1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cơ sở tâm lý học ứng dụng

45 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ sở tâm lý học ứng dụng
Trường học Trường Đại học XYZ
Chuyên ngành Cơ sở tâm lý học ứng dụng
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các hướng ứng dụng của tâm lý học hiện nay, khoa học về nhân cách, trắc nghiệm và trị liệu tâm lý...Nếu các nhà tâm lý nghiên cứu bạn thì họ sẽ vẽ chân dung nhân cách bạn như thế nào? Điều gì khiến bạn khác những người khác trong khi họ vẫn sinh hoạt trong nhiều tình huống giống bạn? Thay vì nhìn nhận nhân cách trong nhận thức về sau, hãy xem xét khả năng có thể ứng dụng điều bạn sẽ học được để hiểu biết bản thân và hiểu những người khác như thế nào trong khi nhân cách vẫn đang phát triển.

Trang 1

Trần Nhật Thanh dịch và tóm lược

Trang 2

Mục lục

I Tâm lý học con người

1 Các chiến lược nghiên cứu nhân cách

2 Xây dựng lý thuyết nhân cách

3 Tóm tắt

II Các thuyết về nhân cách

1 Các thuyết về type nhân cách

Trang 3

Một câu chuyện…

Năm 1923, bi kịch cá nhân làm thay đổi hoàn toàn cuộc đời của một thanh niên 18 tuổi người Texas, tên là Howard Cậu sinh viên đại học năm thứ nhất được “bao cấp” quá mức (oerproteted) này chưa từng đưa ra một quyết định quan trọng cho bản thân Khi một cơn đau tim giết chết người cha, và chỉ hai năm sau đó cái chết của người mẹ, thì cậu thanh niên Howard được hưởng ba phần tư số tài khoản lãi do khoản sinh lời của doanh nghiệp do gia đình để lại Người chú và hai ông bà, được sở hữu phần còn lại của công ty đã hối thúc cậu nên trở lại đại học Mặc dầu nổi tiếng là một cậu con trai nhút nhát

và vâng lời, song Howard vẫn từ chối Nội trong bốn tháng, cậu mua lại các cổ phần công ty của những người thân Lúc này Howard đã 19 tuổi, quan tòa đã cấp cho cậu qui chế có địa vị người trưởng thành, cho phép cậu có đầy đủ tư cách pháp nhân kiểm soát công ty có số vốn một triệu đôla Tuy vậy, cậu không quan tâm đến việc tiếp tục sự nghiệp kinh doanh của gia đình Thay vì cậu muốn trở thành người phi công đúng đầu thế giới và nhà sản xuất phim hoạt hình nổi tiếng nhất Cậu nói với nhân viên kế toán của mình: “Đến lúc đó, tôi muốn các anh làm cho tôi trở thành người đàn ông giàu nhất thế giới” Lúc 38 tuổi, Howard Hughes đã trở thành một người Mỹ huyền thoại Ông thành lập hãng Hàng không Hughes – nhà chế tạo con tàu vũ trụ đầu tiên hạ cánh xuống mặt trăng Ông đã biến Hãng hàng không xuyên thế giới thành một vương quốc có số vốn 500 triệu đôla Ông thiết kế và chế tạo các máy bay dùng vào các mục đích đua tài, quân sự và thương mại Với tư cách là một phi công, ông đã phá nhiều

kỷ lục hàng không, giành chiến thắng trong chuyến bay vòng quanh thế giới năm 1938 Những cuộc diễu hành có tung băng giấy tại New York, Chicago, Los Angeles và Houston đã tôn vinh thành đạt của ông Song trước đó đã lâu, khi mới 29 tuổi, ông đã nhận được những bằng danh dự quốc gia vì đã sản xuất ra nhiều bộ phim, trong số này có giải thưởng của Viện Hàn lâm Hoa Kỳ Là giám đốc của Xưởng phim RKO, bằng nguồn tài chính của mình, ông đúng ra sản xuất nhiều bộ phim nổi tiếng ở Hollywood Cuối cùng, Howard Hughes đã thực hiện được khát vọng của mình trở thành người giàu nhất thế giới

Mặc dầu, thành công trước mọi người là điều thật khó tin, song Howard Hughes lại là một con người hết sức bối rối Vương quốc ngày càng mở rộng thì ông ngày càng bị xáo trộn Ông bắt đầu tập trung vào quá nhiều những chuyện vụn vặt tầm thường và ngày càng ít thành đạt Ông đã trở thành một kẻ sống ẩn dật, đôi khi biến mất hàng tháng

Những điều rủi ro đến với Hughes khi ông là một phi công và chỉ huy tổ lái đã làm cho ba người thiệt mạng Trong các chuyến bay, bản thân Hughes đã bị nhiều chấn thượng nặng ở đầu, mặt, và có lẽ cả não nữa, việc điều trị các chấn thương do một vụ nổi máy bay khiến ông xuýt thiệt mạng đã dẫn tới hậu quả khiến ông lâm vào cảnh nghiện codein cả đời Hậu quả rủi ro này đã lan sang lĩnh vực tài chính Ông đã mất đi hơn 100 triệu đôla của những người đóng thuế, của những cổ đông và tiền riêng của mình

Khi đã nhiều tuổi, Howard Hughes trở nên bị ám ảnh vì các mầm bệnh Khi nghe đồn có một nữ diễn viên đã có lẫn ông hẹn hò rằng nàng mắc một bệnh hoa liễu, thế là ông đem đốt hết quần áo, các khăn tắm và các tấm thảm Chỉ có những người trong đội “vệ sĩ” của ông mới được phép đến thăm ông, những người không bao giờ được trái lệnh ông dẫu thường là những lệnh quái gở

Thật là nghịch lý, ông già Hughes đã sống trong một tình trạng bẩn thỉu Ông ít khi mặc quần áo hoặc tắm rửa, không bao giờ đánh răng và thường dùng các kim tiêm không được tiết trùng chích ma túy

Trang 4

(codein) vào tĩnh mạch Ông nằm cả ngày trên giường Con người giàu có nhất thế giới này giờ đây trở thành một kẻ thân tàn ma dại, ốm yếu, suy mòn

Nhìn lại thời thơ ấu của Howard Hughes để lần ra các đầu mối sự nghịch thường trong nhân cách của ông, các nhà nghiên cứu đã tìm ra các mối dây liên hệ khả dĩ giữa những trải nghiệm tuổi thơ của ông với các biến cố trong quãng đời sau này Giống người cha, Hughes thích các đồ dùng cơ khí Lên 3 tuổi ông bắt đầu dùng máy chụp nhiều tấm ảnh Ông thử việc hàn những chiếc nồi trong xưởng làm việc của người cha, chế tạo ra nhiều đồ vật bằng các dây kim loại và các mảnh kim loại Ông được phép chơi ở trong xưởng, miễn lac không làm dây bẩn

Cha mẹ Hughes thường làm âm lên và lo lắng quá mức về sức khỏe của con Người mẹ trầm tĩnh và đáng tôn kính của ông đã dành hết thì giờ cho ông, đưa ông đi khám bác sỹ mối khi hói khó chịu đôi chút thôi

Năm 14 tuổi, cha mẹ gửi Hughes vào trường nội trú tại bang Massachusetts Khuyết tật thính giác mới phát sinh làm ảnh hưởng đến khả năng giao tiếp của ông và khiến ông bị cách ly khỏi bạn bè Điểm nổi bật nhất khi ông sống ở một miền Đông Hoa Kỳ là một chuyến bay trên một chiếc thủy phi cơ cùng với người cha đã đưa ông đến niềm say mê suốt cả cuộc đời với những chiếc máy bay và ngành hàng không Nhiều người quen biết ông và những nhà chuyên viết tiểu sử đều xem điều quyến rũ này là niềm đam mê bền vững nhất của đời ông

