Câu 1: Nêu và phân tích phong cách lãnh đạo trong tổ chức và quản lý giáo dục hiện nay. Rút ra những kết luận cần thiết cho người lãnh đạo trong tổ chức và quản lý giáo dục hiện nay 1. Khái niệm phong cách lãnh đạo 1.1. Phong cách Theo cuốn Từ điển Tiếng Việt, NXB Giáo dục (2000), khái niệm phong cách có bốn cách hiểu sau đây: Là vẻ riêng trong lối sống, cách làm việc của một người hay một kiểu loại người nào đó: chẳng hạn như phong cách sống, phong cách lãnh đạo. Phiên dạng của ngôn ngữ có những đặc điểm trong việc lựa chọn, kết hợp và tổ chức các phương tiện ngôn ngữ liên quan đến nhiệm vụ giao tiếp: phong cách ngôn ngữ khoa học. Toàn bộ các thủ pháp sử dụng ngôn ngữ đặc trưng cho từng nhà văn, tác phẩm, thể loại.
Trang 2Câu 1: Nêu và phân tích phong cách lãnh đạo trong tổ chức và quản lý giáo dục hiện nay Rút ra
- Toàn bộ các thủ pháp sử dụng ngôn ngữ đặc trưng cho từng nhà văn, tác phẩm,thể loại
- Việc lựa chọn các phương tiện ngôn ngữ theo nguyên tắc, sắc thái tu từ, biểucảm: chẳng hạn như phong cách trang trọng
Trong bốn cách hiểu trên, cách hiểu đầu tiên được sử dụng gần như phổ biếntrong đời sống hàng ngày và gần với nội dung của khái niệm phong cách lãnh đạohơn cả
Cách hiểu này cũng gần trùng với cách giải nghĩa của một số cuốn từ điển phổthông, trong đó khái niệm phong cách được định nghĩa như là tình cảm, các hành
vi ứng xử hàng ngày cũng như trong việc tiến hành các hoạt động chuyên mônnghề nghiệp
1.2 Phong cách lãnh đạo
Có nhiều cách hiểu khác nhau:
- Phong cách quản lý được coi là nhân tố quan trọng trong quản lý, nó gắn liền vớikiểu người quản lý, nghệ thuật quản lý và quản lý con người
BÀI TIỂU LUẬN CUỐI
KÌMÔN: TÂM LÝ HỌC ỨNG DỤNG TRONG
TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ GIÁO
Trang 3- Phong cách quản lý không chỉ thể hiện về mặt khoa học và tổ chức quản lý màcòn thể hiện tài năng, chí hướng, nghệ thuật điều khiển, tác động của người quảnlý.
- Phong cách quản lý là dạng hành vi của cá nhân thể hiện các nỗ lực ảnh hưởngtới hoạt động của những người khác
- Phong cách quản lý là cách thức làm việc của người lãnh đạo (phương pháp quảnlý: Tổ chức - hành chính; Kinh tế; Tâm lý - giáo dục): (V I Mikheep (1979); V
- Phong cách lãnh đạo là hệ thống các phương pháp được người lãnh đạo sử dụng
để tác động đến những người dưới quyền (Vũ Dũng 2011, tr 175)
- Phong cách lãnh đạo là kiểu hoạt động đặc thù của người lãnh đạo, được hìnhthành trên cơ sở sự kết hợp chặt chẽ giữa yếu tố tâm lý chủ quan của người lãnhđạo và yếu tố môi trường xã hội trong hệ thống quản lý (Trần Thị Minh Hằng,
2011, tr 81)
-> Phong cách lãnh đạo là hệ thống các phương pháp, biện pháp làm việc tương
đối ổn định được người lãnh đạo sử dụng để tác động đến những người dưới quyền nhằm đưa ra các quyết định quản lý phù hợp.
- Hệ thống các phương pháp, biện pháp làm việc của người lãnh đạo, quản lý;
- Phong cách lãnh đạo mang tính ổn định;
- Gây ảnh hưởng, tác động đến những người dưới quyền
* Những dấu cơ bản cần chú ý khi xem xét khái niệm phong cách lãnh đạo, quản lý
- Phong cách lãnh đạo phải được thể hiện quan niệm của người lãnh đạo về hoạtđộng lãnh đạo, quản lý;
Trang 4- Phong cách lãnh đạo bao hàm nhiều phương pháp, lề lối làm việc được lặp lại ởngười lãnh đạo;
- Phong cách lãnh đạo được thể hiện qua hệ thống thái độ và hành vi của ngườilãnh đạo, trong việc sử dụng những quyền hạn, quyền lực, tri thức và trách nhiệmcủa mình để thực hiện vai trò của bản thân;
- Phong cách lãnh đạo được bộc lộ và chi phối của yếu tố môi trường (hoạt độngcủa tổ chức, đặc điểm cấp dưới và thành viên trong tổ chức);
- Phong cách lãnh đạo luôn gắn liền với tính lịch sử, tính giai cấp, gắn liền với hệ
tư tưởng - đạo đức và thể chế chính trị cũng như tâm lý - xã hội và truyền thốngdân tộc
2 Những phong cách lãnh đạo cơ bản
2.1 Căn cứ vào tính chất của mối quan hệ giữa người lãnh đạo với những người cấp dưới, có 3 loại phong cách lãnh đạo chủ yếu sau:
+ Phong cách lãnh đạo độc đoán (uy quyền);
+ Phong cách lãnh đạo dân chủ;
+ Phong cách lãnh đạo tự do (ủy quyền)
2.1.1 Phong cách lãnh đạo độc đoán (uy quyền)
- Là phong cách trong đó người lãnh đạo trực tiếp ra các quyết định mà không cầntham khảo ý kiến của người dưới quyền
Trang 5+ Vị trí người lãnh đạo là ở ngoài nhóm.
