1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

GIẢN YẾU VỀ NGỮ DỤNG HỌC

73 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 552,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lần đầu tiên tại Việt Nam, ngôn ngữ học được nhìn nhận một cách đa chiều từ góc độ con người, từ khoa học nhân học, tâm lí học, xã hội học. Đây chính là đóng góp của GS.TS Đỗ Hữu Châu (Bộ Giáo dục và Đào tạo) thông qua cụm công trình “Ngữ dụng học”, mở ra một hướng nghiên cứu liên ngành giữa văn học với ngôn ngữ. Là một trong 16 công trình, cụm công trình tiêu biểu vừa được Hội đồng nghiệm thu cấp Nhà nước đề nghị xét trao Giải thưởng Hồ Chí Minh vào giữa tháng 10 tới đây, cụm công trình “Ngữ dụng học” có tính chất tiên phong, đặt nền móng cho việc nghiên cứu ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp gắn với chức năng vốn có của ngôn ngữ là chức năng giao tiếp. Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, ở Việt Nam, những vấn đề về ngôn ngữ nghệ thuật trong mối quan hệ với ngôn ngữ tự nhiên, về sự phân biệt ngôn ngữ như là một “phương tiện” và ngôn ngữ như là một “chất liệu” của văn học, và đặc biệt là về khái niệm “tín hiệu thẩm mỹ”, những đặc trưng của tín hiệu thẩm mỹ, lần đầu tiên xuất hiện, được đề cập một cách tường minh và có hệ thống đã trở thành cơ sở lí luận vững chắc cho những nghiên cứu tiếp theo về ngôn ngữ văn học. Cụm công trình “Ngữ dụng học” đã mở ra một hướng nghiên cứu mới, tạo ra trường phái nghiên cứu Ngữ dụng học ở Việt Nam, làm thay đổi cách nhìn ngôn ngữ khi xây dựng hệ lí thuyết nền tảng về các nhân tố tham gia vào hoạt động giao tiếp, giải thích ý nghĩa, chức năng của ngôn ngữ trong quan hệ với người sử dụng, với tư cách là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất. Đồng thời, cụm công trình có sức lan tỏa lớn trong nghiên cứu và đào tạo khoa học ngôn ngữ, khoa học ngữ văn. Kết quả nghiên cứu của cụm công trình mở ra hướng mới cho việc tìm kiếm đề tài nghiên cứu ở cấp bậc Thạc sĩ và Tiến sĩ không chỉ với cơ sở đào tạo Đại học Sư phạm Hà Nội mà còn trong phạm vi các trường đại học khác trên cả nước. Điều này đặc biệt có giá trị ở chỗ, trước đó, các đề tài nghiên cứu ở cấp độ Thạc sĩ, Tiến sĩ chỉ bó hẹp nếu không nói là bế tắc với các vấn đề thuộc về ngôn ngữ cấu trúc. Nội dung và kết quả nghiên cứu của cụm công trình còn ảnh hưởng lớn đến việc xác định mục tiêu biên soạn, nội dung biên soạn sách Ngữ văn phổ thông. Theo PGS.TS Đặng Thị Hảo Tâm, Khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội, cụm công trình “Ngữ dụng học” gồm 04 công trình đã công bố: Đại cương ngôn ngữ học tập hai – Ngữ dụng học (NXB Giáo dục, 2001); Giáo trình Ngữ dụng học (Dành cho Hệ đào tạo Tại chức và Từ xa NXB Đại học Sư phạm, 2003); Cơ sở ngữ dụng học (NXB Đại học Sư phạm, 2003) và Giáo trình Ngữ dụng học (NXB Đại học Sư phạm, 2007). Trước những năm 1990, nghiên cứu ngôn ngữ Việt Nam bó hẹp trong hệ thống ở trong cấu trúc chủ ngữ vị ngữ, nhưng khi công trình nghiên cứu của cố GS TS Đỗ Hữu Châu xuất hiện thì nghiên cứu ngôn ngữ chuyển sang hướng mới. Ngôn ngữ được nghiên cứu không phải trong hệ thống nữa mà trong mối quan hệ với con người, trong mối quan hệ của tâm lý học, trong mối quan hệ của xã hội học và văn học. Đây được coi là đóng góp lớn nhất của cố GS.TS Đỗ Hữu Châu ở cụm công trình “Ngữ dụng học”. Cụm công trình đã đặt vấn đề nghiên cứu ngôn ngữ trong mối quan hệ với người sử dụng, mở ra một hướng nghiên cứu liên ngành giữa văn học với ngôn ngữ. Nhận xét về cụm công trình “Ngữ dụng hoc”, GS.TSKH Vũ Minh Giang, Ủy viên Hội đồng cấp Nhà nước xét tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước về KHCN, Chủ tịch Hội đồng chuyên ngành cấp Nhà nước lĩnh vực Lịch sử Văn hóa nhận định, công trình của cố GS.TS Đặng Hữu Châu có thể coi là sự nghiệp của cả một đời người. Công trình đã có đóng góp to lớn vào lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ tại Việt Nam. GS Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam nhận định: Trong thời gian khoảng ba thập kỷ trở lại đây có rất nhiều công trình được công bố và nhiều đề án cấp quốc gia đã được thực hiện. Điều đó được thể hiện trên nhiều phương diện, từ cơ cấu chuyên môn của các ngành khoa học xã hội, các tổ chức nghiên cứu và đào tạo cho đến đội ngũ các nhà khoa học và các sản phẩm nghiên cứu. Có thể kể đến các công trình như “Ngữ dụng học”; “ Lịch sử tư tưởng Việt Nam”...

Trang 1

đại học huế trung tâm đμo tạo từ xa

GS.TS Đỗ Hữu Châu

Giáo trình

giản yếu về ngữ dụng học

(Sách dùng cho hệ đμo tạo từ xa)

Tái bản lần thứ nhất

Huế - 2007

Trang 2

Mục lục

trang

Lời nói đầu 4

Mở đầu: khái quát về ngữ dụng học 5

I ư ngữ dụng học lμ gì ? 5

II ư các bộ phận trong ngữ dụng học 11

Chương I: chiếu vật vμ chỉ xuất 12

I ư chiếu vật lμ gì ? 12

II ư các dạng chiếu vật 12

III ư các phương thức chiếu vật 13

Chương II: hμnh động (hμnh vi) ngôn ngữ 16

I ư Ngôn ngữ vμ hμnh động ngôn ngữ 16

II ư các loại hμnh động ngôn ngữ 17

III ư hμnh động ở lời lμ biểu thức ngữ vi 17

IV ư Điều kiện sử dụng các hμnh động ở lời 19

V ư Hiệu lực ở lời (lực ở lời) của các câu (các phát ngôn) 20

VI ư phân loại các hμnh vi ở lời 21

VII ư hμnh động ở lời vμ hội thoại 21

VIII ư hμnh động ở lời gián tiếp 22

Chương III: Lập luận 23

I ư Lập luận lμ gì ? 23

II ư Lập luận vμ lôgic 24

III ư Đặc tính của quan hệ lập luận 26

IV ư Tác tử lập luận vμ kết tử lập luận() 27

V ư Các "lẽ thường" cơ sở của lập luận 29

Chương IV: lí thuyết hội thoại 31

Trang 3

I ư các vận động hội thoại 31

II ư Các quy tắc hội thoại 33

III ư thương lượng hội thoại 36

IV ư cấu trúc hội thoại 36

Chương V: ý nghĩa hμm ẩn vμ ý nghĩa tường minh (hiển ngôn) 47

I ư Khái quát về ý nghĩa tường minh vμ hμm ẩn 47

II ư phân loại tổng quát ý nghĩa hμm ẩn 47

III ư tiền giả định vμ hμm ngôn 49

IV ư cơ chế tạo ra các ý nghĩa hμm ẩn cố ý 54

V ư Phân loại tiền giả định 59

Phụ lục 67

Trang 4

Lời nói đầu

"Ngữ dụng học nghiên cứu việc sử dụng ngôn ngữ của người nói, việc sử dụng nμy không thể lí giải được bằng các lí thuyết ngữ nghĩa học tiền dụng học cũng như không thể lí giải được chỉ bằng những tri thức về ngôn ngữ tách riêng (nói đúng hơn lμ bằng những hiểu biết về ngôn ngữ tiền dụng học) Theo một cách hiểu hẹp hơn, ngữ dụng học quan tâm tới việc người nghe lμm thế nμo mμ nắm bắt được cái ý nghĩa mμ người nói có ý định nói ra Theo nghĩa rộng nhất, nó quan tâm tới những nguyên tắc chung chi phối sự giao tiếp giữa người với người."

Trên đây lμ định nghĩa của Jean Aitchison(1)về ngữ dụng học Ngữ dụng học lμ một ngμnh học mới của ngôn ngữ học, với nó, ngôn ngữ học đã vượt ra khỏi cái tháp ngμ của quan điểm cấu trúc luận nội tại để đi vμo cuộc sống Mặc dầu được giới thiệu vμo Việt Nam chưa bao lâu nhưng hiện nay ngữ dụng học đã thu hút được sự chú ý của nhiều nhμ Việt ngữ học, được đưa vμo giảng dạy trong các trường đại học, ở bậc Cao học vμ đã có những luận án Thạc sĩ đầu tiên lấy những đề tμi thuộc ngữ dụng Quan trọng hơn, những quan niệm vμ những khái niệm bước đầu về ngữ dụng đã được đưa vμo giảng dạy ở chương trình Tiếng Việt thực nghiệm phân ban Khoa học xã hội

Cuốn sách nμy được viết ra, đơn giản hơn vμ gần với thực tiễn sử dụng tiếng Việt hơn so

với phần Dụng học trong cuốn Đại cương ngôn ngữ học nhằm cung cấp một tμi liệu giảng dạy

môn học nμy ở bậc Đại học, lμm tμi liệu tham khảo cho các học viên cao học vμ các nghiên cứu sinh ngμnh Lí luận ngôn ngữ Nó cũng có thể lμ một tμi liệu phục vụ cho việc bồi dưỡng giáo viên Trung học phổ thông , cung cấp cho các thầy giáo, cô giáo cấp học nμy có vốn hiểu biết về ngữ dụng học cần thiết để dạy tốt phần Tiếng Việt trong cấp học mμ mình phải đảm

đương

Cuốn sách chắc chắn chưa phản ánh một cách tương đối đầy đủ những thμnh tựu hiện nay

về ngữ dụng học trên thế giới vμ còn nhiều thiếu sót Rất mong sự đóng góp ý kiến của các bạn đọc

Tác giả

(1) Jean Aitchison, Linguist c s Hodder & Stoughton, London Sydney Auckland, 1992

Trang 5

Mở đầu: khái quát về ngữ dụng học

I ư ngữ dụng học lμ gì ?

1 Giả định chúng ta có câu sau đây :

Tiến tặng Mai cuốn "Tắt đèn"

Nghe câu nói đó, liệu chúng ta có dám bảo đảm rằng chúng ta đã hiểu đúng đắn nó chưa ?

Có thể trả lời rằng chưa nếu như chúng ta không nắm được ít ra lμ những hiểu biết sau đây : a) Câu nói nμy do ai nói ra ? Nói trong hoμn cảnh nμo, vì sao lại nói nó ra ? Nói ra để nhằm mục đích gì ?

b) Tiến lμ ai ? Mai lμ ai ? Quan hệ Tiến ư Mai như thế nμo vμ quan hệ giữa người nói câu

đó với Tiến vμ Mai ra sao ? Nếu như câu nói đó do Tiến nói ra (trường hợp nμy thì Tiến lμ ngôi thứ nhất vμ lμ chủ ngữ) thì ý nghĩa của nó thế nμo ? Nếu như nó do Mai nói ra (trong trường hợp nμy thì Mai lμ ngôi thứ nhất, ngôi nói đóng vai nói nhưng về quan hệ cú pháp thì lμ bổ ngữ vμ lμ tham thể thụ hưởng) thì ý nghĩa ra sao ?

c) Câu nói nμy được nói ra để trả lời cho câu hỏi nμo trong các câu hỏi sau đây :

ư Tiến lμm gì ?

ư Ai tặng Mai cuốn "Tắt đèn" ?

ư Tiến tặng cho ai cuốn "Tắt đèn" ?

ư Tiến tặng cho Mai cái gì ?

Khi câu đó được dùng để trả lời cho từng câu hỏi trên thì ý nghĩa của nó có khác nhau không ? Khác nhau như thế nμo ?

d) Bây giờ so sánh câu nói trên với các câu sau đây :

ư Chính Tiến tặng cho Mai cuốn "Tắt đèn"

ư Chính Mai được Tiến tặng cuốn "Tắt đèn"

ư Chính cuốn "Tắt đèn" được Tiến tặng cho Mai

thì giữa nó vμ các câu sau có gì đồng nhất ? Có gì khác biệt về ý nghĩa ?