Về sau, khi đang theo học tại Đại học California, Hughes thường dành nhiều thời gian sống một mình, cưỡi ngựa dạo trên những ngọn đồi và đến thăm người chú, là một nhà viết kịch bản điện ảnh ở Hollyword Trong một bữa ăn, vào ngày thứ bảy, tại nhà ông chú, ông có gặp nhiều diễn viên và các ông trùm điện ảnh, như cha ông trước đây từng gặp, người đã để ý đến những người phụ nữ có nhan sắc, Hughes bắt đầu tri giác tháy con người là những đối tượng hoặc phải tránh né hoặc để kết giao Sau

đó, ông đã đưa một số thiết nữ trẻ muốn trở thành ngôi sao tới Hollywod, đưa họ vào các căn phòng riêng, và trong khi họ chờ đợi thành các ngôi sao thì ông hầu như đã bỏ quên họ…

Vài năm trước khi Hughes qua đời (năm 1976, hưởng thọ 70 tuổi) người thợ cắt tóc cũ của ông đã nói

về nhân cách lập dị của nhà tỷ phú như sau “Tôi biết ông ấy có nhiều vấn đề; phải chăng tất cả chúng ta lại chẳng có vấn đề gì? Đúng là ông ấy có cách cư xử hơi khác chúng ta đôi chút Vậy thử hỏi ai đã nói rằng ai sai?” (Keat, 1966)

Trang 5

Mở đầu

Những ấn tượng gì đã để lại trong ta về nhân cách của H.Hughes sau khi đọc tiểu sử tóm tắt của ông? Ông thuộc typ người nào? Những trải nghiệm nào và những ảnh hưởng nào đã nung nấu những khát vọng của ông và nuôi dưỡng một lối sống tự hủy hoại? Ta không thể không tự hỏi liệu có khả năng nào

có thể khiến câu chuyện về cuộc đời của ông có thể kết thúc khác đi và may mắn hơn không?

Cuộc giải phẫu thi thể tâm lý “Psychological antopsy” Howard Hughes của chúng ta “Những sự liên tục” (continuities) giữa nhân cách và các kiểu phản ứng của tuổi trẻ và sự tuổi trưởng thành giúp ta có thể lần ra nguồn gốc nỗi sợ hãi sau cùng các mầm bệnh (vi khuẩn) từ mối quan tâm quá mức củ cha mẹ tới sức khỏe của ông Nói cách khác Hughes đã được tăng cường về mặt xã hội mối quan tâm của mình đến sức khỏe và điều kiện vệ sinh Những sở thích về nghề cơ khí của ông được củng cố mạnh mẽ bởi người cha, và niềm đam mê ngành kỹ thuật hàng không ngay từ nhỏ đã được duy trì suốt cả cuộc đời Hughes đã bị cách ly khỏi bạn bè cùng trang lứa khi còn là một cậu học trò nhỏ tuổi và do vậy ông đã không bao giờ biết tạo dựng những mối quan hệ gần gũi của con người Ta thấy bằng chứng là ông đã đồng nhất hóa với người cha thông qua những sở thích được chia sẻ, mặc dầu về sau ông đã phản bội lại người cha bằng cách sống trong một tình trạng bẩn thỉu – một tương phản rõ ràng về tình trạng mất

vệ sinh mang tính ép buộc (compulsive hygiene) của ông già Sau chót, sự phát triển của nhân cách của ông đã bị xáo trộn ghê gớm bởi những biến cố như sớm bị khuyết tật thính giác về sau lại bị chấn thương não, rồi cha mẹ mất sớm… và sự giàu có vô kể khiến ông hầu như có được tất cả những gì mình mong muốn

Nếu các nhà tâm lý nghiên cứu bạn thì họ sẽ vẽ chân dung nhân cách bạn như thế nào? Điều gì khiến bạn khác những người khác trong khi họ vẫn sinh hoạt trong nhiều tình huống giống bạn? Thay vì nhìn nhận nhân cách trong nhận thức về sau, hãy xem xét khả năng có thể ứng dụng điều bạn sẽ học được để hiểu biết bản thân và hiểu những người khác như thế nào trong khi nhân cách vẫn đang phát triển

Trang 6

I Tâm lý học con người

Các nhà tâm lý học định nghĩa nhân cách theo nhiều cách khác nhau, song chung cho tất cả là hai khái niệm cơ bản: tính độc nhất vô nhị (uniqueness) và các kiểu đặc trưng của ứng xử Nhân cách (personality) là bộ phức hợp các phẩm chất tâm lý độc nhất vô nhị ảnh hưởng đến các kiểu đặc trưng ứng xử của một cá nhân qua các tình huống và thời gian khác nhau Các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực tâm lý học nhân cách tìm kiếm nhằm khám phá xem các cá nhân khác nhau như thế nào Họ cũng nghiên cứu tới mức độ nào các nét nhân cách và các kiểu ứng xử là nhất quán từ tình huống hoặc cơ hội này đến tình huống hoặc cơ hội khác

Lĩnh vực Tâm lý học nhân cách (Personality Psychology) cố gắng chỉnh hợp hết thảy mọi phương diện vận hành của một con người Sự chỉnh hợp này đòi hỏi nhà tâm lý học phải dựa trên hiểu biết tích lũy được về tất cả các lĩnh vực của tâm lý học ta đã bàn tới, cùng với tâm lý học xã hội nghiên cứu các quá trình giữa các cá nhân với cá nhân và nhóm Tâm lý học nhân cách vượt ra ngoài mối quan tâm tói sự vận hành bình thường của cá nhân Nó mang lại nền tảng để hiểu các vấn đề và bệnh lý của cá nhân cũng như mang lại một cơ sở cho các tiếp cận trị liệu nhằm thay đổi nhân cách Trong chương này, ta sẽ quan sát cá nhân được xem là tổng cộng các quá trình riêng rẽ những tình cảm, ý nghĩ và hành động Ta sẽ thấy con người không đơn thuần chỉ nhìn hoặc đáp ứng một cách khác nhau với cùng một tình huống chung Ta sẽ bàn tới cái gì có vẻ là một phương diện chủ quan, riêng tư đối với nhân cách tạo ra sự cố kết và trật tự cho ứng xử - một phương diện cốt lõi của mỗi chúng ta mà gọi là cái tôi (self) Ta bắt đầu bằng việc xem xét những vấn đề và những chiến lược chính trong nghiên cứu nhân cách Sau đó, sẽ duyệt lại các thuyết chính về nhân cách, mỗi thuyết tập trung vào các phương diện hơi khác nhau của cá tính con người

1 Các chiến lược nghiên cứu nhân cách

Hãy nghĩ về một người nào đó thực sự ta tin Bây giờ hãy nghĩ về một người mình biết là một mô hình vai trò đối với ta Hãy hình dung những phẩm chất của một người ta muốn sống cả phần còn lại của cuộc đời với người đó – và về một người nào đó ta không thể đến gần Trong mỗi trường hợp, điều nảy

ra tức thì trong trí óc là những thuộc tính cá nhân, chẳng hạn như tính thật thà, tính đáng tin cậy, tính hài hước, lòng khoan dung, tính cách thoải mái, tính gây gổ, tính khí thất thường hoặc tinh thần bi quan Ngay cả khi còn trẻ, ta có thể tạo ra và vận dụng hệ lượng giá của riêng mình để xét đoán nhân cách Ta đã cố gắng xác định xem trong số những người mới quen có thể là bạn hoặc có thể là thù; hóa

ra là cái cách ta ứng xử với cha mẹ và thầy cô là dựa vào điều ta tìm hiểu nhân cách của họ Có lẽ là ta

đã tốn khá nhiều thời giờ cố gắng có được một ý niệm về điều ta là ai – những phẩm chất gì phân biệt