- Ưu điểm: giải quyết vấn đề một cách nhanh chóng kịp thời
- Nhược điểm: chủ quan, không phát huy được sáng tạo, kinh nghiệm của cấpdưới
Liên hệ: Tại trường THPT N.T, hiệu trưởng thường phân công công việc theo cảm tính, ưu ái giáo viên nào thì phân công công việc cho giáo viên đó hoặc tổ chuyên môn đó Mặc dù, công việc đó đôi lúc không phù hợp với chuyên môn của giáo viên đó hoặc không phải là thế mạnh của tổ chuyên môn đó Song hiệu trưởng luôn tự ý đưa ra quyết định và buộc mọi người phải thực hiện theo phân công Điều đó gây mất đoàn kết trong nội bộ, giữa các tổ chuyên môn và giáo viên với nhau Theo tôi thiết nghĩ hiệu trưởng đó cần phân công đúng người đúng việc, lắng nghe ý kiến cũng như tâm tư nguyện vọng của mọi người trước khi đưa ra quyết định Với phong cách lãnh đạo độc đoán như vậy, không những công việc không đạt được hiệu quả như mong muốn mà còn không phát huy được năng lực,
sở trường của các cá nhân khác trong tổ chức.
2.1.2 Phong cách lãnh đạo dân chủ
- Là phong cách trong đó người lãnh đạo ra các quyết định trên cơ sở bàn bạc, traođổi và tham khảo ý kiến của người dưới quyền
- Đặc điểm:
+ Tạo cơ hội cho cấp dưới tham gia vào quá trình ra quyết định quản lý bằng việctrưng cầu ý kiến của cấp dưới;
+ Người lãnh đạo giải thích cho mọi người biết kế hoạch, dự định của mình;
+ Người lãnh đạo thông báo cho mọi người biết được sự thay đổi liên quan đến họ
và tranh thủ sự đồng tình của người dưới quyền trước khi thi hành một chủ trương,biện pháp khác;
+ Người lãnh đạo giao nhiệm vụ cho người dưới quyền luôn dành cho họ điều kiệnphát huy tính độc lập sáng tạo;
+ Khuyến khích, động viên kịp thời những sáng kiến thành tích;
+ Vị trí người lãnh đạo là ở trong nhóm
Trang 6- Ưu điểm: khai thác sáng kiến, kinh nghiệm của người dưới quyền, tạo ra sự thỏamãn cho họ vì được thực hiện công việc do chính mình đề ra.
- Nhược điểm: tốn kém thời gian, tiền bạc
2.1.3 Phong cách lãnh đạo tự do (ủy quyền)
- Là phong cách trong đó người lãnh đạo cung cấp thông tin và thu nhận kết quảcho phép người dưới quyền ra các quyết định riêng của mình, người lãnh đạo íttham gia vào việc ra các quyết định của tổ chức
- Đặc điểm:
+ Người lãnh đạo “buông lỏng” cho mọi người thực hiện nhiệm vụ được giao, giúp
họ tự lựa chọn tiến hành cách thức tiến hành công việc;
+ Ít tham gia vào hoạt động của tổ chức, chỉ nêu lên ý tưởng nên cấp dưới phải tựxoay xở, công việc do nhóm tự phát triển;
+ Cố gắng cung cấp thông tin và tạo điều kiện cho họ hoàn thành nhiệm vụ đượcgiao;
+ Người lãnh đạo chỉ can thiệp vào công việc của cấp dưới, người thừa hành khi
họ thực sự sai lầm;
+ Yêu cầu cao với cấp dưới là hiệu quả, chất lượng công việc;
+ Vị trí người lãnh đạo không rõ ràng trong nhóm
- Ưu điểm: phát huy tối đa năng lực sáng tạo của người dưới quyền
- Nhược điểm: dễ dẫn đến tình trạng hỗn loạn, vô chính phủ trong tổ chức
Tùy thuộc vào đặc điểm, trình độ của đối tượng quản lý, môi trường làm việc,tính chất công việc cũng như phẩm chất, năng lực, trình độ của người lãnh đạo,…
mà mỗi nhà lãnh đạo sẽ lựa chọn phong cách lãnh đạo phù hợp nhằm phát huy tối
đa vai trò quản lý, lãnh đạo của mình trong tổ chức
● Phong cách quản lý theo Rensis Likert
Rensis Likert đã khám phá công thức quản lý chung được các nhà quản lý
áp dụng có hiệu quả đối chiếu với không hiệu quả, chỉ ra những phongcách quản lý thịnh hành của tổ chức được mô tả trên một đường liên tục từ
hệ thống 1 đến hệ thống 4