Ví dụ trên đây cho ta thấy được những hạn chế của việc nghiên cứu vμ giảng dạy ngôn ngữ, đặc biệt lμ dạy cú pháp theo quan điểm độc lập với ngữ cảnh, có nghĩa lμ dạy câu (câu

đơn, câu ghép, cả dạy văn bản nữa) không tính đến các điều kiện trong đó nó được tạo ra vμ

được hiểu Đó lμ quan điểm nghiên cứu vμ giảng dạy ngôn ngữ tiền ngữ dụng Những hiểu biết

được nêu ra dưới dạng các câu hỏi a, b, c, d cần thiết để hiểu đúng đắn ý nghĩa của câu "Tiến

tặng Mai cuốn "Tắt đèn"." lμ những hiểu biết về các điều kiện ngữ dụng của việc tạo ra vμ lĩnh

hội nó

2 Ngôn ngữ vμ ngữ cảnh

Những lời được nói ra hoặc được viết ra khi chúng ta giao tiếp với nhau được gọi lμ ngôn

bản (discourse ư có thể dịch lμ diễn ngôn) Trong một hoạt động giao tiếp, loại trừ ngôn bản

Trang 6

ra, các nhân tố tham gia vμo hoạt động giao tiếp được gọi chung lμ ngữ cảnh Ngữ cảnh bao gồm những hiểu biết về :

a) Nhân vật giao tiếp Nhân vật giao tiếp được chia thμnh vai nói (vai phát) vμ vai nghe

(vai nhận)

b) Hiện thực được nói tới Đó lμ những hiện thực trong thực tế khách quan bên ngoμi con

người hoặc những hiện thực thuộc con người, thuộc nội tâm con người kể cả nội tâm vai nói, vai nghe Nó cũng có thể lμ chính ngôn ngữ vμ các hμnh động ngôn ngữ hay bản thân cuộc giao tiếp bằng ngôn ngữ

Cũng nên phân biệt hiện thực có thực vμ hiện thực hư cấu, bao gồm hiện thực ảo tưởng trong các truyện cổ tích, thần thoại hay các huyền thoại hiện đại

Hiện thực được nói tới lμ hệ quy chiếu Có thể nói ngôn bản chỉ có nghĩa khi chúng ta đối

chiếu nói với hệ quy chiếu của nó Ví dụ câu nói : "Bác thợ săn mổ bụng sói ra cứu được bμ

cháu Cô bé quμng khăn đỏ Cô bé vươn vai nói : gớm ở trong ấy tối tối lμ." sẽ lμ vô lí nếu đối

chiếu với hiện thực nhưng chúng ta thấy nó tự nhiên bởi vì chúng ta biết rằng nó được viết trong truyện cổ tích

Hiện thực được nói tới khi đi vμo ngôn bản trở thμnh thế giới của ngôn bản (univers du discours) Hiện thực được nói tới được phản ánh vμo ngôn bản (hay được xây dựng lại trong ngôn bản) thμnh thế giới ngôn bản

c) Hoμn cảnh giao tiếp Hoμn cảnh giao tiếp được chia thμnh :

ư Hoμn cảnh giao tiếp rộng, bao gồm những hiểu biết về lịch sử, xã hội, văn hoá, thời đại,

kinh tế, chính trị, của cộng đồng ngôn ngữ trong đó cuộc giao tiếp đương diễn ra

ư Hoμn cảnh giao tiếp hẹp, bao gồm những hiểu biết vμ cách ứng xử về nơi chốn cụ thể

trong đó cuộc giao tiếp đang diễn ra như trong chùa, trong lớp học, ở quán nước,

d) Hệ thống tín hiệu ư trong trường hợp của chúng ta lμ ngôn ngữ, được sử dụng để tạo

nên ngôn bản Cần chú ý đến đặc tính của kênh giao tiếp : kênh thính giác, thị giác, xúc giác, khứu giác qua đó mμ các tín hiệu được truyền đi Trong trường hợp ngôn ngữ thì hiểu biết về phong cách ngôn ngữ vμ thể loại ngôn bản (văn xuôi hay văn vần, ) cũng ảnh hưởng không nhỏ đối với ngôn bản Có những lối dùng từ, đặt câu chỉ chấp nhận được khi ta biết nó thuộc lối nói thông thường hay lμ lối nói nghệ thuật, thuộc thơ hay văn xuôi

Cần nhắc lại, nói đến ngữ cảnh lμ nói đến những hiểu biết : hiểu biết về những yếu tố tạo nên ngữ cảnh vμ hiểu biết về cách ứng xử trong từng kiểu ngữ cảnh Ngữ cảnh có thể lμ một (như trò chuyện trước bμn thờ Phật) nhưng do hiểu biết khác nhau nên người ta vẫn có thể nói năng thμnh kính, nhẹ nhμng hay ồn μo, thô lỗ khác nhau Những người tâm thần tuy trong cùng một ngữ cảnh nhưng do không còn hiểu biết về ngữ cảnh nữa nên nói năng không ăn nhập gì với ngữ cảnh

Ngoμi khái niệm ngữ cảnh, còn có khái niệm tình huống giao tiếp Tình huống giao tiếp lμ trạng thái trực tiếp do tác động tổng hợp của các nhân tố giao tiếp trong một cuộc giao tiếp cụ thể mμ có Ví dụ, cuộc giao tiếp diễn ra trong tình huống mμ nhân vật giao tiếp rảnh rỗi, cần thư giãn, đang vui vẻ hay cáu kỉnh, cuộc giao tiếp diễn ra đã lâu hay mới bắt đầu, giữa môi trường ầm ĩ tiếng xe cộ hay yên tĩnh,

Trang 7

Ngữ cảnh sẽ tác động đến giao tiếp, đến ngôn bản thông qua tình huống Nói chung, các nhân tố của ngữ cảnh tác động lẫn nhau, điều chỉnh lẫn nhau vμ cùng tác động đến ngôn bản cả về hình thức vμ nội dung Ngôn bản không chỉ do vai nói quyết định (kể cả các nhμ văn khi sáng tác) mμ chịu ảnh hưởng sâu sắc, có khi không ý thức, của ngữ cảnh

Đọc đoạn văn đối thoại sau đây :

A (người mua gạo) ư ối trời ơi, chen chi mμ khiếp quá !

B (mậu dịch viên) ư Đề nghị mọi người dãn ra một chút, tôi nhức đầu quá

A ư Chị gọi thật to vμo, ồn lắm, ở dưới nμy chúng tôi chẳng nghe thấy gì sất

B ư Nguyễn Thị Bích Số mười tám đâu ?

A ư Vâng Tôi đây

B ư Ba tư kg hết tám đồng ba hμo Tiền đâu ?

A ư Đây Chị trả lại

B ư Xong Cầm lấy sổ, tích kê, sang kia xúc gạo

A ư Chị ơi, số mười tám Chị cân giúp

B ư Xúc gì mμ tham thế Xúc thật nhiều ra

Thực ra giao tiếp trước hết lμ giao tiếp miệng Ngữ cảnh, trong giao tiếp miệng lμ động chứ không phải lμ tĩnh Cả giao tiếp bằng văn bản cũng thế Các nhân tố ngữ cảnh không giữ

nguyên, bất biến trong quá trình giao tiếp Hiểu biết về ngữ cảnh có thể thay đổi trong khi giao tiếp, quan hệ giữa các vai cũng vậy, cho nên ngữ cảnh vận động theo giao tiếp Trong sách

Tiếng Việt 10 ban Khoa học xã hội có trích đoạn thoại Hμn ư Tơ(1) Đọc lại đoạn đó chúng ta

sẽ thấy ngữ cảnh thay đổi như thế nμo vμ sự thay đổi đó đã ảnh hưởng đến lời nói của Tơ vμ Hμn như thế nμo

Cuối cùng lμ khái niệm ngôn cảnh Ngôn cảnh, đối với một câu hay một đơn vị nμo đó lμ những câu tiền văn vμ hậu văn Còn đối với cả văn bản lμ những văn bản khác có trước vμ có

sau nó Ví dụ, ngôn cảnh của bμi thơ Tiếng thu của Lưu Trọng Lư lμ các bμi thơ về mùa thu

trước nó vμ sau nó (đó lμ căn cứ để các nhμ nghiên cứu nói đến tính liên văn bản của một văn bản) Còn đối với lời nói trong một cuộc hội thoại thì ngôn cảnh lμ những lời nói trước một lời

(1) Xem phần trích dẫn ở cuối sách

Trang 8

đang xem xét Về nguyên tắc, trừ trường hợp ghi âm một cuộc hội thoại từ đầu cho đến lúc kết thúc, ngôn cảnh của một lời chỉ lμ những lời nói (vμ cách nói ư các hμnh động ngôn ngữ) trước

đó Ngôn cảnh trong hội thoại chỉ có tiền ngôn cảnh Bởi cuộc hội thoại đang tiếp diễn nên chúng ta chưa biết (dù có thể dự đoán) người hội thoại với ta sẽ nói gì cho nên ngôn cảnh trong hội thoại thường không có hậu ngôn cảnh

Vì chúng ta xem văn bản lμ biến thể dạng viết của ngôn bản cho nên có thể dùng thuật ngữ văn cảnh chỉ ngôn cảnh của một đơn vị trong văn bản Văn cảnh lμ một biến thể dạng viết của ngôn cảnh

3 Các thμnh phần nội dung của ngôn bản

Nội dung miêu tả vμ nội dung liên cá nhân (interpersonnel)

3.1 Các chức năng của giao tiếp vμ đích của ngôn bản

Giao tiếp lμ một hoạt động xã hội bằng ngôn ngữ bằng tiếng Việt Nó lμ một hoạt động đa kênh Đặc biệt khi chúng ta giao tiếp bằng lời ư tức hội thoại với nhau thì ngoμi kênh thính giác, chúng ta còn dùng kênh thị giác (điệu bộ, cử chỉ, nét mặt, vị trí ngồi, dáng điệu của cơ thể) cả kênh khứu giác ư nước hoa chẳng hạn, cả kênh vị giác : mời hút thuốc, uống nước trμ, uống bia rượu, cả kênh xúc giác : bắt tay, vỗ vai, Nói khác đi, trong giao tiếp, bên cạnh ngôn bản bằng lời còn có các ngôn bản phi lời, các ngôn bản kèm ngôn ngữ Trong giao tiếp bằng lời, ngôn bản bằng lời vμ ngôn bản kèm ngôn ngữ đồng thời diễn ra, hỗ trợ cho nhau để thực hiện các chức năng của giao tiếp, để cuộc giao tiếp đạt hiệu quả, tức đạt đích mong muốn

Giao tiếp có những chức năng sau đây :

a) Thông tin, còn gọi lμ thông báo Theo chức năng nμy chúng ta qua giao tiếp đem đến

cho nhau những hiểu biết có tính chất trí tuệ, lí tính về hiện thực được nói tới Qua giao tiếp, vai nói vμ vai nghe có được những nhận thức mới mμ về nguyên tắc trước khi trò chuyện họ chưa có

b) Tạo lập quan hệ Qua giao tiếp, vai nói, vai nghe hình thμnh những quan hệ (hoặc mất

đi những quan hệ) trước đó chưa có Cuộc thoại Hμn ư Tơ đã hình thμnh nên quan hệ luyến ái

giữa hai người Ngược lại, cuộc thoại mμ ông Tham cố tình dựng nên trong truyện ngắn Mất

cái ví (Nguyễn Công Hoan, trích theo Văn học 11) đã cắt đứt quan hệ cậu ư cháu giữa ông

Tham vμ ông cậu của mình Có những cuộc hội thoại người ta không nói cho nhau những thông tin mới, mμ nói những điều cả vai nói, vai nghe đều đã biết Lúc nμy người ta nói để lμm quen, nói để giữ cho được quan hệ hay để hình thμnh quan hệ còn nói cái gì lμ rất phụ

c) Biểu hiện, trong khi trò chuyện vai nói bộc lộ một cách vô tình hay hữu ý đặc điểm của

mình, sở thích, mặt mạnh hay yếu của mình, bộc lộ nguồn gốc địa phương của mình Có khi anh ta trực tiếp bộc lộ trạng thái tâm lí của mình bằng lời than thở Qua lời nói anh ta có thể bộc lộ tình cảm, thái độ, cách đánh giá của mình về hiện thực được nói tới hay với người cùng

hội thoại với mình Trong truyện Chí Phèo, Thị Nở đã biểu hiện sự đánh giá của mình về Chí

Phèo trong lời đối thoại nội tâm (interior dialogue) sau đây :

ư Gớm ! Sao lại có thứ người đâu mμ lì quá thế !

d) Giải trí : chúng ta trò chuyện với nhau không hiếm khi lμ để tiêu khiển, để giải toả

những căng thẳng, để thư giãn Chuyện phiếm, tán gẫu (đấu hót) lμ một cách giải trí tiện lợi vμ

Trang 9

không tốn kém nhất trong những hình thức giải trí mμ con người cần đến (dĩ nhiên đừng lạm dụng, đừng lợi dụng những cuộc chuyện phiếm để trốn việc cơ quan hay để nói xấu nhau) Bốn chức năng trên thường được thực hiện đồng thời, thống hợp (intégrées, intergrated) trong giao tiếp vμ trở thμnh đích của giai tiếp Đích của giao tiếp được cụ thể hoá thμnh đích của các ngôn bản trong giao tiếp

3.2 Các thμnh phần nội dung của ngôn bản

Ngôn bản có hình thức vμ nội dung Trở lại hai câu :

<1> ư Tiến tặng Mai cuốn "Tắt đèn"

<2> ư Chính Tiến tặng Mai cuốn "Tắt đèn"

vμ các câu như :

<3> ư Mai được Tiến tặng cuốn "Tắt đèn"

<4> ư Chính Mai được Tiến tặng cuốn "Tắt đèn"

Các câu nμy có cùng nội dung phản ánh hiện thực, chúng đều nói tới sự kiện, một người tên lμ Tiến (thường lμ đμn ông) cho một người tên lμ Mai (thường lμ đμn bμ) lμm của riêng một cách trân trọng vμ thân mật một cuốn sách mμ đã lμ người Việt Nam có học đều biết lμ của nhμ văn Ngô Tất Tố viết trước 1945 Tuy nhiên, ngoμi cái nội dung phản ánh hiện thực đó, mμ

ta gọi lμ nội dung miêu tả (hay nội dung sự vật, nội dung tái hiện, phản ánh hiện thực ư sens descriptif, représer ationnel, référentiel) còn gọi lμ nội dung mệnh đề, nội dung biểu niệm (sens propositionnel, idéationnel) còn có thêm những nội dung sau đây :

ư Khẳng định rằng Tiến đã lμm một việc gì đó nếu như nó được dùng để trả lời cho câu hỏi : Tiến lμm gì ?