Trang 7

ta với người khác, những phẩm chất nào sẽ phát huy và những phẩm chất nào phải từ bỏ Thực ra, trong mỗi trường hợp, những xét đoán của ta là những đánh giá ngây thơ về nhân cách, phản ánh lý thuyết ngầm về nhân cách (implicit Personality theory) của ta Những nhận xét đánh giá này phần lớn dựa vào trực giác và những quan sát còn hạn hẹp Những nhận xét đánh giá ngay thơ như vậy thường có thể là chính xác, song cũng có thể mở đường cho nhiều nguồn gốc sai lệch Chẳng hạn, nghĩ

về một số người nào đó ta cảm thấy hiểu nhân cách của họ Ta có xu hướng có những ấn tượng một chiều về nhiều người bởi lẽ chỉ thấy họ trong một ít tình huống nào đó Thường thì ứng xử của họ chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của những đặc trưng trong các tình huống đó Bản thân ta có thể moi ra một số phản ứng từ những tình huống đó mà thường không thể làm như vậy trong các tình huống khác Những

ấn tượng của ta về người khác có thể sai lệch do những yếu tố đó và những yếu tố khác khiến ta diễn giải nhân cách của họ theo những cách họ và những người khác có thể không tán thành Chẳng hạn, nếu đúng là ta nhận được một tin làm nản lòng – một điểm kém về một bài kiểm tra – khi lần đầu tiên gặp một cô bạn họ xuất sắc trong lớp, ta có thể đánh giá một cách bất công cô là một người kiêu ngạo hoặc một “kẻ vênh vác”, đơn giản chỉ vì lý do ta cảm thấy mình kém cỏi hoặc buồn chán Các nhà nghiên cứu về nhân cách quan tâm tới nhiều phương diện khác nhau của nhân cách Những dữ kiện họ có được

là từ các bản tự bạch của các đối tượng, cũng như những báo cáo của các nhà quan sát về cách ứng xử của các đối tượng Các nhà quan sát và các nhà phỏng vấn có thể ghi lại những trường hợp ứng xử của

cụ thể của con người, cũng như những chi tiết về tiểu sử và những sự kiện của cuộc sống Sau cùng, các công cụ chuyên dùng có thể giúp ghi lại những dữ kiện sinh lý về các quá trình vận hành của cơ thể của các đối tượng, gồm tần số tim, nồng độ hocmôn và các hóa sinh của não Các nhà nghiên cứu diễn giải các dữ kiện thu được bằng cách vận dụn một trong hai cách tiếp cận: cách tiếp cận tiểu sử hoặc cách tiếp cận chuẩn thức

Tiếp cận tiểu sử (idiographic approach) là cách tiếp cận lấy cá nhân làm trung tâm (person – centered); tập trung vào cái cách những phương diện độc nhất vô nhị nhân cách mà một cá nhân tạo ra một cách tổng thể chỉnh hợp Người ta cho rằng những nét riêng và những sự kiện trở thành những ý nghĩa khác nhau trong các cuộc sống của những người khác nhau Cách tiếp cận chuẩn thức (nomothetic approach)

là cách tiếp cận lấy các biến thái làm trung tâm (variable – centered), giả định rằng cùng những nét riêng hoặc chiều kích nhân cách ứng dụng cho từng người theo cùng một cách; con người đơn thuần chỉ khác nhau về mức độ họ làm chủ mỗi đặc trưng Nghiên cứu chuẩn thức tìm kiếm các mối liên quan giữa các nét nhân cách khác nhau trong cư dân nói chung Những nhà nghiên cứu và những nhà thực hành nào nghiên cứu con người theo phương pháp tiểu sử thì tập trung vào những nhân cách khiến một người nào đó giống, nhưng lại khác những người khác Ngược lại, những nhà nghiên cứu quan tâm tới các phẩm chất đặc thù – chẳng hạn như tính gây gổ hoặc những phong cách xử lý stress – thì chọn cách

Trang 8

tiếp cận chuẩn thức, biết được hết thảy những gì có thể biết về các phẩm chất dường như để mô tả phần lớn các cá nhân hoặc con người “trung bình”

2 Xây dựng lý thuyết nhân cách

Các thuyết nhân cách là những phát biểu mang tính giả thuyết về nhân cách của từng người Thuyết nhân cách giúp ta đạt tới hai trong số các mục tiêu của tâm lý học hiểu được cấu trúc và phát biểu nhân cách; tiên đoán ứng xử và các sự kiện của cuộc sống dựa vào điều ta biết về nhân cách Lý thuyết khác nhau đưa ra các tiên đoán khác nhau về phương cách con người sẽ đáp ứng và thích nghi với một số điều kiện

Tại sao có nhiều thuyết nhân cách khác nhau – thường cạnh tranh nhau – đến thế? Các lý thuyết gia khác nhau trong phương pháp tiếp cận nhân cách bởi xuất phát điểm và các nguồn dữ kiện của họ là khác nhau để cố gắng lý giải các quá trình này khác Một số quan tâm tới cấu trúc nhân cách từ cá nhân, một số khác lại tập trung vào những cá nhân lành mạnh Phần tới sẽ xem xét những thuyết nhân cách quan trọng nhất và có ảnh hưởng nhiều nhất Mỗi thuyết có thể dạy ta điều gì đó về nhân cách, song cùng nhau chúng có thể dạy ta thậm chí nhiều hơn nữa về bản chất con người

3 Tóm tắt

Các lý thuyết ngầm ta vận dụng để hiểu và tiên đoán ứng xử của con người có thể bị sai lệch vì chỉ dựa vào thông tin hạn chế Ta thường đưa ra những nhận xét đánh giá về con người sau khi chỉ thấy họ trong một typ tình huống duy nhất Các nhà tâm lý học nhân cách xây dựng được lý thuyết là xuất phát

từ những quan sát có hệ thống nhiều cá nhân qua nhiều tình huống Họ diễn giải các dữ kiện hoặc theo cách tiếp cận tiểu sử (lấy cá nhân làm trung tâm) hoặc theo tiếp cận chuẩn thức (lấy các biến thái làm trung tâm) Các thuyết nhân cách ta sẽ xem xét tới trong chương này là các lý thuyết dựa vào các typ dữ kiện khác nhau và nhằm lý giải các typ hiện tượng khác nhau

II Các lý thuyết nhân cách

Các tiếp cận mang tính lý thuyết để hiểu nhân cách có thể chia thành sáu nhóm phạm trù: typ, nét, tâm động, nhân văn, học tập và nhận thức Bảng 10-1 liệt kê sáu phạm trù, các khái niệm chính và các ví dụ (cách tiếp cận) của mỗi thuyết

Trang 9

- Năm chiều kích lớn về nhân cách: hướng ngoại, dễ chan hòa, cẩn trọng, ổn định cảm xúc, cởi mở sáng tạo

- Alfred Adler: sự thỏa đáng trong lối sống; tìm kiếm sự thỏa đáng

và tài năng, bù trừ quá mức đối với các mặc cảm tự ty

- Carl Jung: tâm lý học phân tích vô thức tập thể, các typ nguyên thủy

tiềm năng bản thân

- Tiếp cận lấy cá nhân làm trung tâm của Carl Roger: nhu cầu phát huy các tiềm năng của mình đấu với nhu cầu được bản thân và người khác tán thưởng, cái nhìn tích cực vô điều kiện

những lối tư duy

- Thuyết xây dựng nhân cách của George Kelly: xây dựng nhân cách ảnh hưởng đến ứng xử những tình huống mới đòi hỏi những xây dựng mới

1 Các thuyết về type nhân cách

Một trong những cách tiếp cận cổ xưa nhất để mô tả nhân cách có liên quan đến việc phân loại con người thành số ít các type khác biệt nhau Trong cuộc sống thường ngày của chúng ta, ta liên tục phân các cá nhân thành một số ít các phạm trù tùy theo một số nét đặc biệt nào đó Những nét nhân cách này có thể bao gồm sinh viên đại học, đa số, giới, chủng tộc và các phẩm chất như tính thật thà