Trang 7(1) Phong cách quản lý “quyết đoán - áp chế”:
- Người quản lý không tin tưởng cấp dưới, cấp dưới ít được thu hút vào raquyết định Quyết định và mục đích của tổ chức do trên xây dựng rồi truyềnxuống cho dưới
- Cấp dưới bắt buộc phải thực hiện 1 cách vô điều kiện với sự đe dọa và rất ítphần thưởng, nhu cầu được thỏa mãn ở mức thấp nhất (cấp độ sinh lý và antoàn)
(2) Phong cách lãnh đạo “quyết đoán - nhân từ”:
- Người quản lý cố gắng tin tưởng cấp dưới Quyết định và mục đích của tổchức về cơ bản do trên xây dựng, một số được giao cho cấp thấp hơn
- Người quản lý sử dụng một số phần thưởng và hình phạt công khai Bất cứmột tác động qua lại, trên dưới nào cũng đều diễn ra với một chút thái độ hạ
cố của cấp trên và nỗi lo sợ của cấp dưới
(3) Phong cách quản lý “tham vấn”
Người quản lý khá tin tưởng vào cấp dưới Cấp dưới được phép đưa ra nhiềuquyết định cụ thể hơn, giao tiếp thông suốt cả 2 chiều Trên dưới tác động vừaphải, đủ tin tưởng nhau
(4) Phong cách quản lý “tham gia - theo nhóm”
Người quản lý hoàn toàn tin tưởng cấp dưới Ra quyết định được phổ biếnrộng rãi trong toàn bộ tổ chức Giao tiếp được thông suốt theo cả chiều dọc vàchiều ngang
● Phong cách quản lý theo Dominique Chalvin
Trong nghiên cứu của mình, Dominique Chalvin dựa vào hai tiêu chí cơ bản
là sự cam kết và sự hợp tác để chia phong cách quản lý thành 05 cặp phongcách (10 phong cách), trong đó 5 phong cách quản lý có hiệu quả và 5 phongcách kém hiệu quả
Trang 85 phong cách quản lý hiệu quả 5 phong cách không hiệu quả
- Phong cách nhà tổ chức
- Phong cách người tham gia
- Phong cách thực tế
- Phong cách mạnh dạn
- Phong cách cực đại chủ nghĩa
- Phong cách quan liêu
- Phong cách mỵ dân
- Phong cách cơ hội
- Phong cách chuyên chế
- Phong cách không tưởng
● Phong cách quản lý theo sơ đồ mạng lưới của Robert R Blake và Jame S Mouton
Các phong cách quản lý khác nhau được phát hiện dựa trên mức độ mối quantâm đến sản xuất (mục tiêu) và mối quan tâm đến con người (mối quan hệ):
- Phong cách “cầm chừng”: Người quản lý ít quan tâm đến hiệu quả công việclẫn nhu cầu của những người dưới quyền
- Phong cách “vị tình”: Người quản lý quan tâm tối đa các nhu cầu của cấpdưới, nhưng lại quan tâm tối thiểu đến hiệu quả công việc
- Phong cách “công vụ”: Người quản lý quan tâm tối đa đến hiệu quả côngviệc, còn nhu cầu của mọi người bị đặt ở hàng thứ yếu
- Phong cách “thích ứng”: Người quản lý vừa phải quan tâm đến nhu cầu củacấp dưới vừa quan tâm đến hiệu quả của công việc
- Phong cách “toàn diện”: Người quản lý quan tâm cao nhất đối với nhu cầucủa cấp dưới và hiệu quả công việc
● Phong cách quản lý theo Fred Fiedler
Fred Fiedler và các cộng sự của ông đã xây dựng mô hình tình huống, trong
đó ông khuyến nghị rằng: Sự quản lý thành công phụ thuộc vào việc phongcách quản lý phải tương xứng với các đòi hỏi, yêu cầu của tình huống Mộtphong cách quản lý được coi là có hiệu quả nhất nếu nó được sử dụng trongmột tình huống thích hợp
Phong cách quản lý có hiệu quả cần dựa vào 3 biến trong 1 tình huống làmviệc:
Trang 9(1) Mối quan hệ lãnh đạo - nhân viên là mức độ người lãnh đạo được chấp
nhận bởi các nhân viên;
(2) Cấu trúc nhiệm vụ là mức độ mô tả rõ ràng của các mục tiêu, công việc
cần làm và các yếu tố tình huống khác;
(3) Quyền lực chức vụ được xác định bởi mức độ người lãnh đạo chi phối
được các việc khen thưởng và phạt nhân viên
● Phong cách quản lý theo Victor Vroom và Phillip Yetton.