ư Khẳng định Mai lμ người được hưởng kết quả hμnh động "tặng" của Tiến nếu nó trả lời

câu hỏi : Tiến tặng ai cuốn "Tắt đèn "?

ư Khẳng định cuốn Tắt đèn lμ vật mμ Tiến tặng cho Mai nếu nó trả lời câu hỏi : Tiến tặng

Câu <2> ngoμi việc cùng nội dung miêu tả với câu <1> cùng ý khẳng định rằng Tiến tặng

mai cuốn Tắt đèn, còn thêm ý nghĩa sau đây : trước hết nó lμ câu xuất hiện một cách bắt buộc

sau một lời của một người nμo đó vμ người đó tỏ ra còn hồ nghi về hμnh động của Tiến hoặc

hồ nghi về sự thông báo rằng Tiến tặng Mai

Các câu <3> vμ <4> cũng cùng một nội dung sự vật như <1> vμ <2>, có điều ở hai câu nμy, tham thể thụ hưởng Mai được xem lμ điểm xuất phát của thông báo ý nghĩa khẳng định giữa <3> vμ <4> cũng khác nhau như ta đã phân tích sự khác nhau giữa <1> vμ <2>

Các ý nghĩa khẳng định, các ý nghĩa liên quan tới vị trí của câu trong ngôn cảnh vμ các ý nghĩa biểu hiện, ý nghĩa giải trí, ý nghĩa tạo lập quan hệ cùng xuất hiện đồng thời với ý nghĩa

Trang 10

miêu tả hợp thμnh ý nghĩa hay nội dung liên cá nhân của thông điệp Nói tổng quát, nội dung liên cá nhân lμ nội dung đi kèm với nội dung miêu tả, có khi lμ nội dung chủ yếu của câu Nói cách khác ý nghĩa thực sự của một câu, một phát ngôn lμ thể thống nhất giữa nội dung miêu tả

vμ nội dung liên cá nhân Không một câu nμo trong thực tế giao tiếp lại chỉ thuần tuý có nội dung thực sự của câu, của lời Đây lμ nói về câu, lời thực có trong giao tiếp, không phải lμ các câu mμ nhμ nghiên cứu hoặc sách giáo khoa thường "đặt" ra để minh hoạ cho mô hình của mình

Khi đặt câu vμo thực tế giao tiếp thì có một câu hỏi đặt ra lμ : Thế nμo lμ hiểu một câu,

căn cứ vμo đâu để xác định nghĩa thực sự của câu ? Câu trả lời lμ : Hiểu nghĩa thực sự của một câu có nghĩa lμ ứng xử một cách đúng đắn, chấp nhận được theo những chuẩn tắc của ngôn ngữ vμ của một nền văn hoá nhất định, thể hiện qua những câu hỏi đáp của mình đối với câu đang xem xét hay thể hiện qua những câu mμ chúng ta có thể nối kết sau câu đang xem xét thμnh một ngôn bản hay văn bản chấp nhận được Bởi vậy, căn cứ để xác định vμ để thử

nghiệm nghĩa của câu đang xem xét lμ sự ứng xử của người tiếp nhận nó sau khi nghe nó Giả

định chúng ta đưa ra một bμi tập như sau : Hãy viết thêm các câu sau hai câu :

ư Tiến tặng Mai cuốn "Tắt đèn"

ư Chính Tiến tặng Mai cuốn "Tắt đèn"

sao cho thμnh một đoạn văn có tính liên kết

Chắc chắn rằng có những câu chỉ có thể đi sau <2> mμ không thể đi sau <1> vμ ngược lại Hướng phát triển <1> vμ <2> thμnh một ngôn bản hay văn bản do nội dung liên cá nhân khác nhau của chúng quyết định

Nội dung liên cá nhân của một câu hay một ngôn bản thường đa loại vμ phức tạp, chúng ít nhiều được thể hiện bằng những dấu hiệu nhất định trong mặt hình thức của câu

Nếu như nội dung miêu tả của câu lμ do quan hệ giữa câu với hiện thực được nói tới quyết

định, lμ kết quả của sự phản ánh hiện thực được nói tới vμo ngôn bản thì nội dung liên cá nhân

lμ do các nhân tố nhân vật giao tiếp, do hoμn cảnh vμ do chính hoạt động giao tiếp đang diễn

ra quyết định Trong các nhân tố đó, cần đặc biệt chú ý tới nhân tố văn hoá Khi ông Tham

trong truyện Mất cái ví nói :

ư Hôm nay phiên chợ Đồng Xuân, mời ông lên chơi chợ

mμ ông cậu cμng thêm tức, cho rằng ông Tham nói cạnh mình lμ kẻ cắp, thì có nghĩa lμ ông cậu đã lí giải câu nói của ông Tham theo lối nói cạnh khoé thường gặp ở lời ăn tiếng nói của người Việt Nam vμ đã xuất phát từ hiện tượng xã hội phổ biến thời đó : kẻ cắp chợ Đồng Xuân

Khi Hμn nghe Tơ hỏi về cô Hán em của mình :

ư Thưa cậu cô Hán đi đâu ạ ?

Mμ suy ra ý nghĩa liên cá nhân : "Hμn hiểu ý Tơ ngỏ một cách kín đáo, muốn để em gái

hắn ra đánh chó cho." thì cũng đã dựa vμo các chuẩn tắc ngôn ngữ Việt Nam thông thường vμ

dựa vμo tập quán Việt Nam : nam nữ mới gặp nhau lần đầu thì tránh đứng riêng với nhau, sợ thiên hạ dị nghị vμ người con gái sợ bị con trai coi thường

Trang 11

4 Định nghĩa ngữ dụng học

Căn cứ vμo những điều nói trên có thể định nghĩa ngữ dụng học như sau : Ngữ dụng học lμ một lĩnh vực nghiên cứu mới của ngôn ngữ học, nghiên cứu quan hệ giữa ngôn ngữ vμ các sản phẩm của ngôn ngữ với ngữ cảnh, đặc biệt với nhân vật, với hoμn cảnh giao tiếp vμ với các hoạt động giao tiếp thực sự của ngôn ngữ trong xã hội Theo định nghĩa nμy thì các nhân tố ngữ dụng lμ một bộ phận không thể tách rời trong cấu trúc hình thức vμ nội dung của các yếu

tố trong hệ thống ngôn ngữ (trong hình vị, trong từ, trong các kiểu câu) vμ của các ngôn bản

Sự hoạt động của ngôn ngữ trong giao tiếp cũng lμ một bộ phận của ngữ dụng học

Ngữ dụng học quan tâm trước hết đến nội dung liên cá nhân vμ đến cách thức phản ánh hiện thực được nói tới thμnh nội dung miêu tả của ngôn bản Các nhân tố ngữ dụng học có mặt khắp nơi trong ngôn ngữ vμ trong hoạt động ngôn ngữ Không thể hiểu được đầy đủ các yếu tố của ngôn ngữ, không thể lí giải một cách thoả đáng các ngôn bản nếu không tính đến các nhân

tố ngữ dụng thống hợp với các nhân tố thuộc cấu trúc của ngôn ngữ Cần nhắc lại : không lí giải được đúng ngôn bản tức lμ không ứng xử được thích hợp trong giao tiếp

Có định nghĩa cho rằng, ngữ dụng học nghiên cứu cách sử dụng ngôn ngữ, cụ thể hơn nghiên cứu cách sử dụng các câu trong ngữ cảnh Hiểu như thế lμ gián tiếp cho rằng ngôn ngữ, câu độc lập với ngữ cảnh ; ngôn ngữ, câu tồn tại ngoμi ngữ cảnh Khi giao tiếp, người ta vận dụng chúng vμo các ngữ cảnh thích hợp Định nghĩa của cuốn sách nμy bác bỏ quan niệm đó Ngữ dụng có mặt trong ngôn ngữ, trong câu Không có câu nμo mμ không chịu sự chi phối của các yếu tố ngữ dụng

4 Lí thuyết hội thoại

5 Nghĩa tường minh (hiển ngôn) vμ hμm ẩn (hμm ngôn)

Tμi liệu nμy sẽ lần lượt giới thiệu một cách vắn tắt các bộ phận nói trên

Trang 12

Chương I: chiếu vật vμ chỉ xuất

I ư chiếu vật lμ gì ?

Từ trong hệ thống ngôn ngữ có ý nghĩa biểu vật ý nghĩa biểu vật của từ lμ loại sự vật, người, hμnh động, tính chất rất chung chưa cụ thể hoá Trong ngôn bản từ phải ứng với một sự vật, hμnh động, tính chất vμ trạng thái cụ thể vμ cá thể Chúng ta nói chiếu vật lμ sự tương ứng giữa từ (vμ mở rộng ra lμ giữa các đơn vị ngôn ngữ) với các sự vật, người, hoạt động, trạng thái, trong hiện thực được nói tới Có những câu nếu chúng ta không nắm được cái sự vật mμ

từ ngữ trong câu quy chiếu thì ta vẫn chưa hiểu được nghĩa thực sự của câu đó Ví dụ :

<1> ư Con mèo mμu xanh

<2> ư Hôm nay mưa

Câu <1> chỉ có ý nghĩa nếu từ mèo có ý nghĩa chiếu vật lμ con mèo đồ chơi hay bằng sμnh, bằng sứ Nó sẽ vô nghĩa nếu nghĩa chiếu vật của mèo lμ con mèo sinh vật hay bắt chuột Cũng tương tự, câu <2> chỉ xác định được nghĩa nếu chúng ta xác định được từ hôm nay chiếu

vật ngμy nμo cụ thể Câu :

Anh đi Hμ Nội hôm qua rồi

có những nghĩa khác nhau nếu anh ứng với ngôi thứ nhất (vai nói) hay ngôi thứ hai (vai nghe)

hay ứng với ngôi thứ ba (người được nói tới trong ngôn bản)

II ư các dạng chiếu vật

1 Chiếu vật vμ hiện thực được nói tới

Nói chiếu vật lμ nói tới hiện thực được nói tới Nghĩa chiếu vật của một từ lμ một sự vật (hay hoạt động, tính chất, ) thuộc thế giới hiện thực có thực hay thuộc thế giới ảo tưởng Một

từ ngữ có nghĩa chiếu vật chấp nhận được trong hiện thực nμy nhưng vô nghĩa nếu quy chiếu với hiện thực khác Vì thế ở trên chúng ta mới nói hiện thực được nói tới lμ hệ quy chiếu của ngôn bản Từ hệ quy chiếu mμ từ ngữ, câu rút được ý nghĩa của mình

Tuy nhiên, ngay một thế giới hiện thực nhất định (hiện thực thực hay hiện thực ảo tưởng) lại có những phạm vi hiện thực khác nhau do đó từ ngữ có nghĩa chiếu vật nμy trong phạm vi nμy, nhưng có nghĩa chiếu vật khác trong phạm vi hiện thực khác Ví dụ, câu <1> ở trên, có nghĩa chiếu vật chấp nhận được trong phạm vi đồ vật nhân tạo, trái lại không chấp nhận được trong phạm vi thế giới động vật mặc dầu đồ vật nhân tạo vμ thế giới động vật đều thuộc hiện thực có thật

Các câu sau đây :

ư Lμn da tư duy vμ tìm cách biểu hiện

ư Khi cánh tay nói, khi cặp chân suy nghĩ, khi các ngón tay trò chuyện với nhau không cần mọi thứ trung gian

Trang 13

sẽ rất quái gở nếu quy chiếu chúng với phạm vi da, tay, chân trong cơ thể sinh lí của con

người Nhưng chúng sẽ rất hay nếu chúng ta biết rằng hệ quy chiếu của chúng lμ nghệ thuật vũ

ba lê ; da, tay, chân ở đây lμ các phương tiện biểu hiện của nghệ thuật đó

Gặp một câu bất thường, đừng vội kết luận lμ nó quái gở hay không Trước hết phải tìm