Trang 10

hoặc tính nhút nhát Một số lý thuyết về nhân cách còn chia các cá nhân thành từng nhóm theo các typ nhân cách của họ - là những nét riêng biệt của các đặc trưng nhân cách được vận dụng để xếp vào các phạm trù Những phạm trù này không chồng chéo lên nhau; nếu một người được xếp vào một phạm trù thì người đó không thuộc vào bất cứ một phạm trù nào khác trong hệ này Khi nhận xét một người mới quen biết dường như thuộc “typ nhút nhát” thì có nghĩa ta phát biểu giả định rằng tất cả mọi người hoặc thuộc vào hoặc không thuộc vào phạm trù này – nói khác đi mỗi người hoặc là nhút nhát hoặc không phải nhút nhát

Các cách phân loại ban đầu về nhân cách (các hệ phân loại) được thiết kế nhằm định ra một mối liên kết cụ thể giữa một đặc trưng đơn giản, rất dễ nhìn thấy với ứng xử có thể được chờ đợi nơi con người thuộc typ đó Nếu là một người béo phì thì sau đó lại vui nhộn, nếu là một kỹ sư thì sau đó trở thành bảo thủ; nếu là phụ nữ thì sau đó là người dễ thương Theo truyền thống thì những hệ thống phân loại như vậy thường có sức hấp dẫn mọi người và vẫn còn hấp dẫn trong ngành truyền thông đại chúng; các hệ phân loại này đơn giản hóa một quá trình rất phức tạp trong việc hiểu được

bản chất nhân cách

Thuyết bốn tính cách (Four Humors Theory)

Một trong những thuyết về type nhân cách ra đời sớm nhất là thuyết do Hippocrate đề xuất vào thế

kỷ thứ năm trước Công nguyên, thày thuốc người Hy Lạp, người đã đưa ra lời thề Hippocrate của ngành y khoa Ông xây dựng một học thuyết cho rằng cơ thể con người chứa bốn thể dịch cơ bản còn gọi là tính cách (humors), mỗi tính cách kết hợp với một khí chất (temperament) đặc thù Nhân cách một con người tùy thuộc tính khí nào vốn chiếm ưu thế trong cơ thể người đó Hippocrate phân loại bốn tính khí của cơ thể song song với những khí chất nhân cách theo sơ đồ dưới đây:

- Máu (blood) = khí chất hăng hái: vui vẻ và chủ động

- Đờm dãi (phlegm) = khí chất lạnh lùng: vô cảm và uể oải

- Mật đen (Black bile) = khí chất u sầu: buồn rầu và ủ rũ

- Mật vàng (yellow bile) = khí chất cáu bẳn: dễ cáu kỉnh và hưng phấn

Hệ bốn tính cách của Hippocrate đã trở thành quen thuộc trong nhiều thế kỷ, mặc dầu ngày nay ta biết nó không có cơ sở nào: nhân cách và tính khí không chịu sự điều khiển của các thể dịch Tuy vậy, ta vẫn thấy nó mang những ý nghĩa nào đó trong ngôn ngữ của ta Chẳng hạn, dịch mật vừa có

ý nghĩa “chứa đầy mật” vừa có ý nghĩa “có khí chất ốm yếu” (“ill tempered”) Nền văn hóa phương Tây vẫn giữ lại những lời gợi ý của thuyết bốn tính cách trong những ý tưởng và những ngôn từ mang nội hàm một nguồn sinh học đối với những tính khí và cá nhân rối nhiễu Song, phải mãi tới thời Trung cổ mới có những người thợ cắt tóc kiểu giải phẫu (barber surgeons) hoặc những nhà

Trang 11

chuyên nghiệp khác điều trị những bệnh nhân có rối loạn tính khí bằng thủ thuật trích máu và dùng các con đỉa hút đi “chất máu xấu”

Các type ngoại hình (Somato types)

Một thuyết khác cơ sức hấp dẫn về typ nhân cách được William Sheldon (1942) đề xướng Ông là một thày thuốc người Hoa Kỳ đưa ra mối liên hệ giữa ngoại hình và khí chất Ông quy định mỗi cá nhân cho một trong ba phạm trù dựa vào typ ngoại hình của mỗi người, còn gọi là cấu trúc thân thể: ngoại hình nội điệp (endomorphic) (béo bệu, ủy mị tròn người), ngoại hình trung điệp (mesomorphic) (cơ bắp phát triển cân đối, khỏe mạnh) hoặc ngoại hình ngoại điệp (ectomorphic) (gầy cao, dễ tổn thương) Sự định typ này nói lên cụ thể mối liên quan giữa mỗi ngoại hình với các nét nhân cách, các hoạt động và những sở thích

Theo Sheldon, những người có ngoại hình nội điệp là những người có trạng thái thư giãn, thích ăn nhậu và dễ hòa mình Những người có ngoại hình trung điệp là những người có thể lực tốt, tràn đầy năng lượng, dũng cảm và có xu hướng dễ quyết đoán Những người có ngoại hình ngoại điệp thì thông minh khôn khéo, có tính nghệ sỹ và hướng nội; họ có xu hướng suy nghĩ về cuộc đời thay vì hưởng thụ

nó hoặc tác động tới nó Thuyết của Sheldon thật là hấp dẫn nhưng không thực chất Người ta đã chứng minh thuyết này ít có giá trị tiên đoán ứng xử của con người (Tyler, 1965) Hơn thế, con người xuất hiện trong nhiều hình dạng khác nhau – chắc chắn nhiều hơn ba kiểu ngoại hình – và không phải tất cả đều có thể dễ dàng xếp vào một trong ba typ hình thể của Sheldon

Định type MBTI – Một cách định typ hiện đại được nhiều người biết tới xuất phát từ thuyết về typ nhân

cách của Carl Jung (1953) Sử dụng chỉ báo type Myess – Briggs (MBTI: Myess-Briggs Type

Indicator) những sở thích được tự bạch của con người được dùng để đo lường bốn chiều kích: hướng ngoại – hướng nội (E-extraversion, hoặc I = intraversion, cảm giác – trực giác (S=sensing hoặc

I=intuition), lý trí – tình cảm (T=thinking hoặc F=feeling) và nhận xét đánh giá tri giác (J=jidgment hoặc P=perception) Nếu vận dụng test này, ta có thể chỉ được xếp vào một cực của mỗi chiều kích, và

tổ hợp các chiều kích sẽ quyết định một trong 16 type khả dĩ mô tả đúng nhất nhân cách của chúng ta Chẳng hạn, những người thuộc type ENFP (có nghĩa là hướng ngoại – trực giác – tình cảm – tri giác) được cho là giàu sáng kiến nhiệt tình, là những người khôn khéo trong ứng xử nhưng ghét lề thói tầm thường Chỉ báo Myess – Briggs là một typ nhân cách bởi lẽ những phạm trù của nó là riêng biệt hoặc gián đoạn, nên những người thuộc một typ được giả định là rất giống nhau theo những cách phân biệt với các type khác

Phương pháp định typ MBTI được vận dụng rộng rãi là vì người vận dụng test thấy hiểu được các typ

Trang 12

dễ dàng Những người phản bác hệ typ này cho rằng, trong khi thuyết bốn tính cách có nhiều ý nghĩa thông tin hơn, thì các đối tượng phải được mô tả theo các thang điểm thực của họ về mỗi chiều kích thay vì chỉ thu hẹp lại còn hai type

2 Các lý thuyết về nét nhân cách

Thực hành nhận diện các nét nhân cách (personaliy traits) đã có từ thời xa xưa giống như cách tiếp cận typ nhân cách Việc đặt tên và phân loại nhiều đặc trưng nhân cách ta quan sát thấy có thể giúp cấu trúc ứng xử của con người, song đó không phải là một việc đơn giản Thực vậy, hai nhà tâm lý học Gordon Allport và H.S.Odbert (1936) tìm kiến trong từ điển thấy trên 18.000 tính từ trong ngon ngữ tiếng Anh

mô tả các nét đặc trưng của cá nhân

Các thuyết về typ nhân cách giả định rằng có những phạm trù gián đoạn, tách rời nhau phù hợp với con người Ngược lại, các thuyết về nét nhân cách lại đưa ra những chiều kích liên tục (coutinous dimensions), chẳng hạn như sự thông tuệ hoặc sự nhiệt tình biến thiên về phẩm chất và mức độ Nét nhân cách là một chiều hướng hành động tổng quát; người ra giả định rằng mỗi cá nhân có những nét nhân cách với các mức độ thau đổi nét nhân cách mô tả điều được xem là nhất quán trong ứng xử của con người trong những tình huống và những thời điểm khác nhau Chẳng hạn, nếu ta có nét nhân cách

