề án chuyển đổi số chính quyền; tƣ vấn, hỗ trợ, cung cấp dịch vụ chuyển đổi số cho khu vực tƣ nhân, cơ chế hoạt động tự chủ hoàn toàn về tài chính và nhân sự. Tuy nhiên, giai đoạn đầu mới thành lập, Nhà nước có thể hỗ trợ vốn (cho vay) và điều động nhân sự cho trung tâm (ban) này.

Công khai các tiêu chí đánh giá mức độ tuân thủ của doanh nghiệp. Sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến thực hiện thông quan điện tử tự động, bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống. Trong lĩnh vực logistics, các tỉnh vùng Đông Nam bộ phải liên kết chặt chẽ với nhau từ trong đầu tƣ xây dựng cơ sở hạ tầng, tránh tình trạng địa phương nào cũng có cảng biển,...

nhƣng không có cảng đủ lớn để tàu có tải trọng lớn vào đƣợc. Bên cạnh đó, phải phát triển mạng lưới giao thông đồng bộ trong vùng để giảm thiểu ách tắc giao thông, gây những tổn thất không đáng có cho doanh nghiệp.

Về chính sách hỗ trợ

Để hỗ trợ doanh nghiệp, chính quyền các tỉnh vùng Đông Nam bộ cần có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp phát triển, đặc biệt là hỗ trợ về công nghệ, cụ thể nhƣ sau:

- Xác định lộ trình phát triển địa phương gắn với marketing địa phương nhằm tạo môi trường hấp dẫn thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao theo mô hình đề xuất của Philip Kotler (2010) nhƣ phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng xã hội - tạo nên môi trường sống tiện nghi. Cần xây dựng cơ sở dữ liệu mở để quảng bá hình ảnh địa phương, chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao của địa phương để người lao động, các nhà đầu tư có thể tiếp cận với những thông tin cần thiết, để lựa chọn nơi làm việc, nơi đầu tƣ.

- Cần có những chính sách cụ thể nhằm liên kết doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và các quỹ đầu tư, thực hiện hỗ trợ tài chính cho các nhà khoa học, hỗ trợ cơ sở vật chất cho các trường đại học hoặc viện nghiên cứu và đòi hỏi các tổ chức đƣợc hỗ trợ phải có những kết quả cụ thể trong quá trình hợp tác với doanh nghiệp. Xây dựng trung tâm nghiên cứu nhân tài trong các trường đại học, các viện nghiên cứu và cung cấp học bổng, nguồn lực, trang thiết bị cho việc đào tạo những chuyên gia kinh tế số cao cấp, những người có đủ kiến thức và kỹ năng đa lĩnh vực như: khoa học, công nghệ, kinh tế, quản lý, xã hội,… để định hình phát triển kinh tế ở vùng ĐNB.

Cùng với đó, triển khai xây dựng các đô thị đại học (Education city), các trung

tâm đào tạo thích ứng (Education Hub) trọng điểm cho vùng là điều kiện mang tính tiên quyết hướng đến phát triển đột phá trong tương lai. Các trung tâm đào tạo này có thể liên kết theo từng cụm. Các trường Đại học FPT, Đại học Công nghệ Thông tin (Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh), Đại học Sƣ Phạm Kỹ Thuật TPHCM, Đại học Công nghiệp TPHCM, Đại học Thủ Dầu Một… đào tạo tập trung vào các công nghệ chính sau: Trí tuệ nhân tạo/ Hệ thống nhận thức (Artificial Intelligence/ Cognitive Systems), Tự động hóa/ Tự động hóa Robot (Application Automation/Robotic Process Automation), Internet vạn vật (Internet of things), Công nghệ in 3D,... Đối với cụm trường nhƣ: Học viện Chính trị khu vực II, Học viện Hành chính Quốc gia, Học viện Cán bộ TPHCM, Học viện Tƣ pháp, Học viện Lục quân… tập trung đào tạo các nhóm nguồn nhân lực: Cán bộ lãnh đạo, quản lý hệ thống chính trị, cán bộ lực lƣợng vũ trang, đội ngũ chuyên gia tƣ vấn, hiến kế,…

- Cần có quỹ đầu tư mạo hiểm hay hình thức tín dụng tương tự để giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể vay vốn thực hiện các dự án R&D. Bên cạnh đó, tổ chức các hội chợ khoa học công nghệ định kỳ, có thể liên kết giữa các địa phương trong vùng, các hiệp hội, các bộ ngành, nhằm tuyên truyền và quảng bá sáng kiến.

- Chính sách tín dụng cho các doanh nghiệp ở vùng Đông Nam Bộ đƣợc thực hiện khá tốt. Tuy nhiên, mục tiêu của các chính sách có thể tốt nhƣng khi thực hiện lại gặp rất nhiều khó khăn, nhƣ:

+ Thủ tục vay vốn của doanh nghiệp còn phức tạp, phải vƣợt qua các thủ tục hành chính mới tiếp cận đƣợc vốn tín dụng ƣu đãi, đa số các doanh nghiệp khó đáp ứng đƣợc các thủ tục vay vốn chẳng hạn doanh nghiệp nhỏ và vừa mua nguyên vật liệu trực tiếp từ hộ gia đình thì không có hóa đơn chứng từ, nên không chứng minh đƣợc sự cần vốn với các tổ chức tín dụng.

+ Ngân hàng thiên về cho các doanh nghiệp lớn vay vốn hơn là các doanh nghiệp nhỏ vì tài sản thế chấp có giá trị thấp. Hơn nữa, khi không trả đƣợc nợ thì ngân hàng cũng mất thời gian, mất chi phí cơ hội để lấy lại đƣợc

khoản tiền đã cho vay. Để các ngân hàng cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ vay vốn, chính quyền các tỉnh vùng Đông Nam bộ có thể sử dụng các biện pháp chế tài mạnh hơn, chẳng hạn yêu cầu tỷ lệ vốn tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ ở một mức nào đó trong tổng dƣ nợ tín dụng của ngân hàng.

Hay cho phép doanh nghiệp nhỏ và vừa cần khuyến khích phát triển đƣợc phép thế chấp tài sản lưu động hoặc hàng tồn kho.

- Phát triển các dịch vụ hỗ trợ các doanh nghiệp nhƣ dịch vụ tƣ vấn pháp lý, kế toán,... vì lĩnh vực này hiện nay ở các doanh nghiệp Vùng Đông Nam Bộ còn hạn chế.

Một phần của tài liệu Môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp vùng đông nam bộ trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế (Trang 145 - 149)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(173 trang)