được hệ quy chiếu của nó, tức lμ tìm được nghĩa chiếu vật của nó Từ ngữ trong văn bản văn học nói chung có nghiều nghĩa Đó lμ do trước hết chúng có nhiều nghĩa chiếu vật vμ ứng với một số hệ quy chiếu khác nhau

2 Chiếu vật cá thể vμ chiếu vật loại

Trong ngôn bản, từ ngữ có thể ứng với một sự vật (người, hμnh động, tính chất, ) cá thể,

cụ thể Đó lμ nghĩa chiếu vật cá thể Chúng có thể ứng với cả loại sự vật như trong các câu :

Mèo lμ động vật ăn thịt

Người khôn hơn loμi vật

các từ mèo, người có nghĩa chiếu vật loại

Cần lưu ý, không phải chỉ các danh từ mới có nghĩa chiếu vật Các tính từ, động từ cũng

có nghĩa chiếu vật cá thể hay chiếu vật loại

3 Nghĩa chiếu vật của các đơn vị lớn hơn từ

ở trên chúng ta nói chủ yếu nghĩa chiếu vật của từ Nghĩa chiếu vật không chỉ hạn chế trong

từ mμ cả một câu, một văn bản cũng có nghĩa chiếu vật ở cuốn Tiếng Việt 10 ư sách thực nghiệm phân ban KHXH, chúng ta đã nói đến tính đa chiếu vật của các bμi thơ như bμi Bánh

trôi nước, bμi Vịnh con sấu đá

Chúng ta đã biết qua chiếu vật mμ ngôn bản gắn với ngữ cảnh cho nên chiếu vật lμ phương diện đầu tiên của ngữ dụng Chúng ta cũng biết rằng trong ngôn ngữ chỉ có cái chung, vậy lμm thế nμo mμ ngôn bản có thể cho ta biết các đơn vị của nó hay chính nó ứng với sự vật, hiện tượng nμo, có nghĩa chiếu vật nμo ? Bμn đến vấn đề nμy lμ bμn đến các phương thức chiếu vật trong ngôn bản Có những phương thức chiếu vật như sau :

1 Dùng danh từ riêng

Các danh từ riêng lμ những tên gọi cá thể của từng sự vật cá thể như Hồ Chí Minh, Việt

Nam Do đó trong ngôn bản, khi đưa ra một danh từ riêng lμ chúng ta đã biết ngay sự vật cá

thể nμo được nói đến rồi Tất nhiên, tên người, tên các lμng xã, có thể trùng Thường thì nhờ ngữ cảnh, sự trùng tên không gây nên trở ngại cho chiếu vật Tuy nhiên, để khắc phục hiện

tượng trùng tên, chúng ta có thể thêm tiểu danh sau tên riêng chính thức như Tuấn kính, Lan

Chích choè

2 Dùng miêu tả xác định

Như đã biết, trong hệ thống từ vựng, các từ có nghĩa biểu vật loại, khái quát Trong ngôn

bản, một từ như mèo chưa cho ta biết nó ứng với con mèo nμo đang được nói tới Lúc nμy,

thường phải dùng đến cách nêu ra những đặc điểm riêng của con mèo đang được nói tới để

Trang 14

phân biệt nó với các con mèo khác, như "con mèo nhμ ông Dư", "con mèo cụt đuôi", "con mèo

tam thể", Đó lμ phương thức chiếu vật bằng miêu tả xác định Miêu tả xác định được thực

hiện bằng định ngữ nếu lμ danh từ chiếu vật, bằng các trạng từ nếu cần xác định nghĩa chiếu vật của động từ hay tính từ

3 Dùng chỉ xuất

Chỉ xuất có nghĩa lμ dùng những phương tiện ngôn ngữ sẵn có để tách vật được quy chiếu

khỏi các cá thể trong cùng loại Chỉ xuất được thực hiện bằng con đường định vị Định vị có nghĩa lμ chỉ rõ vị trí không gian vμ thời gian của sự vật, sự kiện, hiện tượng được nói tới Định

vị không gian vμ thời gian bao giờ cũng phải có toạ độ mốc, toạ độ chuẩn Toạ độ đó lμ không gian vμ thời gian trong đó cuộc hội thoại đang diễn ra Chúng ta sẽ gọi sự định vị lấy không gian, thời gian hội thoại lμm mốc lμ định vị chủ quan Có những cách định vị sau đây :

a) Định vị xưng hô

Đây lμ lối định vị vai nói, vai nghe mμ vai nói được lấy lμm mốc "Tôi người Hμ Nội.", nếu chúng ta không biết tôi lμ ai thì câu nói đó chưa biết đúng hay sai Tôi bao giờ cũng lμ người nói, khi dùng từ tôi lμ người nói tự quy chiếu Lấy vai nói lμm mốc thì vai nghe đang tham gia vμo cuộc hội thoại với tôi sẽ lμ ngôi thứ hai Còn người được cả vai nói, vai nghe biết

vμ được đưa vμo ngôn bản lμ ngôi thứ ba Trong nhiều ngôn ngữ định vị xưng hô được thực hiện bằng các đại từ xưng hô Tuy nhiên cần phân biệt đại từ xưng hô với các phương tiện xưng hô để định vị trong hội thoại Tiếng Việt vì hệ thống đại từ có nhiều hạn chế nên để chỉ

ngôi thứ hai có các cách dùng các danh từ chỉ người có quan hệ họ hμng, gia đình, như cậu,

bố, mẹ, ông, chú, hoặc các cách gọi bố thằng Tí, má sắp nhỏ, để thay thế

b) Định vị không gian chủ quan

Vai nói có thể chiếu vật bằng cách dùng một danh từ chung hoặc một cụm danh từ miêu tả

xác định kèm theo các từ chỉ xuất không gian nμy, kia như : cái áo nμy, cái áo kia, cái áo

trắng kia, Định vị không gian thường nằm trong cặp đối lập gần / xa Gần lμ gần với vị trí

của vai nói khi nói Xa cũng lμ xa so với vị trí đó

c) Định vị thời gian chủ quan

Để định vị thời gian, chúng ta dùng các từ chỉ xuất thời gian như nay, qua, mai, năm

ngoái, ngμy kia, hôm sau, tháng sau, tuần nμy, thứ tư nμy, Thời gian lấy lμm căn cứ lμm mốc

để định vị thời gian khác vẫn lμ thời gian của cuộc hội thoại đang tiếp diễn, nói cho chính xác hơn lμ thời gian mμ vai nói nói lời của mình ra

4 Định vị theo nhận thức

Trong các ngôn ngữ như tiếng Pháp, tiếng Anh có các mạo từ xác định vμ mạo từ chưa xác

định Mạo từ xác định có nghĩa lμ các mạo từ đứng trước (hoặc sau) danh từ chỉ những sự vật,

sự việc, người mμ cả vai nói, vai nghe đã biết, đã được nói đến trong tiền ngôn bản Mạo từ chưa xác định được dùng với các danh từ chỉ sự vật mμ vai nghe chưa biết, lần đầu tiên được

đưa vμo ngôn bản Tương tự như vậy, ngôi thứ ba có tính chất như một mạo từ xác định bởi vì

nó quy chiếu với người, vật đã được vai nói, vai nghe biết, đã được nói đến trong tiền ngôn bản

Trang 15

Trong tiếng Việt, các từ chỉ xuất như ấy, đó, nọ, vậy, thế được dùng với sự vật, thời gian,

sự việc, người đã được vai nói, vai nghe biết Quyển sách ấy, ngμy hôm ấy, người đó (ngμy

hôm đó), lμ quyển sách, ngμy, người, mμ cả vai nói, vai nghe đều biết Đó lμ cách định vị

theo nhận thức Nắm được đặc điểm nμy, chúng ta mới bình giá được cách dùng thẩm mĩ của các từ chỉ xuất theo nhận thức nμy trong tác phẩm văn học như :

Người ấy thường hay vuốt tóc tôi

mặc dầu người ấy có thể chưa được nói tới ở tiền văn

5 Định vị khách quan

Sự kiện, sự vật diễn tiến vμ tồn tại một cách khách quan, không phụ thuộc vμo người miêu tả, tường thuật lại Chúng có thời gian vμ không gian độc lập, khách quan so với thời gian hội thoại Ví dụ công cuộc kháng chiến chống Mĩ diễn ra từ năm 1956 đến năm 1975 ở Việt Nam Thμnh phố Hồ Chí Minh ở phía nam nước Việt Nam, đó lμ thời gian, không gian khách quan Khi muốn chiếu vật một sự kiện, một sự vật nμo đó, chúng ta phải định vị chúng theo một mốc thời gian hay không gian nμo đấy rút từ cấu trúc thời gian vμ không gian khách quan của chúng Ví dụ, để tường thuật lại cuộc kháng chiến có thể lấy mốc 1968 rồi kể giật lùi vμ kể tiếp theo Để xác định một con đường trong thμnh phố Hμ Nội, chúng ta có thể lấy hồ Hoμn Kiếm lμm gốc Đó lμ cách định vị khách quan

Thực ra định vị theo nhận thức vμ định vị khách quan vẫn dựa vμo cách định vị chủ quan lấy thời gian vμ không gian hội thoại lμm căn cứ

6 Định vị trong ngôn bản

Như đã biết, một sự vật, sự việc, người có thể đã được nói tới trong ngôn bản Chúng ta có thể định vị nó trong những lời nói tiếp theo mμ không cần miêu tả xác định, không cần đến các phương thức định vị thời gian vμ không gian như đã nói trên Bằng các phép thế đại từ chúng ta có thể định vị sự vật, sự kiện theo ngôn bản

Định vị trong ngôn bản có hai dạng : dạng hồi chỉ, tức lμ định vị theo sự vật, sự việc đã nói trong tiền ngôn bản Dạng khứ chỉ lμ định vị theo những ngôn bản tiếp theo ngôn bản đang xem xét Ví dụ câu sau đây :

Về việc ấy, tôi có ý kiến như sau :

"Việc ấy" lμ định vị hồi chỉ "Như sau" lμ định vị khứ chỉ Thực ra định vị trong ngôn bản

lμ một biến thể của định vị theo nhận thức

Trang 16

Chương II: hμnh động (hμnh vi) ngôn ngữ

I ư Ngôn ngữ vμ hμnh động ngôn ngữ

Ngôn ngữ, như tiếng Việt chẳng hạn, lμ một hệ thống gồm những đơn vị có quan hệ quy

định lẫn nhau Nhưng ngôn ngữ hình thμnh vμ tồn tại được không phải chỉ để thμnh một hệ thống đứng yên Cũng như mọi hệ thống xã hội khác, lí do tồn tại của ngôn ngữ lμ để lμm công cụ thực hiện các chức năng hướng ngoại, chức năng phục vụ xã hội, trước hết lμ chức năng lμm công cụ giao tiếp mμ xã hội đã quy định cho nó Khi ngôn ngữ được vận dụng trong giao tiếp, chúng ta nói nó hμnh chức Ngôn ngữ hμnh chức khi con người nói năng bằng ngôn ngữ đó Nói năng lμ hμnh động, con người hμnh động bằng ngôn ngữ khi nói năng Ngôn ngữ

về bản chất lμ một dạng hμnh động của con người Ngôn ngữ học tiền dụng học, đặc biệt ngôn ngữ học cấu trúc luận, ngôn ngữ học được dạy trong các nhμ trường cho đến nay không thấy mặt hμnh động của ngôn ngữ

1 Hμnh động, hμnh động xã hội

Muốn sống được, con người như một sinh thể tự nhiên, chưa nói đến con người như một sinh thể xã hội, phải hμnh động ít ra con người phải ăn uống, phải đi lại, nghĩa lμ phải thực hiện những hμnh động đơn phương khác nhau

Tuy nhiên, chỉ hμnh động đơn phương thôi, con người cũng không thể tồn tại được Con người phải cùng nhau đồng thời thực hiện những hμnh động chung nμo đó, ví dụ cùng nhau xây cái nhμ, cùng nhau chữa một chiếc xe, dịch chuyển một cái tủ, cái giường Khi ít nhất có hai người cùng nhau thực hiện một hμnh động nhằm đạt một mục đích nμo đó, ta có một hμnh

động xã hội Đặc điểm của hμnh động xã hội lμ : ít nhất có hai người trở lên tham gia, hμnh

động đó có đích chung cho cả hai thμnh viên, vμ để đạt được đích, có nghĩa lμ để hμnh động xã hội đạt kết quả mong muốn thì các thμnh viên phải cộng tác với nhau Cộng tác lμ nguyên tắc cơ bản của hμnh động xã hội

Hμnh động lμ một thuật ngữ chung chỉ hoạt động tổng thể nhằm một đích chung Một

hμnh động tổng thể do những hμnh động bộ phận hợp thμnh Ví dụ một hμnh động đơn phương như đóng một cái đinh cũng ít nhất gồm các hμnh động bộ phận như sau : lấy đinh, lấy búa,