“thật thà”, ta có thể chứng minh điều này vào một ngày nào đó đưa trả lại mộ cái ví bị đánh mất và vào một ngày khác chứng minh bằng cách không lừa dối dựa trên một trắc nghiệm Một số các lý thuyết gia

về nhân cách cho rằng những nét nhân cách là nguyên nhân ứng xử song những lý thuyết gia bảo thủ lại lại lập luận rằng các nét nhân cách chỉ mô tả hoặc tiên đoán các kiểu ứng xử mà thôi

ü Tiếp cận nét nhân cách của Allport Gordon Allport (1966) là một trong những lý thuyết gia có ảnh hưởng nhiều nhất về nhân cách Ông là người nổi tiếng nhất trong số các lý thuyết gia về tiểu sử nhân cách cho rằng mỗi con người có một nét đặc trưng độc nhất vô nhị, cũng như một số các nét đặc trưng chung cùng nhau tạo thành một tổ hợp độc nhất vô nhị về các nét nhân cách Allport nhìn các nét nhân cách như là các khối kiến tạo nên nhân cách và là cội nguồn của cá tính Các nét nhân cách nối kết và hợp nhất các phản ứng của một cá nhân với đủ loại các kích thích, như được trình bày trong hình 10.1 Allport đã nhận diện ba loại nét nhân cách Nét căn bản là một nét nhân cách như một trục chung quanh

đó một cá nhân tổ chức ra cuộc sống của mình; phần lớn người ta có hơn một nét căn bản Howard Hughes đã tổ chức cuộc sống của mình chung quanh tài năng và sự thành đạt Đối với mẹ Teresa ở Calcutta (được giải Nobell Hòa bình năm 1979 – mất năm 1997) một nét nhân cách cơ bản có thể là sự

hy sinh bản thân làm điều tốt lành cho người khác Tuy vậy, không phải tất cả mọi người đều phát huy được những nét nhân cách căn bản

Trang 13

Nét nhân cách trung tâm được xem là một nét đặc trưng chính của một cá nhân, như tính thật thà hoặc

óc lạc quan chẳng hạn Nét nhân cách thứ yếu là một nét nhân cách cụ thể giúp ta tiên đoán được ứng

xử của cá nhân, nhưng không giúp ích mấy để hiểu được nhân cách của một con người Sở thích về các món ăn và đồ trang phục là những ví dụ về các nét nhân cách thứ yếu Theo Allport, những nét này tạo

ra cấu trúc của nhân cách, đến lượt mình cấu trúc đó quyết định ứng xử của một con người

Hình 10-1: Nhút nhát được xem là một nét nhân cách

Các nét nhân cách có thể tác động như những biến thái xen vào, tạp ra mối liên hệ giữa các bộ kích thích với các đáp ứng mà dường như thoạt nhìn, chúng ít có ảnh hưởng với nhau

Trang 14

- Hệ tôn ti typ – nét nhân cách của Eysenck’s Type – Trait Hierachy) Hans Eysenck, một lý thuyết gia

hàng đầu về nét nhân cách, đề xuất một mô hình gắn các typ, các nét nhân cách với ứng xử typ, các nét nhân cách với ứng xử thành một hệ tôn ti đơn độc (1947, 1990) Ở tầm thấp nhất của hệ Eysenck là những đáp ứng đơn độc như những hành động hoặc những ý nghĩ Những đáp ứng xảy ra đều đặc tạo thành những thói quen, và những thói quen liên hệ tạo thành những nét nhân cách Dựa vào các dữ kiện trắc nghiệm của mình, Eysenck kết luận có ba chiều kích nhân cách rộng lớn: hướng ngoại (extraversion, outgoingness), nhiễu tâm (neuroticism - ổn định hoặc mất ổn định) và loạn tâm (psychotism – tư duy thực tiễn hoặc không thực tiễn)

Eysenck cho rằng những khác biệt nhân cách dựa trên ba chiều kích căn bản là do những khác biệt gien học và sinh học giữa những con người gây ra Ông nghĩ rằng hệ tôn ti do ông đề xuất có thể được vận dụng để tổ hợp với các mô hình nét nhân cách nhằm mang lại những cái nhìn mới mẻ thấu đáo tới nhân cách Chẳng hạn, ông đã đặt mối liên hệ giữa hướng ngoại – hướng nội và nhiễu tâm (ổn định – không

ổn định) với các typ sinh lý về nhân cách của Hippocrates như được trình bày trong hình 10-2

Thuyết của Eysenck không phải là một cách định type chặt chẽ, thành thử người ta có thể rơi vào bất cứ

vị trí nào trong hình bốn ô vuông, đi từ rất hướng nội tới rất hướng ngoại và từ rất không ổn định (nhiều tâm) tới rất ổn định Các nét nhân cách được liệt kê chung quanh vòng tròn mô tả con người với mỗi tổ hợp của các điểm Chẳng hạn, một người vốn rất hướng nội lại có phần không ổn định thì là bốc đồng

Trang 15

Hình 10.2 Hình bốn ô vuông vòng tròn nhân cách của Eysenck (ở đây trìn bày thành một hình bốn

ô vuông)

Năm chiều kích lớn (The Big Five)

Một rủi ro của tâm lý học về nét nhân cách là sự thể những nhà nghiên cứu khác nhau nghiên cứu nhiều nét khác nhau, thiết kế nhiều phương cách khác nhau để đo lường các nét nhân cách nào đó và đôi khi đặt ra những tên theo phong cách riêng của họ để chỉ các chiều kích họ đo được Hệ “công nghệ tư nhân” (“free interprise”) tạo ra một bầu không khí làm trở ngại cho tiến bộ khoa học Sự mơ hồ về thuật ngữ học có thể khiến người ta khó có thể biets liệu những kết luận mang tính kinh nghiệm của các công trình nghiên cứu khác nhau có thể nhất trí, hoặc có thể đem đối chiếu với nhau được chăng? Chẳng hạn, ứng xử tội phạm ở tuổi thanh thiếu niên có thể tiên đoán từ thang điểm; các typ nhân cách loạn tâm, theo Eysenck (1982), hoặc từ các số điểm thấp thuộc thang đo xã hội hóa theo trường pháp California (Gough, 1968) Tuy vậy, thật là nghịch lý: càng tham khảo nhiều công trình nghiên cứu, những bức tranh lại càng tỏ ra mơ hồ

Trang 16

- Đi tìm những từ đồng nghĩa

Sự mơ hồ nói trên khiến người ta phải tìm kiếm những chiều kích có ý nghĩa chung khả dĩ cùng gắn với

sự phong phú của thông tin trong tâm lý học về n nhân cách Mục tiêu tìm kiếm là tạo ra một ngôn ngữ chung mà hết thảy các nhà tâm lý học về nhân cách có thể vận dụng để so sánh các phương pháp đo lường với những kết quả thu được Việc tìm kiếm bắt đầu bằng xem xét các thuật ngữ về nhân cách thấy xuất hiện trong ngôn ngữ tự nhiên Hy vọng rằng, với thời gian con người sẽ tạo ra các ngôn từ nhằm mô tả những chiều kích quan trọng được bản thân và người khác tri giác được

Đã có những nỗ lực tìm kiếm khởi sự bằng một bản liệt kê các nét nhân cách trong ngôn ngữ tiếng Anh được Allport và Qdbert (1936) rút ra từ từ điển Con số các nét nhân cách sau đó rút gọn lại còn chừng