Victor Vroom và Phillip Yetton đề xuất 5 phong cách ra quyết định quản lýtrong mô hình tham gia lãnh đạo
- Xuất phát từ quan điểm cho rằng tính hiệu nghiệm của quyết định quản lýđược xác định bởi hai yếu tố: Chất lượng của quyết định (chất lượng củaquyết định do tập thể đề xuất) và sự chấp nhận quyết định (mức độ tập thểcam kết thực hiện quyết định do họ đề xuất)
- Để đạt được quyết định tốt nhất, người quản lý phải phân tích tình huống vàchọn một trong 5 phong cách ra quyết định: Có 2 phong cách độc đoán (A1,A2); 2 phong cách tham khảo - tư vấn (C1, C2) và 1 phong cách tập thể (G2),được giải thích như sau:
(A1) - Người quản lý tự mình ra quyết định
(A2) - Người quản lý yêu cầu cấp dưới cung cấp thông tin, nhưng tự mình raquyết định, cấp dưới có thể được thông báo hoặc không được thông báo vềtình huống
Trang 10(C1) - Người quản lý thông báo cho cấp dưới về tình huống, yêu cầu cung cấpthông tin và sự đánh giá Cấp dưới không tạo thành một tập thể (nhóm) đểthảo luận hoặc ra quyết định.
(C2) - Người quản lý và cấp dưới hình thành một tập thể (nhóm) để thảo luận
về tình huống, nhưng người quản lý ra quyết định
(G2) - Người quản lý và cấp dưới hình thành một tập thể (nhóm) để thảo luận
về tình huống và ra quyết định
2.2 Dựa vào tính chất thực tế hoạt động lãnh đạo, quản lý
- Phong cách lãnh đạo quyết đoán;
- Phong cách lãnh đạo ôn hòa, trung dung;
- Phong cách lãnh đạo quan liêu, mệnh lệnh;
- Phong cách lãnh đạo sâu sát, tỉ mỉ, gần gũi quần chúng
3 Xây dựng phong cách người lãnh đạo, quản lý
Vấn đề đổi mới phong cách lãnh đạo và xây dựng phong cách làm việc có hiệuquả của người cán bộ quản lý đã được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệtquan tâm từ trước đến nay Qua các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc gần đây, yêu cầuđổi mới phong cách làm việc ở các cấp, các ngành luôn luôn được đặt ở vị trí quantrọng, trong đó nổi lên hai khía cạnh cơ bản: loại bỏ phong cách lãnh đạo quan liêu
và xây dựng phong cách lãnh đạo dân chủ, quyết đoán, có hiệu quả
3.1 Loại bỏ phong cách lãnh đạo quan liêu
Phong cách lãnh đạo quan liêu là con đẻ của cơ chế quan liêu bao cấp, là nguyênnhân trực tiếp của các căn bệnh gia trưởng, độc đoán, thiếu dân chủ, cục bộ địaphương, xa rời thực tế, dẫn đến hiệu quả quản lý thấp Trong tác phẩm "Sửa đổi lềlối làm việc", Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phê phán phong cách lãnh đạo này qua cácbiểu hiện sai lầm thường gặp như: "Cái gì cũng dùng mệnh lệnh, ép quần chúnglàm Đóng kín lại mà đặt kế hoạch, viết chương trình rồi đưa ra cột vào cổ quầnchúng, bắt dân chúng theo", "Có nhiều cán bộ không bàn bạc, không giải thích vớiquần chúng, không để cho quần chúng phát biểu ý kiến, giải quyết các vấn đề, chỉbắt buộc quần chúng làm theo mệnh lệnh Thậm chí khi dân chúng đề ra ý kiến và
Trang 11nêu rõ vấn đề, họ cũng tìm cách dìm đi Họ chỉ làm theo ý kiến của họ Kết quả làlàm cho quần chúng nghi ngờ, uất ức, bất mãn, "
Cảnh tỉnh cho các nhà lãnh đạo về loại sai lầm ngộ nhận này, Người nói:
"Có nhiều cán bộ theo cách đó Họ còn tự đắc rằng: làm như thế họ "vẫn làm trònnhiệm vụ”, làm được mau, lại không rầy rà
Họ quên rằng: "Đảng ta và Chính phủ ta làm việc là làm cho dân chúng Việc gìcũng vì lợi ích của dân mà làm Làm theo cách quan liêu đó thì dân oán Dân oán
dù tạm thời may có chút thành công, nhưng về mặt chính trị là thất bại."