đặt đinh vμo vị trí cần đóng, cầm búa vμ nện vμo đầu đinh, Một hμnh động xã hội cũng được phân tách thμnh những hμnh động bộ phận như vậy

2 Hμnh động ngôn ngữ

Khi chúng ta giao tiếp với nhau, như đã biết, ít ra lμ phải có hai người, vai nói, vai nghe luân phiên nhau nói ư nghe Như thế giao tiếp lμ một dạng hμnh động xã hội của con người bằng ngôn ngữ

Trong các hoạt động xã hội bằng ngôn ngữ đó, vai nói có thể dùng ngôn ngữ để miêu tả một hiện thực nμo đó, để kể lại một sự việc nμo đó, để khẳng định một nhận xét nμo đó, để hỏi, để yêu cầu, khuyên nhủ, Miêu tả, kể (trần thuật, tự sự), khẳng định, hỏi, yêu cầu, khuyên nhủ, lμ những hμnh động bộ phận nằm trong hoạt động giao tiếp nói chung Khi miêu tả, kể, hỏi, yêu cầu, khuyên nhủ, lμ chúng ta hμnh động, chúng ta thực hiện những

Trang 17

hμnh động đơn phương trong lòng hoạt động xã hội tổng quát lμ giao tiếp Có thể tạm dùng thuật ngữ hμnh vi ngôn ngữ để chỉ những hμnh động bộ phận bằng ngôn ngữ nμy

II ư các loại hμnh động ngôn ngữ

Tiếp nhận những kiến giải của trường phái triết học phân tích Anh, Austin lμ người đầu tiên xây dựng những cơ sở cho lí thuyết hμnh động ngôn ngữ Austin chia các hμnh động ngôn ngữ thμnh ba nhóm lớn :

được nói ra Ví dụ trong lớp học, các học sinh đang cười đùa ầm ĩ Một em nói "Cô giáo đến

rồi." Các em thôi cười nói, chạy vội về chỗ ngồi của mình Em học sinh nói "Cô giáo đến rồi"

đã thực hiện một hμnh động mượn lời

3 Hμnh động ở lời (ngôn trung)

Lμ những hμnh động được thực hiện bằng chính lời nói, ngay trong lời nói vμ gây ra được

một hμnh động cũng bằng lời nói của người tiếp nhận Ví dụ khi tôi nói : "Tôi hứa với anh mai

tôi sẽ đến." lμ tôi đã thực hiện hμnh động ở lời hứa hẹn vμ người nghe khi nghe tôi hứa như

vậy sẽ phải đáp lại bằng lời ví dụ như "Vâng ! Tôi chờ anh đấy !"

Ngữ dụng học quan tâm chủ yếu đến các hμnh động ở lời

III ư hμnh động ở lời lμ biểu thức ngữ vi

1 Biểu thức ngữ vi

Biểu thức ngữ vi lμ những công thức nói năng mμ khi nói nó ra lμ ta nhằm thực hiện một hμnh động ở lời nμo đó Có những dấu hiệu giúp ta nhận ra hμnh động ở lời do biểu thức đó thực hiện Các dấu hiệu đó lμ kiểu kết cấu, ngữ điệu vμ những từ ngữ chuyên dụng Ví dụ biểu

thức ngữ vi "Anh có đi Hμ Nội không ?" có kiểu kết cấu " có không ?" kèm theo ngữ điệu

hỏi Nhờ các dấu hiệu nμy ta biết biểu thức nμy thực hiện hμnh động ở lời "hỏi" Cũng như

vậy, biểu thức ngữ vi "Anh đóng giùm cái cửa lại.", nhờ từ giùm chúng ta biết rằng người nói

thực hiện hμnh động ở lời yêu cầu (ra lệnh) một hμnh động ở người nghe Chúng ta gọi các dấu hiệu đó lμ các dấu hiệu ngữ vi

2 Động từ ngữ vi

a) Trong số những dấu hiệu ngữ vi có một số động từ đặc biệt được gọi lμ động từ ngữ vi

Động từ ngữ vi lμ những động từ mμ khi nói nó ra, người nói thực hiện ngay tức khắc cái hμnh

động ở lời do chúng biểu thị Ví dụ, khi tôi nói : "Tôi hỏi anh điều nμy" lμ tôi đã thực hiện

luôn hμnh động hỏi rồi Có những hμnh động ở lời không thể thực hiện được bằng con đường nμo khác ngoμi việc sử dụng ngôn ngữ, chủ yếu bằng các động từ ngữ vi Đó lμ hμnh động ở

lời hứa hẹn, với động từ ngữ vi hứa, cám ơn, cảm tạ, đa tạ; hμnh động ở lời khyên nhủ với

Trang 18

động từ ngữ vi khuyên, bảo, Chúng ta không thể hứa với ai, hỏi ai, cám ơn ai, khuyên ai ngoμi việc dùng các động từ hứa, hỏi, cám ơn, khuyên kèm theo các nội dung thích hợp

b) Biểu thức ngữ vi tường minh vμ biểu thức ngữ vi nguyên cấp

So sánh các câu trong các cặp sau đây :

ư Mai tôi sẽ đến

ư Tôi hứa mai tôi sẽ đến

ư Anh nên tập thể dục buổi sáng

ư Tôi khuyên anh nên tập thể dục buổi sáng

Mỗi cặp câu đều lμ những biểu thức ngữ vi thực hiện một hμnh động ở lời như nhau Có

điều ở câu thứ hai có dùng động từ ngữ vi còn câu thứ nhất thì không Ta nói biểu thức ngữ vi

có dùng động từ ngữ vi lμ biểu thức ngữ vi tường minh Biểu thức ngữ vi không có động từ ngữ

vi lμ các biểu thức ngữ vi nguyên cấp (primaire)

Theo cách phân biệt trên thì một lời xác nhận một sự kiện nμo đấy cũng lμ biểu thức ngữ

vi tường minh, nếu nói :

ư Tôi xác nhận anh ấy không có mặt ở đây lúc 20 giờ tối qua

vμ lμ biểu thức ngữ vi nguyên cấp nếu nói :

ư Anh ấy không có mặt ở đây lúc 20 giờ tối hôm qua

vì không có động từ ngữ vi xác nhận

c) Động từ ngữ vi vμ các động từ miêu tả thông thường

Từ trước cho đến khi Austin phát hiện ra các động từ ngữ vi, chúng ta không để ý đến sự khác nhau về chức năng giữa các động từ Thông thường các động từ có chức năng miêu tả, có nghĩa lμ có chức năng đưa hoạt động, hμnh động ngoμi ngôn ngữ vμo ngôn ngữ vμ vμo ngôn

bản Đó lμ những động từ thuật lại một hμnh động, một hoạt động nμo đó Ví dụ động từ đi,

cưa, bμo, đục, đấm, chém, Những động từ miêu tả nμy khi nói ra, chúng ta chỉ thuật lại một

hμnh động nμo đó còn chính hμnh động đó phải được thực hiện bằng những phương tiện khác

ngoμi ngôn ngữ Ví dụ, khi ta nói "Tôi ăn cơm." thì chúng ta không "ăn" Muốn ăn chúng ta

phải thực hiện những hμnh động vật lí như xới cơm, gắp thức ăn, vμ vμo miệng, nhai, nuốt,

Nếu như chỉ phát âm /ăn/ đã lμ ăn rồi thì trên thế giới nμy không còn nạn đói nữa Động từ ngữ

vi khác các động từ miêu tả ở chỗ đó : khi chúng ta nói động từ ngữ vi thì ta đồng thời thực hiện luôn hμnh động đó bằng ngôn ngữ

d) Điều kiện để động từ ngữ vi thực hiện đúng chức năng ngữ vi của chúng

Thực ra, không phải bao giờ động từ ngữ vi cũng được dùng với chức năng ngữ vi Muốn

được dùng trong chức năng ngữ vi thì :

ư Động từ đó phải được dùng với ngôi thứ nhất

ư Phải được dùng trong thời hiện tại

ư Không có những từ chỉ các tình thái khác nhau của động từ đó

Nếu không hội đủ các điều kiện trên thì động từ ngữ vi vẫn được dùng như các động từ miêu tả thông thường Ví dụ, so sánh :

<1> ư Tôi hứa tôi sẽ đến

Trang 19

<2> ư Anh đã hứa sẽ đến (mμ không đến)

<3> ư Nó hứa nó sẽ đến

<4> ư Tôi đã hứa tôi sẽ đến

chỉ ở <1> động từ hứa mới được dùng trong chức năng ngữ vi còn ở <2>, <3>, <4> nó chỉ kể lại, nhắc lại, thuật lại, miêu tả lại một hμnh động bằng lời mμ anh, hắn, tôi đã thực hiện trong

quá khứ Cũng như vậy, một biểu thức ngữ vi có thể có hiệu lực ở lời ngữ vi mμ cũng có thể lμ một biểu thức miêu tả thông thường Ví dụ, mẹ bảo con :

ư Mẹ bảo con đi học đi

lμ một biểu thức ngữ vi vì khi mẹ (ngôi thứ nhất) nói bảo lμ đã thực hiện đồng thời hμnh động

bảo rồi Nhưng nếu mẹ lμ ngôi thứ hai (một người ngoμi cuộc nμo đó quan sát vμ kể lại) thì

câu nμy không phải lμ biểu thức ngữ vi nữa Cũng như vậy, nếu mẹ vẫn lμ ngôi thứ nhất nhưng thêm vμo các từ ngữ tình thái như đã, bao nhiêu lần rồi, thμnh câu :

ư Mẹ đã bảo con (bao nhiêu lần rồi) học đi (thế mμ con cứ chơi)

thì nó lμ một biểu thức miêu tả thông thường, mất chức năng ngữ vi bảo đi rồi

Trong tiếng Việt có những động từ được xem lμ đồng nghĩa nhưng rất khác nhau xét về chức năng ngữ vi Ví dụ :

ư Động từ mời, xin vừa được dùng như động từ ngữ vi vừa được dùng như động từ miêu tả thông thường Động từ mời mọc, xin xỏ, chỉ được dùng trong chức năng miêu tả, không thể dùng trong chức năng ngữ vi (không ai nói "Tôi mời mọc ông vμo nhμ.", "Tôi xin xỏ anh giúp

tôi một việc.") Cặp động từ hứa vμ hứa hẹn cũng khác nhau như vậy

ư Động từ cảm ơn vừa có thể dùng trong chức năng ngữ vi, vừa có thể được dùng trong chức năng miêu tả Trái lại động từ đa tạ, cảm tạ chỉ dùng trong chức năng ngữ vi Không khi

nμo chúng ta dùng chúng trong chức năng miêu tả

IV ư Điều kiện sử dụng các hμnh động ở lời

Con người khi muốn thực hiện một hμnh động nμo đấy, không phải cứ muốn lμ lμm được Phải hội đủ những điều kiện thích hợp thì mới thực hiện được một hμnh động nhất định Ví dụ, muốn đóng một cái đinh, ít nhất phải có đinh, có búa (hay một vật có trọng lượng đủ rắn vμ cầm được trên tay), phải có đủ sức, có thì giờ Vì lμ hμnh động cho nên các hμnh động ở lời cũng phải có những điều sử dụng riêng phù hợp với từng kiểu hμnh động một Ví dụ không ai lại thực hiện một hμnh động hứa hẹn như sau :

ư Tôi hứa lμ mặt trời sẽ lặn hôm nay

bởi vì người ta chỉ hứa thực hiện những việc lμm trong tương lai nằm trong khả năng thực hiện của mình

Như đã nói, mỗi hμnh động ở lời như kể, khẳng định, bác bỏ, từ chối, hỏi, ra lệnh, khuyên,

hứa, dặn dò, nhắc nhở, tuyên ngôn, bảo đảm, đánh cuộc, cảm thán, xác nhận, có điều kiện

sử dụng riêng Dưới đây chỉ lấy điều kiện sử dụng của hμnh động ở lời hứa hẹn để minh hoạ

Các điều kiện sử dụng của hμnh động nμy lμ :

a) Phải có một câu nói ra để trình bμy một hμnh động trong tương lai của người nói

b) Người nói phải có khả năng thực hiện hμnh động nêu ra ở trên

Trang 20

c) Người được hứa (người nghe) mong muốn hμnh động đó được thực hiện hơn lμ mong muốn nó không được thực hiện

d) Người nói chân thμnh muốn thực hiện hμnh động đó

e) Nếu không nói ra thì chưa chắc người nói đã thực hiện hμnh động mình đã hứa

g) Người nói, người nghe phải có đủ năng lực nói vμ nghe ư hiểu lời nói

Nếu những điều kiện trên không đầy đủ mμ người nói vẫn cứ hứa thì hoặc giả lμ anh ta

khoác lác, giả dối, hoặc anh ta muốn thông qua hμnh động hứa mμ thực hiện hμnh động ở lời

khác Chúng ta sẽ trở lại vấn đề nμy khi nói về các hμnh động ở lời gián tiếp, hμnh động ở lời phái sinh

V ư Hiệu lực ở lời (lực ở lời) của các câu (các phát

ngôn)