200 cụm từ đồn nghĩa được sử dụng nhằm tạo ra các chiều kích hai cực của nét nhân cách, như “dễ tính – khó tính”, chẳng hạn Con người tự đánh giá mình và đánh giá người khác dựa vào các chiều kích nói trên, những đánh giá đó được phân tích để nhận diện các mối liên quan trong các cụm từ đồng nghĩa Kết quả đáng ngạc nhiên của các nhà nghiên cứu sử dụng phương pháp này rốt cuộc chỉ có năm chiều kích cơ bản nằm ở hạ tầng của tất cả các nét nhân cách được con người vận dụng đặng mô tả bản thân

và những người khác

- Năm chiều kích chung

Năm chiều kích có nghĩa rất rộng, vì lý do mỗi phạm trù bao gồm nhiều nét nhân cách, nên chúng chỉ

có những nghĩa mở rộng (connotation) độc nhất vô nhị nhưng là có một chủ đề chung Năm chiều kích

có tên gọi là Năm chiều kích lớn Trong bảng liệt kê năm chiều kích lớn sau đây, ta sẽ để ý rằng mỗi chiều kích đều có tính lưỡng cực (bipolar) mặc dầu nó chỉ được gọi tên bằng một từ; tên của chiều kích

mô tả cực “cao” Còn một thuật ngữ đối lập mô tả cực “thấp”

1 Hướng ngoại – thích nói (ba hoa), năng nỗ, và quyết đoán đấu với kín đáo, dè dặt và nhút nhát 2.Tính dễ thương (agreableness) – có thiện cảm, tử tế, và trìu mến đấu với lạnh lùng, hay gây gổ và tàn

5 Sẵn sàng được trải nghiệm – có tính sáng tạo, thông minh và không giáo điều đấu với giản đơn, nông

cạn và không thông minh

Trang 17

Năm chiều kích lớn không có nghĩa là thay thế cho nhiều thuật ngữ cụ thể về nét nhân cách mang sắc thái riêng và làm lu mờ ý nghĩa của chúng Thay vì, năm chiều kích này đưa ra một cách phân loại (một bảng liệt kê từ điển thuật ngữ) chứng minh các mối liên quan giữa các nét nhân cách, các lý thuyết nhân cách với thực trạng ứng xử

Vì là một hệ mô tả, nên Năm chiều kích lớn có ý nghĩa sâu rộng; hầu như bất cứ nét nhân cách nào có thể hình dung được cũng đều có thể liên quan đến một hoặc vài chiều kích Những chiều kích này thật

dễ hiểu bởi chúng xuất phát từ ngôn ngữ tự nhiên Chúng tỏ ra rất mềm dẻo và có thể thích hợp với nhiều cách tiếp cận khoa học Điều quan trọng nhất là, cũng năm chiều kích đó đã được khám phá lại với nhiều mẫu đối tượng khác nhau, với nhiều typ dữ kiện khác nhau, và đã được dịch sang nhiều thứ tiếng

và lừa đảo dựa trên một trắc nghiệm – chỉ thấy có tương quan không đáng kêt trong số các học sinh

- Ảo tưởng về tính ổn định

Nếu những ứng xử có liên quan đến nét nhân cách tỏ ra không nhất quán thông qua các tình huống nghĩa là ứng xử của một con người thay đổi trong các tình huống khác nhau – thì con người có thể tri giác như thế nào sự thể nhan cách của bản thân và của người khác được xem là tương đối ổn định? Kết quả nghiên cứu cho thấy những đánh giá về nhân cách của những nhà quan sát một cá nhân trong một tình huống nào đó trong một tình huống khác Điều nhận xét nói rằng những đánh giá về nhân cách xuyên qua thời gian và do các nhà quan sát khác nhau tiến hành là mang tính nhất quán trong khi những đánh giá về ứng xử của con người xuyên qua các tình huống lại không mang tính nhất quán, điều nhận xét như vậy được gọi là tính nghịch lý của sự nhất quán (Mischel, 1968)

- Nhu cầu được nhất quán

Những lý thuyết ngầm về nhân cách và những sai lệch nhận thức có thể góp phần, nhưng không thể lý giải hoàn toàn, những tri giác mang tính ổn định và liên ứng (consensual) của chúng ta về nhân cách Chẳng hạn, nếu một người nào đó nghĩ rằng một nét nhân cách ứng dụng cho chính bản thân thì người

đó chắc sẽ nhìn thấy điều đó cũng nhất quán trong ứng xử của người khác Sự nhất quán có thể là một

Trang 18

phẩm chất được con người tìm thấy trong những điều quan sát của mình chính bởi vì con người cần tìm thấy nó

Hoặc giả, con người có thể diễn giải các nét nhân cách được xem là nhất quán – ngay cả trong trường hợp chúng thực sự không nhất quán bởi lẽ người ta ít có dịp được tiến hành quan sát Chẳng hạn, nếu ta nghe kể về một người bạn được mô tả là “bao dung” và sau đó chỉ có một lần quan sát cô ta, thì ta có thể tìm kiếm (và thấy được) “bằng chứng” quả thật cô ta là bao dung Một nhà khoa học có thể hỏi ngay “liệu cô ta có ứng xử một cách bao dung trong các tình huống khác không? Nếu không quan sát những tình huống khác và các cơ hội khác, ta không thể trả lời câu hỏi đó, và do vậy ta không có thông tin về tính nhất quán thông qua thời gian Thực vậy, những nhà nghiên cứu nào nghiên cứu những tập hợp các ứng xử đưa ra nhiều nhận xét về một hành động trong mỗi tình huống, thì có khả năng xác nhận rằng một số nét nhân cách nào đó là nhất quán trải qua thời gian (Epstein 1979)

- Gắn bó chặt chẽ đấu với nhất quán

Cuộc tranh luận về tính nhất quán buộc các nhà nghiên cứu về nhân cách phải suy nghĩ lại những nét nhân cách một cách đúng đắn hơn – để vạch ra chính xác hơn những loại ứng xử phải có liên quan đến các nét nhân cách và trong những điều kiện nào Giờ đây, dường như nhân cách hoàn toàn không phải

là một vấn đề nhất quán về mặt ứng xử Thay vì, nhân cách tạo ra các kiểu gắn bó chặt chẽ về mặt ứng

xử Một nét nhân cách có thể được biểu hiện thông qua các ứng xử khác nhau trong các tình huống khác nhau và qua các lứa tuổi khác nhau,song cùng với lý thuyết một nét nhân cách nó tiên đoán được phạm vi các biểu hiện ứng xử, nên kiểu mẫu đó mang tính gắn bó chặt chẽ

Chẳng hạn, một tác giả (Capsi và cs, 1988) nhận thấy những cậu con trai nào tỏ ra nhút nhát hồi còn nhỏ thì về sau có vẻ miễn cưỡng khi đảm trách vai trò mới mẻ của xã hội, và thường chậm trễ tới 3 – 4 năm so với các bạn cùng tuổi không nhút nhát trong việc kết hôn, sinh con và có nghề nghiệp ổn định Nói cách khác, những cậu con trai nhút nhát không ứng xử nhút nhát một cách nhất quán, khi còn nhỏ

và về sau khi trưởng thành, theo cùng một cách như nhau; song họ đã hành động theo các cách phù hợp với một tổng thể nhân cách kiểu nhút nhát

- Sức nặng của những tình huống

Các tình huống cũng có vai trò quan trọng trong sự biểu hiện nhân cánh.Theo một nghĩa nào đó thì những khía cạnh của một tình huống ảnh hưởng đến điều ta sẽ làm tại bất cứ thời điểm nào.Tuy vậy,kết quả nghiên cứu cho thấy những tình huống khác nhau về mức độ theo đó nhân cách có nhiều khả năng được biểu hiện thành ứng xử.Các nét nhân cách thường được biểu hiện nhiều nhất trong các tình huống

Trang 19

mới lạ,mập mở(và do vậy để ngỏ cho sự diễn giải) hoặc các tình huống gây ra srtess.(Capi&Bem,1990)