Dưới góc độ tâm lý học quản lý, phong cách lãnh đạo quan liêu thường dẫn đếnnhững hậu quả nguy hại sau:
- Bệnh quan liêu làm cản trở sự phát triển nhân cách toàn diện của những ngườicấp dưới, buộc họ phải làm việc trong khuôn khổ của những thủ tục cứng nhắc,theo những mệnh lệnh chi tiết, vụn vặt do cấp trên liên tục đưa ra mà không chú ýtới sở trường và khả năng của cấp dưới Những người cấp dưới phải làm việc trongđiều kiện như vậy rất dễ đánh mất tính độc lập suy nghĩ và dễ có thói quen làmviệc như một cái máy khiến cho khó phát triển hết khả năng của mình
- Bệnh quan liêu có thể dẫn nhà quản lý đến chủ nghĩa thủ cựu và nếp suy nghĩtheo đuôi, chẳng hạn như cách nghĩ cho rằng cấp trên biết rõ hơn mình, tốt nhất làhành động theo ý cấp trên, nếu có ý kiến ngược lại, chắc sẽ thất bại
- Bệnh quan liêu làm cho nhà quản lý không để ý đến những vấn đề mới xuất hiện,bởi vì họ chỉ làm việc theo thói quen thụ động mà không ý thức được rằng tìnhhình thực tế đang biến đổi rất nhanh, khó có chương trình, kế hoạch nào có thể baoquát hết mọi chi tiết gắn với những đổi thay của thực tế
- Trong hệ thống quản lý, lãnh đạo quan liêu, rất khó có thể huỷ bỏ các quyết địnhsai lầm của thủ trưởng Và mỗi khi người lãnh đạo không biết nghe những kiếnnghị, góp ý đúng đắn của cấp dưới thì chỉ còn một cách là cấp dưới phải thi hànhmệnh lệnh sai lầm của cấp trên và cái giá phải trả của một cơ quan đơn vị hànhchính thật khôn lường
- Một trong những hậu quả nổi bật của bệnh quan liêu là khoảng cách ngày càng
mở rộng giữa điều mà người thủ trưởng có quyền làm và điều mà anh ta có thể
Trang 12làm Ở đây quyền hạn mà anh ta tự cho rằng mình có được thì có xu hướng giatăng nhưng khả năng thực tế anh ta có làm được hay không lại có xu hướng giảmđi.
- Từ những tệ hại trên đây có thể dẫn đến một hiện tượng mà trong thực tế chúng tahay dùng bằng cụm từ "quen quá hoá lỳ” Có nghĩa là thông thường khi làm mộtviệc gì đó theo yêu cầu của người khác, một người bình thường bao giờ cũng thêmvào đó một phần thiện chí và sáng tạo của bản thân, và biết bổ sung những gì cần
bổ sung, trong khi những người "mắc bệnh quen quá hoá lỳ” thì dần dần trở nênmất khả năng sáng tạo và thiện chí của mình với tư cách là một chủ thể
Tính nguy hại của vấn đề là ở chỗ bệnh quan liêu làm cho những người bìnhthường mất thói quen suy nghĩ tích cực, sáng tạo chỉ biết làm theo những gì đãđược quy định chính thức hoặc đã được vạch sẵn trong các mệnh lệnh từ trênxuống và trong các quy định đã được ban hành Hiện tượng "quen quá hoá lỳ”khiến con người không muốn làm một chút gì để thích ứng với tình huống cụ thể,chỉ biết nhìn lên cấp trên, hoặc có nhìn xuống cấp dưới cũng không tính đến những
gì đang xảy ra xung quanh, không nghĩ đến những thiếu sót trong công việc củamình
Bệnh quan liêu có thể gây ra những tổn thất khôn lường cho tập thể và cho Nhànước, bởi nó có thể dẫn đến tệ tham ô, lãng phí Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã nói: "Tham ô, lãng phí đều do bệnh quan liêu mà ra" Và người còn gọi chủnghĩa quan liêu là "một thứ giặc trong lòng chúng ta" Bệnh quan liêu có thể dẫnngười lãnh đạo đến chỗ bảo thủ, trì trệ, ỷ lại, vô trách nhiệm, thiếu năng động,không dám đổi mới, nó bóp nghẹt sáng kiến của mọi người, dẫn đến mất dân chủ
và mất đoàn kết, Do vậy, là nhà quản lý, dù ở lĩnh vực nào cũng phải hết sứccảnh giác với những xu hướng tiềm ẩn của loại phong cách lãnh đạo nguy hại này
3.2 Xây dựng phong cách lãnh đạo dân chủ, quyết đoán, có hiệu quả
Phong cách lãnh đạo này đòi hỏi người cán bộ quản lý giáo dục phải bám sátnguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác quản lý nhằm đề cao tính tập thể tronglãnh đạo đi đôi với tăng cường trách nhiệm cá nhân
Trang 13Trước khi ra một quyết định quan trọng, người lãnh đạo cần điều tra nghiên cứu,thu thập thông tin thật đầy đủ để nắm chắc bản chất của tình hình và sự việc HồChủ tịch đã nói: "Việc gì cũng phải điều tra rõ ràng, cẩn thận và phải làm đến nơi,đến chốn, Đảng có hiểu rõ tình hình thì đặt chính sách mới đúng".