ở trên chúng ta đã biết ngôn bản có hai thμnh phần : nội dung miêu tả vμ nội dung liên cá nhân Một trong những nhân tố tạo hợp thμnh nội dung liên cá nhân lμ hiệu lực ở lời do các hμnh vi ở lời tạo ra các ngôn bản (các câu, các phát ngôn) đó quyết định Ví dụ : chúng ta có nội dung miêu tả (nội dung mệnh đề, lõi mệnh đề) sau đây :

ư Thắng hút thuốc lá

Nếu lõi mệnh đề đó lần lượt được phát ngôn với các hμnh động ở lời hỏi, kể, cảm thán,

khuyên, bác bỏ, ra lệnh, thì ta có các câu khác nhau với những hiệu lực ở lời khác nhau như :

Trang 21

Khi nghe lời mời :

ư Mời Thắng hút thuốc lá

nhất định vai nghe (lμ Thắng) phải đáp lại bằng lời như "Vâng ạ, cám ơn bác." hoặc "Vâng,

bác cho cháu xin." hoặc "Dạ, bác để mặc cháu." hoặc từ chối như "Cháu cám ơn bác, nhưng cháu không biết hút.",

Dĩ nhiên, có trường hợp vai nghe cố tình không đáp, cố tình vi phạm phép lịch sự trong giao tiếp, nhưng đó lμ sự vi phạm có ý nghĩa mμ chúng ta sẽ biết sau khi nói về nghĩa tường minh vμ nghĩa hμm ẩn

Tác động hầu như buộc vai nghe phải hồi đáp lại đối với một hμnh động ở lời ở câu nói ra

được gọi lμ hiệu lực ở lời, gọi tắt lμ lực ở lời Như vậy, nghĩa thực sự của một câu, một phát ngôn lμ sự tổ hợp giữa lực ở lời với lõi miêu tả (lõi mệnh đề) Điều nμy ngữ pháp tiền dụng học chưa phát hiện ra

VI ư phân loại các hμnh vi ở lời

Có rất nhiều hμnh động ở lời, tuy nhiên giữa chúng vẫn có những hiệu lực chung Vì thế

có thể quy chúng về một số nhóm hμnh động ở lời nhất định Dưới đây lμ bảng phân loại của nhμ triết học Anh ư Searle :

1 Cam kết

Cam kết lμ hμnh động ở lời rμng buộc vai nói vμo trách nhiệm thực hiện một hμnh động

nμo đó trong tương lai Đó lμ các hμnh động như hứa, bảo đảm, đe doạ

2 Tuyên bố

Tuyên bố lμ hμnh động ở lời mμ khi nói ra thì thay dổi trạng thái của sự việc trong thực tế

khách quan, như buộc tội, tuyên án, tuyên ngôn, đánh giá, phê bình, chấp thuận,

3 Biểu cảm

Biểu cảm lμ hμnh động ở lời nhờ đó mμ vai nói trực tiếp bμy tỏ tình cảm, cảm xúc của

mình đối với người, sự vật, sự việc nμo đó Những hμnh động xin lỗi, cám ơn, tặng, kêu ca,

phμn nμn, trách cứ, vμ những lời cảm thán các kiểu đều thuộc nhóm nμy

4 Điều khiển

Điều khiển lμ những hμnh động ở lời hướng vai nghe thực hiện một hμnh động nμo đó,

như : ra lệnh, mời, xin, chỉ huy, đặt hμng, gợi ý,

5 Xác tín (còn gọi lμ miêu tả, trần thuật)

Xác tín lμ hμnh động ở lời miêu tả, thuật lại một trạng thái, sự kiện nμo đó trong thực tế

Đó lμ những hμnh động như trần thuật, kể, miêu tả, báo cáo, khẳng định Các hμnh động ở lời

nμy cung cấp cho vai nghe chủ yếu nội dung miêu tả hay lõi mệnh đề của câu kèm theo trách nhiệm về tính chân lí của nội dung mμ mình đưa ra

VII ư hμnh động ở lời vμ hội thoại

Ngữ dụng học hiện nay đã chuyển sang lĩnh vực hội thoại lí thuyết hội thoại đã ra đời, còn được gọi lμ lí thuyết tương tác bằng lời Ngữ dụng học ,do sự xuất hiện lí thuyết hội thoại

được chia thμnh hai thời kì Ngữ dụng học tiền hội thoại vμ ngữ dụng học hội thoại Các hμnh

Trang 22

động ở lời như vừa trình bμy ở trên thuộc thời kì tiền hội thoại Có thể gọi đó lμ lí thuyết hμnh

động ở lời tiền hội thoại ở thời kì nμy, các hμnh động ở lời được nghiên cứu một chiều, từ vai nói phát ra mμ không được đặt trong khuôn khổ của một cuộc hội thoại, do đó chưa phát hiện

được đầy đủ hiệu lực ở lời của chúng, cũng như vị trí, chức năng của chúng trong hội thoại

Mặt khác, có nhiều hμnh động ở lời chỉ xuất hiện trong hội thoại như : giảng giải, chú thích,

lặp lại, nhấn mạnh, viện dẫn, chưa được nghiên cứu Cần phải hội thoại hoá các hμnh động ở

lời thì mới vượt hẳn khỏi phương pháp nghiên cứu độc lập với ngữ cảnh mμ chúng ta đã nói ở

trên, trong phần Mở đầu

Các hμnh động ngôn ngữ trình bμy trên đây được dùng trong hiệu lực ở lời đích thực của chúng, có nghĩa lμ mỗi hμnh động ở lời phát ra nhằm cái đích vốn có của nó, phù hợp với các

điều kiện sử dụng bình thường của nó Ví dụ, khi đưa ra một câu hỏi, người hỏi tự mình có

điều chưa rõ, bằng câu hỏi, anh ta mong muốn được cung cấp một hiểu biết giải đáp điều anh

ta chưa rõ Tuy nhiên, trong thực tế giao tiếp, có khi chúng ta không cần biết hoặc biết rõ rồi nhưng ta vẫn hỏi Ví dụ khi chúng ta gặp một người bạn lμ giáo viên ra khỏi nhμ vμo giờ lên lớp, trong tay anh ta cầm cặp Ta biết rõ rằng anh ta lên lớp Thế nhưng ta vẫn hỏi :

ư Đi dạy đấy μ ?

Hμnh vi ở lời hỏi lúc nμy không nhằm đích được giải đáp một điều chưa biết nμo cả vì

điều đó chúng ta đã biết rồi Thế mμ chúng ta vẫn hỏi Hμnh động ở lời hỏi lúc nμy thay cho hμnh động ở lời chμo Chúng ta nói hμnh động ở lời hỏi lúc nμy được dùng theo lối gián tiếp Hμnh động ở lời gián tiếp lμ hμnh động vốn có hiệu lực ở lời nμy được dùng thay cho một hμnh động ở lời khác, nhằm đạt hiệu lực ở lời của hμnh động ở lời ấy

Hμnh động hỏi có thể có hiệu lực ở lời yêu cầu (điều khiển) như khi chúng ta hỏi :

ư Anh có thể chuyển giúp hộ tôi lá thư nμy được không ?

có khi lμ một lời đe doạ :

ư Mμy có muốn biết thế nμo lμ lễ độ không ?

có khi lμ một lời khẳng định :

ư Mμy không đánh vỡ thì còn ai vμo đây ?

Cũng tương tự như vậy, hμnh động xác tín có thể lμ một mệnh lệnh :

ư Nước trong bể hết rồi (có nghĩa lμ : đi gánh nước đi)

có khi lμ một sự mong muốn :

ư Chị Liên vừa mua được sợi dây chuyền rất đẹp (Em cũng muốn có sợi dây chuyền như vậy.)

có khi lμ một lời cảnh cáo :

ư Cô giáo ở trong nhμ đấy

,

Chúng ta sẽ trở lại với các hμnh vi gián tiếp khi nói đến nghĩa tường minh vμ hμm ẩn

Trang 23

Chương III: Lập luận

I ư Lập luận lμ gì ?

1 Lập luận lμ đưa ra những lí lẽ nhằm đi đến một kết luận nμo đấy Ví dụ, trong một cuộc

hội thoại có những lời như sau :

A ư Đi Hμ Nội với mình đi

B ư Mình không đi đâu Trời đang mưa với lại mình đang còn mệt

B đã đưa ra kết luận : "Mình không đi đâu." lí lẽ mμ B viện ra để biện hộ cho kết luận đó

lμ "Trời đang mưa" vμ "đang còn mệt"

Các lí lẽ đưa ra được gọi lμ luận cứ Chúng ta có công thức lập luận sau đây :

p, q → r

p, q, lμ các luận cứ, r lμ kết luận Ta nói giữa q, p, r có quan hệ lập luận vμ tổ hợp p, q,

→ r được gọi lμ một lập luận

2 Vị trí vμ sự hiện diện của luận cứ vμ kết luận

a) Kết luận có thể đứng ở trước các luận cứ, có thể đứng ở sau hay ở giữa các luận cứ Trong ví dụ trên, kết luận r (Mình không đi đâu.) đứng trước p, q Lập luận nμy còn có thể phát

biểu như sau :

Trời đang mưa, với lại mình đang còn mệt, mình không đi đâu

Trong trường hợp nμy, r đứng sau p, q lại có thể phát biểu :

Trời đang mưa, mình không đi đâu, vả lại mình đang mệt

Trong trường hợp nμy, kết luận r đứng giữa hai luận cứ

b) Kết luận vμ cả luận cứ có thể tường minh, có nghĩa lμ nói rõ ra (như các ví dụ trên đây)

mμ cũng có thể hμm ẩn Ví dụ : trước lời rủ của A, B có thể chỉ nói :

ư Trời đang mưa

hoặc :

ư Mình đang mệt

lμ A tự rút ra được kết luận mμ B muốn nêu ra Đây lμ trường hợp kết luận hμm ẩn Trong câu nói sau đây :

ư Lan ơi ! Đi nấu cơm đi Mẹ đi chợ về rồi đấy

"Đi nấu cơm đi." lμ kết luận "Mẹ đi chợ về rồi đấy." chưa phải lμ luận cứ trực tiếp Luận

cứ trực tiếp nhưng không được nói ra, hμm ẩn lμ :

ư Đã có thức ăn rồi

hoặc :

ư Đã trưa rồi

Trang 24

Tuy nhiên, về nguyên tắc, kết luận hoặc luận cứ dù hμm ẩn nhưng phải lμm thế nμo cho căn cứ vμo ngữ cảnh, người nghe có thể tự mình rút ra được Sau đây, chúng ta sẽ biết rằng để rút ra được kết luận hay luận cứ ta phải dựa vμo các lẽ thường

II ư Lập luận vμ lôgic

1 Lập luận vμ lôgic

Trong lôgic, chúng ta có phép quy nạp vμ diễn dịch Quy nạp hay diễn dịch cũng lμ căn cứ vμo các luận cứ để đi đến kết luận, luận cứ cục bộ đến kết luận khái quát nếu lμ trường hợp quy nạp Kết luận khái quát đóng vai trò luận cứ tiên đề đến kết luận cục bộ (hay một kết luận

hệ quả) nếu lμ trường hợp diễn dịch Bởi vậy, nói đến lập luận lμ ta thường nghĩ đến lôgic, đến

lí luận, đến các văn bản nghị luận

Đúng lμ trong lôgic, trong văn nghị luận có vấn đề lập luận Nhưng thực ra lập luận có mặt khắp nơi, trong bất cứ ngôn bản nμo, đặc biệt trong đời thường Ví dụ, trong việc mua bán, người bán phải lập luận để đi đến kết luận lμ giá món hμng mình đưa ra lμ phải chăng Còn người mua hμng phải lập luận để hạ giá hμng vμ biện hộ rằng cái giá mình trả mới lμ hợp lí,

Đáng lưu ý lμ trong lôgic, quan hệ lập luận chỉ có thể xuất hiện giữa các mệnh đề lôgic, tức các câu xác tín Còn trong lập luận thường ngμy, quan hệ lập luận có thể diễn ra giữa các hμnh động ở lời Ví dụ :

ư Mẹ đi dạy về rồi Đi nấu cơm đi !