Mặt khác,nhân cách của ta ảnh hưởng đến các tình huống mà chắc là ta sẽ dẫn thân vào.Đôi khi ta chọn lọc có cân nhắc một số typ tình huống nào đó,như đi dự nhiều buổi liên hoan này khác,hoặc không bao giờ giơ tay để trả lời một câu hỏi nhằm tránh phát biểu trước cả lớp học.Những lần khác,nhân cách của

ta ảnh hưởng tới bản chất của một tình huống bởi lẽ ta gợi mở một số đáp ứng nào đó từ người khác.Chẳng hạn nếu ta thường nói chuyện,và nói to,thì có những người có thể góp chuyện với ta ít hơn

so với điều họ vẫn thường nói chuyện với người khác.Do vậy,ta đánh giá những người ta đang nói chuyện với họ là những người ít hoặc trầm lặng

- Phê phán các thuyết về typ nét nhân cách

Các thuyết về type và nét nhân cách đã bị phê phán là không thỏa đáng bởi lẽ không lý giải được các nguyên nhân hoặc sự phát triển của nhân cách Thay vì chúng chỉ nhận diện và mô tả những nét đặc trưng có tương quan với ứng xử Trong trường hợp điển hình, thuyết nét nhân cách miêu tả một cái nhìn tĩnh, hoặc ít ra là đã ổn định về cấu trúc nhân cách như nó đang hiện hữu Ngược lại, các thuyết động (dynamic) về nhân cách nhấn mạnh các lực bên trong cá nhân xung động với những thách thức mau lẹ do môi trường tạo ra, đồng thời, những lực này dẫn tới sự thay đổi và phát triển liên tục bên trong cá nhân Phàn tiếp theo sẽ xem xét các thuyết động về nhân cách khác các thuyết typ và nét nhân cách như thế nào

+ Các thuyết tâm vận động về nhân cách (Psychodynamic theories)

Vào cuối thế kỷ 19, Charles Darwin đã làm cho thế giới nhận thức được những chiếc cầu chung nối giữa những con người với những con vật Các nhà tâm lý học nhanh chóng mượn khái niệm bản năng của Darwin – được xem là một cách lý giải ứng xử của loài vật – và ứng dụng nó vào hành động của con người Tuy vậy, nếu chỉ dựa vào các bản năng để nhận diện những nguồn gốc của hành động thì không giúp lý giải được hành động Nói một người nào đó là keo kiệt bởi lẽ người đó có một “bản năng keo kiệt” thì thực sự không lý giải được tại sao một người lại có bản năng keo kiệt hơn người khác Rút cuộc, cách tiếp cận nhân cách dựa theo bản năng chẳng giúp gì đặc biệt cả

Sigmund Freud đã đưa ra một cách tiếp cận mới Freud mở rộng khái niệm về bản năng trong khi phân tích ứng xử của con người Hết thảy các thuyết tâm vận động về nhân cách,được dựa trên công trình của Freud, đều chia sẻ điều giả định rằng nhân cách được nhào nặn và ứng xử được thúc đẩy bởi các lực mạnh mẽ bên trong

- Phân tâm học của Freud

Trang 20

Theo thuyết phân tâm học thì bám vào cái lõi nhân cách là những trải nghiệm bên trong tâm trí một con người, cái lõi này là động cơ của ứng xử Ta có thể nhận thức được một số các ứng xử, song có một động cơ nào đó lại tác động ở tầm vô thức Việc nhấn mạnh vào các nguồn năng lượng bên trong chính

là nét đặc trưng của cách tiếp cận được xem là mang tính tâm vận động này (hàm ý “tâm trí được cấp năng lượng”)

Với Freud, hết thảy các ứng xử đều có động cơ Hết thảy các hành động đều do các động cơ quyết định,

mà không phải do tình cờ Mỗi hành động của con người đều có một nguyên nhân và một mục đích có thể khám phá thông qua khoa phân tâm – phân tích nhưng liên kết ý nghĩa,những giấc mơ, những sai lầm và những đầu mối ứng xử khác đối với những đam mê sâu kín

Những dữ kiện hàng đầu làm cơ sở cho các giả thuyết của Freud về nhân cách xuất phát từ những điều ông quan sát được và những bệnh án từng ca được ông điều trị Thật là lạ, ông đã đặt ra một lý thuyết

về nhân cách bình thường lại xuất phát từ việc ông nghiên cứu sâu những người bệnh có rối nhiễu tâm

lý Mặc dầu có những vấn đề quan trọng công nhận giá trị nhiều ý tưởng của Freud, song những khái niệm ban đầu về cấu trúc nhân cách của ông đã phải chịu đựng cả một thế kỷ phê bình và thật là đáng được duyệt xét lại một cách thận trọng Cái lõi của cách tiếp cận tâm động là dựa trên bốn khái niệm chủ chốt: quyết định luận tâm thần, trải nghiệm ban đầu theo lứa tuổi, những xung năng và bản năng và các quá trình vô thức Cùng lúc chúng đưa ra một viễn cảnh với những khái niệm phong phú về phát triển và vận hành của nhân cách

+ Quyết định luận tâm thần (Psychic Determinism)

Là sự giả định rằng tất cả các phản ứng tâm trí và ứng xử (các triệu chứng) đều do các trải nghiệm ban đầu quyết định Freud cho rằng các triệu chứng vốn có thì liên quan có ý nghĩa với những sự kiện quan trọng (có ý nghĩa) trong cuộc sống

Cuối những năm 1800, các thày thuốc đã ghi lại được nhiều ca Hysteria, những chứng bệnh thực thể

mà không tìm thấy bất cứ nguyên nhân cụ thể nào khả dĩ lý giải thỏa đáng các chứng bệnh đó Những người mắc bệnh (mà phần lớn là phụ nữ) đã trải nghiệm các chứng như liệt hoặc mù, chẳng hạn, thế nhưng hệ thần kinh thì không hề hấn gì, cả các cơ bắp hoặc mắt cũng vậy Là một thày thuốc mới vào nghề, Freud quan tâm tới việc xử lý những triệu chứng kỳ quặc đó Những kinh nghiệm của ông trong việc điều trị Hysteria đã ảnh hưởng tới các thuyết của ông sau này

Freud quan sát thấy triệu chứng thực thể đặc thù thường có vẻ liên quan đến một sự kiện bị lãng quên

đã diễn ra thời thơ ấu của người bệnh Chẳng hạn, khi được ám thị, một bệnh nhân “mù” có thể hồi tưởng lại nhìn thấy cha mẹ đang giao hợp hồi mình còn rất trẻ Khi trở thành người lớn, cô ta có thể

Trang 21

đoán trước cuộc gặp gỡ lần đầu tiên với người tình, điều này có thể khuấy lên những tình cảm đau buồn trong ký ức Chứng mù của người phụ nữ trẻ tuổi, có thể được xem là một sự cố gắng vô thức xóa bỏ cái nhìn sự kiện trước kia – và để phủ nhận những thôi thúc tình dục của chính mình Chứng mù có thể khiến người khác chú ý tới, mang lại sự thoải mái và sự đồng cảm cho mình Do vậy, những động cơ tâm lý bên trong quyết định chứng bệnh đó

+ Trải nghiệm thời thơ ấu

Freud thừa nhận tính liên tục của phát triển nhân cách từ “trong tử cung cho tới nấm mồ” (the womb to the tomb) Ông cho rằng những trải nghiệm ở tuổi bế bồng và thời kỳ đầu tuổi thiếu niên có ảnh hưởng sâu sắc nhất đến hình thành nhân cách và đến các kiểu ứng xử của người trưởng thành Freud mô tả một

sự tuần tiến các giai đoạn tâm tính dục (psychosexual stages) là những kiểu kế tiếp nhau thỏa mãn các đòi hỏi mang tính bản năng sinh học thông qua kích thích những vùng khác nhau của cơ thể và trải qua các thời điểm khác nhau của cuộc đời