Cũng như trong tất cả các lĩnh vực công tác thường xuyên có mối quan hệ giaotiếp giữa con người với con người, hoạt động quản lý giáo dục đòi hỏi nhà quản lýphải luôn luôn duy trì mối quan hệ với cấp dưới, biết dành nhiều thời gian cho việctiếp xúc với cấp dưới
Người lãnh đạo cần biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến của cấp dưới, chú ý tìmhiểu những nhân tố mới, những kinh nghiệm sáng tạo của các thành viên trong tậpthể Trước những vấn đề có nhiều ý kiến khác nhau, cần phải thảo luận dân chủ,công khai, thẳng thắn để tìm ra chân lý, để đi đến kết luận rõ ràng, dứt khoát vàkhoa học Tránh tìm cách lẩn tránh sự bất đồng ý kiến bằng cách đưa ra những kếtluận chung chung, lựa chiều nhiều người rồi cuối cùng đi đến một kết luận chứađựng những yếu tố dung hoà, thỏa hiệp, nửa vời, không có tác dụng thực tế, thậmchí có thể gây ra những hậu quả xấu
Xây dựng phong cách lãnh đạo dân chủ còn có nghĩa là phát huy tính tập thểtrong lãnh đạo phải đi đôi với việc đề cao trách nhiệm cá nhân Độc đoán là sai,song cá nhân không dám chịu trách nhiệm, không dám quyết đoán cũng là sai
Mở rộng dân chủ không phải là sa vào dân chủ hình thức hoặc dân chủ vô nguyêntắc Dân chủ đúng đắn phải đặt dưới sự chỉ đạo tập trung và đi liền với tập trung
Sự năng động, sáng tạo phải dựa trên cơ sở đường lối, chính sách của Đảng Mọibiểu hiện của chủ nghĩa tự do, vô kỷ luật, cục bộ địa phương, phân tán, tản mạn,nói ẩu, làm bừa hoàn toàn xa lạ với dân chủ
Xây dựng phong cách lãnh đạo dân chủ là xu thế tất yếu trong thời đại ngày nay,
nó gần với những giá trị nhân văn của xã hội hiện đại Tuy nhiên, để cho phongcách lãnh đạo dân chủ thực sự mang lại hiệu quả trong công tác quản lý cần chú ýthêm một số khía cạnh khác như những điều kiện không thể thiếu được nhằm nângcao năng lực và uy tín của mình:
Trang 14- Không ngừng nâng cao trình độ lý luận chính trị, trình độ chuyên môn và trình độquản lý nhằm đổi mới tư duy, đổi mới phong cách lãnh đạo.
- Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, lời nói đi đôi với việc làm, suy nghĩ kỹtrước khi nói, có kế hoạch chi tiết trước khi làm
- Tăng cường công tác phê và tự phê bình, chống chủ nghĩa cá nhân và tệ sùng bái
cá nhân
- Đối xử bình đẳng và cởi mở với mọi người, tránh "yêu nên tốt, ghét nên xấu”
- Giữ gìn và nâng cao những phẩm chất "cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư"như lời dạy của Hồ Chủ tịch
Mềm dẻo, sáng tạo, linh hoạt trong giao tiếp và trong công tác quản lý lãnh đạo
Khi xem xét, suy nghĩ phải có "lý" nhưng khi hành động, ứng xử phải có "tình".Đất nước ta đang tiến hành công cuộc đổi mới cả về phương diện kinh tế xã hội
và phương diện hành chính quốc gia Để góp phần thực hiện nhiệm vụ trọng đại
đó, mỗi cán bộ lãnh đạo, quản lý nói chung và cán bộ quản lý giáo dục nói riêng dù
ở cấp nào đều cần chú trọng đổi mới phong cách lãnh đạo, quản lý dựa trên nhữngyêu cầu và nguyên tắc của Đảng và những quy định hiện hành của hệ thống quản
lý xã hội chủ nghĩa Việt Nam
3.3 Vấn đề thay đổi phong cách của người lãnh đạo
Kiểu người phù hợp với kiểu khí chất Mỗi người mỗi kiểu đều được tạo nên bởinhững đặc tính tâm lý bền vững Nhưng dù sao các kiểu đều có khả năng thay đổi.Cái đó phụ thuộc vào độ mềm dẻo, linh hoạt của hệ thần kinh, sự rèn luyện của cánhân, cũng như trong những điều kiện nhất định Sự thay đổi có thể khó khăn haythuận lợi tuỳ từng trường hợp cụ thể Thông thường, trong điều kiện như nhau,những người trẻ tuổi do độ linh hoạt của thần kinh cũng trẻ trung đầy sức sống nên
dễ dàng rèn luyện và cũng dễ dàng thay đổi; trong khi đó, ở tuổi già, thần kinh đãgià cỗi, độ linh hoạt kém nên việc thay đổi rất khó khăn và chậm chạp hoặc khôngthể thay đổi được
Khả năng thay đổi phong cách lãnh đạo còn phụ thuộc vào những tác nhânkhách quan khác như: hoạt động và cơ chế của các tổ chức xã hội, dư luận xã hội.Những hoạt động của các cơ quan quản lý cấp trên đòi hỏi phải thường xuyên kiểm
Trang 15tra hàng ngày, kịp thời phát hiện những nhược điểm của người lãnh đạo và cónhững biện pháp thích hợp giúp đỡ như: gây dư luận trong quần chúng, phê bình,góp ý và bổ sung bằng nhiều hình thức khác nhau từ việc tạo điều kiện vật chất,động viên tinh thần (chỉ ra cái ưu thế) đến việc giúp đỡ bằng phương pháp tiếp cậngiải quyết vấn đề.