Kết luận "đi nấu cơm đi" lμ một mệnh lệnh

ư Bác đã mời, nhất định tôi sẽ đến

Kết luận "nhất định tôi sẽ đến" lμ hμnh động cam kết (hứa)

Trong truyện ngắn Những truyện buồn không muốn viết, Nam Cao viết (lời của bμ vợ nhμ

văn) :

ư Giời ơi lμ giời ! Có chồng con nhμ nμo thế không ? Chỉ vác cái mặt lên như con trâu

nghênh suốt ngμy Chẳng nhìn rõi đến cái gì Để cho con ăn đất ngoμi sân kia kìa

Lời của bμ vợ có hai lập luận, một lập luận toμn bộ vμ một lập luận bộ phận Lập luận toμn

bộ có kết luận lμ hμnh động biểu cảm : "Giời ơi lμ giời !" vμ luận cứ lμ một hμnh động hỏi "Có

chồng con nhμ nμo thế không ?" Lập luận bộ phận thuyết minh cho kết luận cảm thán trên gồm

một kết luận lμ hμnh động xác tín : "Chẳng nhìn rõi đến cái gì." Kết luận nμy nằm giữa hai luận

cứ "Chỉ vác cái mặt lên như con trâu nghênh suốt ngμy." vμ "Để cho con ăn đất ngoμi sân kia

Trang 25

Lõi miêu tả, nói đúng hơn lμ nội dung miêu tả có thể lμ luận cứ của lập luận Tuy nhiên không phải bao giờ cũng một lõi miêu tả thì cùng một quan hệ lập luận

Trong các câu nói trong giao tiếp thường ngμy, ít khi người ta miêu tả chỉ để phục vụ cho mục đích miêu tả, ít khi người ta miêu tả để mμ miêu tả Thường thì người ta đưa ra một nội dung miêu tả lμ để dùng nó như một luận cứ để đi đến một kết luận nμo đó Nói cách khác, người ta đưa miêu tả vμo trong các quan hệ lập luận ít khi bỗng nhiên, không có lí do nμo mμ người nói đưa ra một nội dung miêu tả như :

ư Nhμ của thủ trưởng năm tầng, nội thất trang bị cực kì lộng lẫy, hiện đại

Đến gần chín mươi phần trăm người đưa ra miêu tả đó nhằm vμo một kết luận tường minh hoặc hμm ẩn nμo đó

Vì vậy, nhμ ngôn ngữ học nổi tiếng Pháp Oswald Ducrot cho rằng ý nghĩa đích thực của một nội dung miêu tả lμ giá trị lập luận của nó Có nghĩa lμ nội dung miêu tả đó hướng tới một kết luận +r hoặc ưr nμo đó Giá trị lập luận +r hoặc ưr của một nội dung miêu tả có thể tuỳ từng ngữ cảnh, nhưng cũng có những nội dung miêu tả tự nó đã chứa sẵn một hướng kết luận nhất định

Ví dụ các nội dung miêu tả sau đây :

ư Anh ấy thông minh

ư Anh ấy thường thức khuya dậy sớm

ư Anh ấy đã hứa với ai điều gì lμ cố lμm bằng được

thường dẫn tới kết luận đánh giá tốt về "anh ta" Giả định có kết luận cụ thể : "Nên lμm quen vμ

kết bạn với anh ta." thì các nội dung miêu tả trên đều có thể lμm luận cứ để đi đến kết luận đó

Ngược lại các nội dung miêu tả như :

ư Anh ấy suy nghĩ chậm lắm

ư Anh ấy thường dậy rất muộn, đi ngủ rất sớm

ư Anh ấy hay hứa suông

sẽ dẫn tới các kết luận trái ngược với kết luận trên

Cũng như vậy, các nội dung miêu tả :

ư Từng đám mây xanh úp chụp xuống cánh đồng vắng vẻ

ư Từng đám mây bông trắng nõn nhẹ nhμng bay trên cánh đồng tấp nập những người lμm

cỏ, xới khoai, ngô, đậu

chắc chắn sẽ hướng tới những kết luận trái ngược nhau

Vì ý nghĩa đích thực của các nội dung miêu tả lμ giá trị lập luận của chúng cho nên trong những câu văn, đoạn văn miêu tả, tự sự (không kể những đoạn văn nghị luận) dù người viết không đưa ra kết luận tường minh, nhưng do cách lựa chọn chi tiết, cách dùng từ, đặt câu, người viết cố ý tìm cách dẫn người đọc đến một kết luận nμo đó (một hiệu quả cảm xúc nμo

Trang 26

đó) đã định sẵn Cần chú ý điều nμy để rút ra được ý định nghệ thuật đích thực của một văn bản

Trong văn bản, trong ngôn bản, chúng ta thường nói đến chủ đề của văn bản (của đoạn văn) của ngôn bản Chủ đề thường lμ kết luận tường minh hoặc hμm ẩn Nói cách khác, một văn bản (một đoạn văn) thường lμ một lập luận đơn hay phức, bất kể lμ văn bản viết theo phong cách chức năng nμo Tính lập luận lμ sợi chỉ đỏ bảo đảm tính mạch lạc về nội dung của văn bản

III ư Đặc tính của quan hệ lập luận

Chúng ta đã nói quan hệ lập luận lμ quan hệ giữa các luận cứ p, q, với kết luận r

Giữa các luận cứ có quan hệ định hướng lập luận, có nghĩa lμ p vμ q được đưa ra để hướng tới một r nμo đấy p vμ q có thể đồng hướng lập luận khi cả hai đều nhằm vμo một kết luận

p → r

q → ưr

các luận cứ đồng hướng lập luận có thể có quan hệ tương hợp với nhau, có nghĩa lμ chúng

cùng một nhóm luận cứ thuộc cùng một phạm trù, ví dụ :

p : Chiếc xe nμy rẻ

q : Chiếc xe mới chạy được 9.000 km

Ta có một lập luận :

Chiếc xe nμy rẻ, lại mới chạy có 9.000 km, mua đi

Chúng có thể độc lập với nhau, ví dụ :

p : Chiếc xe nμy rẻ

q : Anh vừa nhận được tiền nhuận bút

luận cứ "nhận được tiền nhuận bút" không cùng phạm trù với những đặc tính của chiếc xe,

chúng độc lập với nhau, tuy nhiên chúng có thể đồng hướng lập luận Chúng ta có thể có lập luận :

p : Chiếc xe nμy rẻ +r (mua đi)

q : Chiếc xe nμy quá cũ ưr (đừng mua nó)

Xét theo quan hệ định hướng lập luận, các luận cứ có thể có hiệu lực lập luận khác nhau,

có nghĩa lμ p có sức mạnh đối với kết luận +r (hoặc ưr) lớn hơn q hoặc ngược lại Thường thường luận cứ có hiệu quả lập luận mạnh hơn được đặt ở sau luận cứ có hiệu quả lập luận yếu hơn So sánh hai lập luận :

ư Anh vừa nhận được tiền nhuận bút, chiếc xe nμy rẻ, lại mới chạy được 9.000km, mua đi

Trang 27

ư Chiếc xe nμy rẻ, mới chạy được 9.000km, anh lại mới nhận được tiền nhuận bút, mua (ngay) đi

Sự thay đổi vị trí của các luận cứ dẫn tới sự khác nhau về hiệu lực của chúng đối với kết

luận "mua đi"

Sự thay đổi vị trí nμy cμng rõ hơn đối với các luận cứ nghịch hướng lập luận So sánh :

ư Chiếc xe nμy quá cũ nhưng rẻ (mua đi)

ư Chiếc xe nμy rẻ nhưng quá cũ (đừng mua)

Có thể nói hướng lập luận (tức lμ kết luận) của cả lập luận lμ do luận cứ có hiệu lực lập luận mạnh nhất trong các luận cứ quyết định

Có thể biểu diễn hai đặc tính của các luận cứ nói trên, đặc tính có hiệu lực lập luận vμ đặc tính nghịch đối về lập luận bằng hai sơ đồ sau :

ư Đặc tính hiệu lực lập luận

r

p

q

(đọc : q có hiệu lực lập luận cao hơn p đối với kết luận r)

ư Đặc tính nghịch đối với lập luận :

r ưr

p p'

(đọc : p hướng tới r, p' hướng tới ư r)

Dưới đây chúng ta sẽ thấy có các chỉ dẫn lập luận đánh dấu các đặc tính nói trên của các

luận cứ trong một lập luận

Hai sơ đồ ở trên giúp chúng ta thấy một tính chất nữa của các luận cứ, đó lμ đặc tính ở những thang độ khác nhau trong một quan hệ lập luận do các luận cứ có những hiệu lực lập luận khác nhau không chỉ do nội dung của luận cứ mμ còn do vị trí của chúng trong lập luận quyết định So sánh :

Chiếc xe nμy rẻ nhưng anh không có tiền đừng mua

Anh không có tiền nhưng chiếc xe nμy rẻ (cố) mμ mua

Một lần nữa chúng ta thấy sự cần thiết phải phân biệt nội dung miêu tả với các luận cứ trong lập luận

IV ư Tác tử lập luận vμ kết tử lập luận(1)

ở mục trên, chúng ta nói tới các chỉ dẫn lập luận Chỉ dẫn lập luận lμ các dấu hiệu hình thức nhờ chúng người nghe nhận ra được hướng lập luận vμ đặc tính lập luận của các luận cứ

trong một quan hệ lập luận Các chỉ dẫn lập luận gồm hai loại lớn : các tác tử (opérateurs) lập

luận vμ các kết tử (connecteurs) lập luận

(1) Trước đây chúng tôi dịch lμ kết tố lập luận

Trang 28

Tác tử lập luận lμ một yếu tố khi được đưa vμo một nội dung nμo đấy sẽ lμm thay đổi tiềm

năng lập luận của nó, độc lập với thông tin miêu tả vốn có của nó Ví dụ như hai từ ngữ đã vμ

"mới thôi" đã dẫn Giả định ta có nội dung :

ư Bây giờ tám giờ

Nếu đưa vμo các tác tử đã hoặc "mới thôi" thμnh :

ư Bây giờ đã tám giờ rồi

vμ :

ư Bây giờ mới tám giờ thôi

rõ rμng lμ thông tin miêu tả trong hai câu sau không đổi nhưng phát ngôn với "đã rồi" hướng

về kết luận" khẩn trương lên" vμ phát ngôn với " mới thôi" hướng về kết luận cứ từ từ Những yếu tố như chỉ, những, lμ ít, lμ nhiều, lμ những tác tử đánh dấu những luận cứ đối

nghịch về lập luận So sánh :

ư Chỉ có ba nghìn trong túi thôi

vμ :

ư Có những ba nghìn trong túi (kia)

ư Túi gạo ba chục cân lμ ít

vμ :

ư Túi gạo ba chục cân lμ nhiều

chúng ta sẽ thấy chỉ, lμ nhiều chuyển những thông tin miêu tả tương ứng thμnh luận cứ hướng

về kết luận ít, nhẹ còn các tác tử những, lμ ít hướng luận cứ về phía nhiều, nặng

Các kết tử lập luận lμ những yếu tố (như các liên từ đẳng lập, liên từ phụ thuộc, các trạng

từ vμ các trạng ngữ, ) phối hợp hai hoặc một số phát ngôn thμnh một lập luận duy nhất Nhờ kết tử mμ các phát ngôn trở thμnh luận cứ hay kết luận của một lập luận

Ví dụ :

ư Trời đẹp nên tôi đi chơi

ư Trời đẹp, vả lại chúng ta đã đọc sách quá lâu, đi chơi thôi

Nên lμ kết quả nối phát ngôn ư luận cứ "trời đẹp" với kết luận "tôi đi chơi" Vả lại nối hai

phát ngôn ư luận cứ "trời đẹp", "chúng ta đọc sách quá lâu" đồng hướng lập luận, luận cứ sau

"mạnh" hơn luận cứ trước, để dẫn tới kết luận "đi chơi thôi"

Các kết tử lập luận có thể chia thμnh kết tử hai vị trí vμ kết tử ba vị trí

a) Kết tử hai vị trí lμ những kết tử chỉ cần hai phát ngôn lμ đủ lập thμnh một lập luận,

không nhất thiết phải có thêm một phát ngôn ư luận cứ thứ ba (mặc dầu vẫn có thể thêm vμo một hoặc một số phát ngôn ư bổ sung, đồng hướng) Ví dụ :

(vì) Tôi mệt nên tôi phải nghỉ ngơi

nên lμ kết tử hai vị trí, chỉ cần một phát ngôn ư luận cứ (lí do với một phát ngôn ư kết luận lμ

đã thμnh một lập luận Dĩ nhiên có thể thêm vμi phát ngôn ư luận cứ khác nhau như có thì giờ,

lμm xong bμi, vμo lập luận trên nhưng sự thêm vμo nμy không ảnh hưởng đến kết tử nên

Trang 29

b) Kết tử ba vị trí lμ kết tử đòi hỏi phải có ba phát ngôn mới có thể hình thμnh nên một lập luận Ví dụ kết tử nhưng

Trời đẹp nhưng tôi bận học nên không đi chơi được

Đã dùng kết tử nhưng, nhất thiết phải có ba phát ngôn "trời đẹp"," tôi bận học" vμ phát ngôn kết luận "không đi chơi được" Các kết tử đồng hướng như vμ, vả lại, hơn nữa, thêm vμo

đó cũng lμ các kết tử ba vị trí

ư Trời mát vμ có gió nhẹ, đi chơi thật tuyệt

ư Tôi rất mệt, vả lại bμi vở cũng lμm xong rồi, tôi phải nghỉ thôi

ư Chiếc xe nμy rẻ, hơn nữa lại chưa cũ lắm, mua đi

Các kết tử lại được phân biệt thμnh kết tử dẫn nhập luận cứ như : vì, hơn nữa, nhưng vμ những kết tử dẫn nhập kết luận như : vậy, nên, thì, dù sao thì, dù thế nμo cũng,