Từ lúc đẻ đến năm đầu, đứa trẻ bế bồng trải nghiệm sự mãn nguyện trước hết thông qua kích thích ở mồm Đứa bé mới để không những được nuôi dưỡng bằng mồm mà còn tiếp xúc với thế giới xung quanh bằng mồm và cách mút các đồ vật, đồ chơi và mút ngón tay

Tiếp theo chừng hai tuổi, khi đứa trẻ trải nghiệm khoái cảm trong khi đại tiện hoặc giữ lại phân Xã hội đòi hỏi phải huấn luyện vệ sinh, muốn đứa trẻ phải học cách kiểm soát và ngăn chặn kích thích hậu môn

3 Chừng từ 3 đến 5 tuổi, trong giai đoạn dương vật (phallic stage)

Đứa trẻ thăm dò và kích thích thân thể nó, khám phát khoái cảm có liên quan đến dương vật hoặc âm vật (clitoris) Cũng trong giai đoạn này, đứa trẻ nảy sinh những cảm nghĩ vô thức muốn chiếm đoạt tình yêu của người khác giới là cha hay mẹ, và phải giải quyết những cảm nghĩ xung đột và lo hãi bằng cách đồng nhất hóa (identification) gần gũi hơn với cha mẹ cùng giới

4 Chừng 6 tuổi, đứa trẻ bắt đầu chính thức đi học và bắt đầu chú ý đến những bạn và bạn bè cùng

lứa tuổi nhiều hơn chú ý tới cha mẹ và gia đình Trong giai đoạn tiềm ẩn (latency stage) này, những

liên tưởng vô thức về khoái cảm với kích thích cơ thể trở nên “tiềm tàng” (kém hiển nhiên) trong khi đứa trẻ tập trung và việc học tập và rèn luyện tài năng

5 Khi đứa trẻ trải nghiệm tuổi dậy thì, thì nó bước vào giai đoạn sinh dục (genital stage) (từ

chừng 12 hoặc 13 tuổi đến một phần hoặc suốt cả tuổi thanh thiếu niên) kết hợp khoái cảm thân xác với

Trang 22

các mối quan hệ cá nhân thay vì tự kích thích hoặc có những huyễn tưởng chiếm đoạt Theo Freud, hoặc quá nhiều kích thích hoặc quá nhiều hụt hẫng (frustration) tại bất cứ giai đoạn tâm tính dục ban đầu nào cũng đều dẫn tới sự cắm chốt (fixation) làm mất khả năng tuần tiến một cách bình thường tới giai đoạn phát triển tiếp theo Chẳng hạn, cắm chốt giai đoạn mồm được cho là dẫn tới phụ thuộc vào người khác, ăn quá nhiều, nghiện ma túy, thậm chí dẫn tới những chiều hướng nói năng lưu loát và châm chọc Cắm chốt giai đoạn hậu môn được xem là dẫn tới các kiểu ứng xử ương ngạnh, đam

mê, bủn xỉn, quá ngăn nắp

Một số nhà lâm sàng trong khi xử lý những bệnh có các rối nhiễu tâm trí nào đó đã nhận thấy quan niệm của Freud về các giai đoạn tâm tính dục là hữu ích Mặt khác, Freud không bao giờ thực sự nghiên cứu về trẻ em cả, mà chỉ thu thập các trải nghiệm thời thơ ấu của những người trưởng thành Tuy vậy, điều ông nhấn mạnh vào trải nghiệm thời thơ ấu khiến việc nghiên cứu mang tính khoa học về ứng xử của trẻ nhỏ và trẻ em là đáng trân trọng

- Những xung năng (drives) và bản năng (instincts) – Nhờ được đào tạo y khoa để trở thành một chuyên gia về thần kinh, Freud lập luận rằng động cơ của con người được tiếp sức bởi năng lượng sinh học, tâm thần tìm thấy bên trong mỗi cá nhân Khoa phân tâm học tập trung vào điều năng lượng được trao đổi, biến đổi và biểu hiện như thế nào Người ta cho rằng mỗi con người có các xung năng bẩm sinh được tạo ra bởi các bộ máy trong cơ thể và có thể được biểu hiện theo nhiều cách Chẳng hạn, khi được hoạt hóa thì xung năng tính dục có thể được biểu hiện trực tiếp thông qua hoạt tính tình dục, (sexdual activity) hoặc biểu hiện gián tiếp thông qua giễu cợt (những chuyện tiếu lâm chẳng hạn), hoặc các hoạt động mang tính sáng tạo (chẳng hạn những tác phẩm nghệ thuật, thơ ca, tiểu thuyết về tình yêu về văn hóa phồn thực…)

Freud đưa ra hai định đề độc đáo về xung năng cơ bản Một được ông nhìn nhận như có liên quan với

sự tự - bảo tồn (selfpreservation) Xung năng kia ông gọi là “xung năng sống” (Eros)([1]) , là một lực điều khiển liên quan đến các đòi hỏi tình dục và bảo tồn nòi giống Freud mở rộng khái niệm các ước muốn tính dục ở người bao gồm không những đòi hỏi hợp nhất tính dục mà cả những nỗ lực bổ sung nhằm tìm kiếm khoái cảm hoặc được tiếp xúc xác thịt với người khác Ông dùng thuật ngữ nhục dục (libido – hoặc dục vọng) để nhận diện nguồn năng lượng cấp cho các đòi hỏi tính dục – một thứ năng lượng tâm thần thôi thúc con người nhắm tới các khoái cảm xác thịt thuộc tất cả các typ Quan sát lâm sàng những bệnh nhân đã chịu đau đớn do các trải nghiệm chấn thương trong thế chiến thứ nhất khiến Freud đi tới bổ sung vào học thuyết của mình một xung năng thứ ba gọi là “xung năng chết” (thanatos)([2]) – bản năng chết hoặc “ước muốn chết” mang tính hung bạo (aggressive) và phá

Ngày đăng: 22/08/2023, 13:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 10.1. Tóm tắt các thuyết nhân cách - Cơ sở tâm lý học ứng dụng
Bảng 10.1. Tóm tắt các thuyết nhân cách (Trang 9)
Hình 10-1: Nhút nhát được xem là một nét nhân cách - Cơ sở tâm lý học ứng dụng
Hình 10 1: Nhút nhát được xem là một nét nhân cách (Trang 13)
Hình 10.2. Hình bốn ô vuông vòng tròn nhân cách của Eysenck (ở đây trìn bày thành một hình bốn - Cơ sở tâm lý học ứng dụng
Hình 10.2. Hình bốn ô vuông vòng tròn nhân cách của Eysenck (ở đây trìn bày thành một hình bốn (Trang 15)
Bảng 10-2. Những cơ chế tự vệ chính - Cơ sở tâm lý học ứng dụng
Bảng 10 2. Những cơ chế tự vệ chính (Trang 26)
Hình 10.3. Thuyết quyết định luận hỗ tương. Trong thuyết này con người ứng xử của - Cơ sở tâm lý học ứng dụng
Hình 10.3. Thuyết quyết định luận hỗ tương. Trong thuyết này con người ứng xử của (Trang 34)
Hình 10-4: Mô hình tự tin của Bandura. Mô hình này đặt những điều đoán trước về hiệu năng ở vị  trí giữa con người với ứng xử của mình; những đoán trước đầu ra được đặt ở vị trí giữa ứng xử và  đầu ra (hiệu quả) được đoán trước - Cơ sở tâm lý học ứng dụng
Hình 10 4: Mô hình tự tin của Bandura. Mô hình này đặt những điều đoán trước về hiệu năng ở vị trí giữa con người với ứng xử của mình; những đoán trước đầu ra được đặt ở vị trí giữa ứng xử và đầu ra (hiệu quả) được đoán trước (Trang 35)
Bảng 10.3. Những thang đo lâm sàng và chủ đề, MMPI-2, 1989. - Cơ sở tâm lý học ứng dụng
Bảng 10.3. Những thang đo lâm sàng và chủ đề, MMPI-2, 1989 (Trang 41)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w