Tất cả sự tác động đó lên người lãnh đạo buộc họ phải có những nhận định, đánhgiá đối với hoạt động của bản thân, so sánh kết quả hoạt động với trách nhiệmđược giao, thấy được hiệu quả công tác của bản thân, tức là tự đánh giá bản thân,qua đó quyết định lấy hướng đi tiếp theo Hoặc có sự thay đổi cần thiết, phù hợpvới vai trò lãnh đạo tập thể, hợp với xu thế của thời đại hoặc rời khỏi vị trí lãnhđạo
4.4 Tại sao phải thay đổi phong cách lãnh đạo, quản lý
- Môi trường xã hội thay đổi;
- Cạnh tranh khốc liệt;
- Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế;
- Vai trò và nhu cầu của con người thay đổi;
- Trình độ, kiểu các nhà quản lý
Các phong cách lãnh đạo
Người quản lý Phong cách
Người ra quyết định
Người lãnh đạo
Trang 16lý do vì sao, mụcđích và/hoặc lợiích của việc làm
đó đồng thời hỗtrợ, khuyến khích,động viên
Người lãnh đạonhưng có giảithích rõ ràng vớicán bộ cấp dưới
ra sáng kiến vàcùng nhau thựchiện công việc
Người lãnh đạo vànhân viên dướiquyền cùng thamgia
lý do vì sao, mụcđích và/hoặc lợiích của việc làm
đó đồng thời hỗ
Cán bộ dướiquyền
Trang 17trợ, khuyến khích,động viên.
5 Các nhân tố ảnh hưởng tới lựa chọn phong cách quản lý
5.1 Các nhân tố chủ quan
- Phẩm chất người quản lý: nhu cầu, động cơ, định hướng giá trị,…;
- Năng lực người quản lý;
- Đào tạo, bồi dưỡng cho chức vụ quản lý;
- Vị trí người quản lý
5.2 Các nhân tố khách quan
5.2.1 Môi trường bên ngoài tổ chức
- Phong cách thống trị, quản lý đất nước;
- Phong cách quản lý của người lãnh đạo cấp trên;
- Trình độ phát triển khoa học kỹ thuật, công nghệ sản xuất;
- Truyền thống lịch sử, văn hóa, các giá trị tinh thần của xã hội;
- Điều kiện tự nhiên, xã hội, vật chất, tinh thần
5.2.2 Môi trường bên trong tổ chức:
- Đặc điểm khách thể, đối tượng quản lý
- Phong thái, văn hóa tổ chức
5.2.3 Tính chất, đặc điểm công việc
- Những nét riêng, đặc thù của công việc
- Yêu cầu của công việc
* Kết luận: Mỗi nhà lãnh đạo cần lựa chọn cho mình phong cách quản lý thích
hợp nhằm tập hợp được sức mạnh của những người dưới quyền nhằm thực hiệnthành công các mục tiêu của tổ chức Tuy nhiên, không có phong cách quản lý nào
là tối ưu tuyệt đối mà nhà lãnh đạo cần linh hoạt lựa chọn phong cách lãnh đạothích hợp với từng tình huống cụ thể, với xu hướng quản lý, với trình độ và đặcđiểm tâm lý của người dưới quyền, đặc điểm của tổ chức cũng như cần thường
Trang 18xuyên bồi dưỡng phẩm chất và năng lực, trình độ quản lý đáp ứng yêu cầu đổi mớicủa xã hội.
Câu 2: Nêu và phân tích các hiện tượng tâm lý xã hội cơ bản của người lao động Rút ra những kết luận cần thiết cho người lãnh đạo trong tổ chức và quản lý giáo dục hiện nay.
1 Hiện tượng tâm lý xã hội là gì ?
Là những hiện tượng tâm lý chung của một nhóm xã hội nảy sinh từ tác độngqua lại trong hoạt động và giao tiếp giữa các thành viên trong nhóm, chi phối thái
độ và hành vi của các cá nhân khi hiện diện trong nhóm
- Là hiện tượng tâm lý chung của một nhóm xã hội;
- Là kết quả tác động qua lại giữa người với người trong hoạt động và giao tiếp;
- Nó chi phối thái độ và hành vi
2 Đặc điểm của hiện tượng tâm lý xã hội
- Là hiện tượng tâm lý chung của nhiều người, nhóm, tập thể, cộng đồng,…
- Luôn phản ánh thực tại đời sống của nhóm
- Có bản chất của hoạt động và giao tiếp
- Các hiện tượng tâm lý xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau, chi phối lẫnnhau
- Các hiện tượng tâm lý xã hội rất phong phú, đa dạng và phức tạp
3 Phân loại các hiện tượng tâm lý xã hội
3.1 Phân loại theo chủ đề
Trang 19- Những hiện tượng tâm lý xã hội nảy sinh trong các nhóm xã hội: thủ lĩnh, xungđột, thi đua, dư luận xã hội, truyền thống, không khí tâm lý,…
- Những hiện tượng tâm lý chung trong đời sống xã hội: tâm lý giai cấp, tâm lý dântộc, tâm lý tập thể lao động, tâm lý gia đình,…
3.3 Căn cứ mối tương quan giữa các mặt nhận thức, tình cảm và ý chí
- Các quan điểm và niềm tin xã hội
- Các cảm xúc, tình cảm xã hội, tâm trạng xã hội
- Các định hướng giá trị, tâm thế xã hội, lý tưởng, mục đích, lập trường sống củacon người
- Các nhu cầu, lợi ích, động cơ, không khí tâm lý, dư luận xã hội, truyền thống,…
3.4 Căn cứ vào thời gian tồn tại và vị trí của chúng trong nhân cách
- Các quá trình tâm lý xã hội: tri giác xã hội, lây lan, bắt chước, ám thị, ấn tượngban đầu, thế tâm lý,…
- Các trạng thái tâm lý xã hội: hưng phấn, ức chế, hoảng loạn, tâm trạng xã hội,không khí tâm lý,…
- Các thuộc tính tâm lý xã hội: truyền thống, phong tục tập quán, dư luận xã hội,nhu cầu và lợi ích nhóm, định kiến xã hội, thái độ xã hội,…
4.4 Những hiện tượng tâm lý xã hội cơ bản của người lao động
Trang 20- Phẩm chất và năng lực: Trình độ chuyên môn, kinh nghiệm, các phẩm chất đạođức, tính cách, phong cách lãnh đạo,…
- Sự thừa nhận của các thành viên trong nhóm xã hội là tự thừa nhận và tôn trọng
về quyền lực, sự ảnh hưởng (bắt chước, lây lan,…) của người thủ lĩnh đối với cácthành viên
4.1.3 Vai trò của thủ lĩnh
- Vai trò “nam châm”: thu hút sự chú ý ngay từ khi thực hiện các công đoạn đầutiên đi “lượm lặt”, tìm kiếm và tập hợp nhân sự, cũng như tìm kiếm điều kiện cầnthiết khác để có thể kiến tạo được một nhóm nghiên cứu đủ tầm
- Vai trò “điểm tựa”: phải làm cho mỗi thành viên hiểu rằng, thông qua người thủlĩnh, họ có thể hợp tác với nhóm một cách bền vững, lâu dài và đôi bên cùng cólợi Mỗi thành viên đều tin vào năng lực chuyên môn và tư cách đạo đức của thủlĩnh
- Vai trò “đèn pha”: có đủ khả năng hướng dẫn, dẫn dắt như một kim chỉ nam vềchuyên môn, các mối quan hệ, giao tiếp nghề nghiệp,…Với vai trò này, người thủlĩnh phải giỏi về chuyên môn, luôn làm chủ được các vấn đề, kiến thức liên quantới các nghiên cứu trong nhóm
- Vai trò “nội trợ”: Khi cần, người thủ lĩnh sẵn sàng chăm lo tới những chi tiết dùnhỏ nhất trong công việc hàng ngày cũng như trong một số mặt sinh hoạt của thànhviên (nếu có thể)
- Vai trò “cận vệ”: Mỗi thành viên trong nhóm luôn yên tâm tin rằng, mình luôn cóđược sự bảo vệ, che chở của thủ lĩnh nếu như mình thực hiện đúng các ý tưởng, kếhoạch đã được thông qua Nói cách khác, người thủ lĩnh luôn sẵn sàng nhận cáctrách nhiệm cá nhân thay cho thành viên
- Vai trò “nổi lửa”: Người thủ lĩnh luôn hun đúc cho mỗi thành viên những mongmuốn phấn đấu và cống hiến Khi ở cạnh, hay khi nghĩ về thủ lĩnh, mỗi thành viênđều cảm thấy khát vọng sống, khát vọng học tập và khát vọng làm việc
- Vai trò “chất keo”: Trong một tập thể đông người rất dễ xảy ra các va chạm, dovậy người thủ lĩnh phải là tâm điểm xây dựng, bảo vệ sự đoàn kết, thống nhất,…
Trang 21- Vai trò “hoạt náo viên”: Các hoạt động sáng tạo trong nghiên cứu khoa học luôntrầm lặng và căng thẳng, người thủ lĩnh cần tạo ra không khí tươi vui lành mạnh,như vậy hiệu quả làm việc sẽ tăng, đồng thời không gây sự nhàm chán.
- Vai trò “ngòi nổ”: Tất cả (hoặc hầu hết) các ý tưởng nghiên cứu, các cải cách, cảibiên lớn, quan trọng đều phải xuất hiện đầu tiên ở người thủ lĩnh, hoặc người thủlĩnh khởi động Tất nhiên phải rất chú trọng kích thích sự sáng tạo của mỗi thànhviên Nói chung, người thủ lĩnh phải biết tạo ra chất sống và sức sống cho mộtnhóm
- Vai trò “bà đỡ”: Đón nhận, triển khai các sản phẩm nghiên cứu dựa vào ứng dụnghoặc chuyển giao, liên kết, tóm lại cần chăm lo đầu ra,… (http://dinhdoan.net/ky-nang-lam-viec-nhom-10-vai-tro-cua-thu-linh/)
* Phân biệt thủ trưởng và thủ lĩnh
Những điểm giống và khác nhau giữa thủ trưởng (người lãnh đạo) và thủ lĩnh
- Những điểm giống nhau: giải quyết một loại nhiệm vụ gần giống nhau
+ Kích thích nhóm, hướng nhóm vào giải quyết các nhiệm vụ nhất định
+ Quan tâm đến các điều kiện, phương tiện để thực hiện nhiệm vụ