Giới ngôn ngữ học Việt Nam đã viết rất nhiều về các từ hư, các từ công cụ nhưng giá trị lập luận của chúng chưa được tác giả nμo đề cập tới Không phát hiện được bản chất lập luận của các từ hư sẽ không lí giải được đầy đủ chức năng của chúng trong tiếng Việt (vμ trong tất cả các ngôn ngữ khác)

V ư Các "lẽ thường" cơ sở của lập luận

ở trên chúng ta đã nói các tiên đề lôgic vμ các thao tác lôgic không phải lμ cơ sở của các lập luận trong giao tiếp bình thường Vậy cái gì lμm cơ sở cho lập luận, có nghĩa lμ cái gì lμm cơ sở để nối kết một nội dung với một nội dung khác thμnh một lập luận, tức lμ thμnh luận cứ

với kết luận Ví dụ ta có nội dung được diễn đạt bằng phát ngôn : "Bây giờ lμ tám giờ." vμ nội dung thứ hai được diễn đạt bằng phát ngôn : "nhanh lên", dựa vμo cái gì để chúng ta tạo thμnh

một lập luận như :

Bây giờ lμ tám giờ, nhanh lên

trong đó "Bây giờ lμ tám giờ" đóng vai trò luận cứ vμ "nhanh lên" đóng vai trò kết luận O Ducrot cho rằng cái đó lμ cái "lẽ thường" (tiếng Pháp topos, số nhiều topoi(1)) "Lẽ thường" lμ

những chân lí thông thường có tính chất kinh nghiệm, không có tính tất yếu, bắt buộc như các tiên đề lôgic, mang đặc thù địa phương hay dân tộc, có tính khái quát, nhờ chúng mμ chúng ta xây dựng được những lập luận riêng Cái lẽ thường lμm cơ sở cho lập luận trên được diễn đạt

như sau : "Cμng còn thì giờ thì người ta cμng không phải vội vã." vμ "Cμng không có thì giờ

thì người ta cμng phải vội vã." "Bây giờ lμ tám giờ." lμ một phát ngôn miêu tả "trung tính",

không chứa các tác tử lập luận Do đó, "tám giờ" có thể lμ "không có thời gian nữa" mμ cũng

có thể lμ "còn có thời gian" Bởi vậy, "Bây giờ lμ tám giờ." có thể lμ lẽ thường cho lập luận :

"Bây giờ lμ tám giờ, khẩn trương lên.", mμ cũng có thể lμ lẽ thường cho lập luận : "Bây giờ lμ tám giờ." Nếu chúng ta thêm tác tử "mới thôi" hoặc tác tử "đã rồi" thì giá trị lập luận của nó

sẽ nghiêng hẳn về phía không vội hoặc vội

Các lẽ thường còn có tính chất lμ (được xem như lμ) được mọi người thừa nhận Được mọi người thừa nhận không có nghĩa chúng lμ những chân lí quốc tế, luôn luôn đúng vμ bao giờ

(1) Kết tử nhưng có thể nối một luận cứ có hướng lập luận tích cực với một kết luận tiêu cực Ví dụ: " Trời đẹp

nhưng tôi không đi chơi "

Trang 30

cũng hợp quy luật khách quan, lôgic Có những lẽ thường của dân tộc nμy nhưng lại kì lạ đối với dân tộc khác, địa phương khác Anh chμng A.Q của Lỗ Tấn cứ thấy con gái lμng Mùi nói chuyện với đμn ông ngoμi đường thế nμo cũng ném cho vμi hòn đá nếu vắng người, nếu đông

người thì nhổ nước bọt chắc đã dựa trên lẽ thường rất "Trung Hoa phong kiến", "Đμn bμ nói

chuyện tay đôi với đμn ông lμ đμn bμ hư." Từ lẽ thường khái quát nμy, anh ta tạo nên một lập

luận riêng, cá thể : "Đμn bμ lμng Mùi nói chuyện với đμn ông ngoμi đường lμ đμn bμ hư." Dễ

dμng thấy lẽ thường nμy lμ của một dân tộc nhất định

Bởi vì lập luận dựa trên lẽ thường, mμ lẽ thường không phải bao giờ cũng lμ những chân lí khách quan nên ngay trong một dân tộc, có những lẽ thường trái ngược nhau Do đó, nếu vận dụng lẽ thường nμy thì có lập luận nμy, nếu vận dụng lẽ thường kia thì có lập luận kia Ví dụ :

ư Chiếc xe nμy rẻ, mua đi

vμ :

ư Chiếc xe nμy rẻ thế, đừng mua

Hai lập luận trái ngược (đi đến kết luận trái ngược) vì lập luận thứ nhất dựa vμo lẽ thường

"Hμng hoá cμng rẻ cμng nên mua vì đỡ tốn kém." còn lập luận thứ hai dựa vμo lẽ thường "Của

rẻ lμ của ôi, của đầy nồi lμ của không ngon."

Các lẽ thường của từng dân tộc có thể tìm thấy trong tục ngữ Vμ chúng ta đã biết trong kho tμng tục ngữ Việt Nam không ít những câu rất ngược nhau

Cũng vì có các lẽ thường trái ngược nhau cho nên khi lập luận, đặc biệt lμ viết một bμi văn nghị luận, ngoμi việc cân nhắc, tính toán cho hết các phương diện để cho lập luận của mình chặt chẽ, không sơ hở, cần chú ý đến các phản lập luận Phản lập luận có thể do :

ư Người tranh luận với mình bác bỏ tính đúng đắn của ý kiến hoặc nội dung miêu tả mμ ta dẫn ra lμm luận cứ

ư Người tranh luận với mình bác bỏ kết luận của mình, cho rằng luận cứ như vậy không thể đi đến kết luận mμ ta đã đưa ra

ư Người tranh luận dựa vμo một lẽ thường khác, lẽ thường nμy cũng có thể áp dụng vμo vấn đề đang xem xét được

Bởi vậy khi lập luận cần dự đoán trước các phản lập luận có thể có để biện luận, giμnh phần "thắng" cho bμi viết của mình

Với lí thuyết lập luận, chẳng những chúng ta có những hiểu biết mới về một lĩnh vực đã rất quen thuộc mμ chúng ta còn có được một cơ sở lí thuyết để viết một bμi văn có sức thuyết phục

Trang 31

Chương IV: lí thuyết hội thoại

Hội thoại lμ hoạt động giao tiếp căn bản, thường xuyên, phổ biến của sự hμnh chức của ngôn ngữ Các hình thức hμnh chức khác của ngôn ngữ đều được giải thích dựa vμo hình thức hoạt động căn bản nμy

Nên lưu ý rằng, dạng cơ bản của hội thoại lμ dạng song thoại (dialogue) tức lμ dạng diễn

ra giữa hai nhân vật đối đáp Tuy nhiên hội thoại có thể có dạng tam thoại (ba nhân vật) vμ nói chung lμ đa thoại (nhiều nhân vật) Lí thuyết hội thoại thế giới đang bắt đầu nghiên cứu các

dạng đa thoại của hội thoại ở đây chúng ta chỉ lμm quen với dạng song thoại của hội thoại

Có những vận động cơ thể (điệu bộ, cử chỉ, nét mặt) hướng tới người nhận hoặc tự hướng

về mình (gãi đầu, gãi tai, đấm ngực, ) bổ sung cho lời của người nói

Tình thế giao tiếp trao lời ngầm ẩn rằng người nhận B tất yếu phải có mặt, "đi vμo" trong lời của A

Ngay trước khi B đáp lời, anh ta, ngôi thứ hai, đã được đưa vμo trong lời trao của ngôi thứ

nhất tôi vμ thường xuyên kiểm tra, điều hμnh lời nói của A Cũng chính vì vậy, ở phía người

nói, người trao lời, nói năng có nghĩa lμ "lấn trước" vμo người nghe B, phải dự kiến trước phản ứng của người nghe để chọn lời cho thích hợp, để lμm sao cho có thể "áp đặt" điều mình muốn nói vμo B

về lời khẳng định của mình, do đó đòi hỏi người nghe phải có phản ứng bằng lời như thế nμo

đó đối với lời khẳng định của mình Khi người nghe tỏ ra sao lãng hoặc không chú ý đến lời

Trang 32

khảo nghiệm của mình thì người nói thường tìm cách để "kéo" anh ta trở lại với điều mình

đang khẳng định

Tất nhiên có những lời loại trừ sự đáp lời như ngôn bản viết (nhưng không phải lμ hình thức thư tín) hoặc miệng (tuyên án, truyền thanh, truyền hình, ) Nhưng, như đã nói đây lμ sự loại trừ sự đáp lời trực tiếp, tức thời Trong chiều sâu những ngôn bản trên vẫn cần đến sự hồi

đáp nμo đó hoặc ở một hoặc ở những người nghe

đối thoại mở rộng dần vμ một cuộc hội thoại thμnh công lμ cuộc hội thoại mμ sau đó sự khác biệt nói trên bị mất đi (dĩ nhiên có những cuộc hội thoại không thμnh công, khoảng bất đồng vẫn y nguyên, thậm chí còn mở rộng ra)

Trong hội thoại, một lời nói bị chấm dứt khi người kia tỏ ra không chú ý đến nội dung của

nó, tỏ ra lảng xa nó Lúc nμy người nói phải hoμ phối lại cuộc hội thoại bằng cách kéo đối phương trở lại với câu chuyện vμ khi thấy rằng đã kéo lại được rồi thì "khởi động lại" câu

chuyện "Có thể xem những nhân vật tương tác lμ những nhạc công trong một bản giao hưởng

vô hình mμ phần nhạc họ chơi không được biên soạn từ trước, mỗi người tự soạn ra trong diễn biến của bản giao hưởng, bản giao hưởng không có nhạc trưởng (tuy nhiên vẫn có thể có nhạc trưởng ví dụ trong một cuộc hội thảo có người điều khiển) Có thể dùng thêm một ẩn dụ nữa : cách ứng xử kèm ngôn ngữ sẽ lμ một vũ điệu giữa những nhân vật tương tác." (1)

Bởi tương tác lμ tác động chủ yếu trong hội thoại cho nên dụng học hội thoại còn được gọi

lμ dụng học tương tác bằng lời

Tương tác lμ một kiểu quan hệ xã hội giữa người với người Hễ có một hoạt động xã hội thì có sự tương tác Tương tác bằng lời chỉ lμ một trong những dạng tương tác giữa người với người Có tương tác bằng lời mμ cũng có sự tương tác không bằng lời Vũ hội, thể thao, trò chơi, đi lại trên đường lμ những tương tác không bằng lời Thầy thuốc khám bệnh lμ sự tương tác có tính hỗn hợp vừa không bằng lời vừa bằng lời

Tương tác bằng lời chỉ lμ trường hợp riêng của tương tác nói chung Giữa tương tác bằng lời vμ tương tác không bằng lời có những yếu tố đồng nhất

Trước hết, giữa chúng có chung khái niệm lượt (tour) Điều quan trọng lμ những người trong cuộc phải tuân theo những quy tắc nhất định thì mới có sự phân chia thμnh "lượt" Vμ

trong hội thoại có sự vi phạm "lượt lời" khi người nμy nói tranh phần người kia (cướp lời người khác) thì trong sự đi lại cũng có trường hợp đèn đã đỏ rồi mμ vẫn có người vẫn cố vượt bằng

được Lại cũng có những trường hợp "trật khớp" về lượt, trong trường hợp đi lại trên đường

(1) C.K Orecchioni, Dụng học phân tích hội thoại, chuyên đề trình bμy tại khoa Pháp, Trường Đại học Sư phạm

Ngoại ngữ, Hμ Nội, 1985

Trang 33

phố sự "trật khớp" có thể xảy ra khi có tai nạn giao thông thì trong hội thoại sự "trật khớp" xảy

ra khi có sự ngắt quãng quá dμi giữa hai lượt lời hoặc có sự dẫm đạp lên nhau trong lượt lời, cả hai người đối thoại cùng nói,

Tiếp nữa, giữa tương tác bằng lời vμ không bằng lời còn có sự đồng nhất về khái niệm cặp

kế cận Trong hội thoại có cặp hỏi / trả lời thì trong hệ thống đèn đường có đỏ / dừng lại, xanh

/ đi ; trong thi đấu điền kinh chạy đua có cặp tiếng súng hiệu / khởi đua, Nói chung cặp kế

cận được điều khiển bởi quy tắc giữa sự cân bằng trong tương tác

Cuối cùng, trong tương tác còn có những cặp trao đáp củng cố vμ sửa chữa Trao đáp củng

cố nhằm thiết lập hay lμm vững chắc quan hệ giữa người trong cuộc để cuộc tương tác đạt hiệu quả Ví dụ khi ta vμo một nhμ trọ, chủ trọ thường hỏi han về sức khoẻ, về chuyến đi, của khách tạo lập quan hệ chủ trọ ư khách trọ Những nụ cười, những ánh mắt, những cử chỉ

vồn vã, việc lấy cho người bạn đến thăm cốc nước, ngμy xưa "Miếng trầu lμ đầu câu chuyện"

đều lμ cặp trao đáp củng cố

Khi chúng ta xúc phạm hoặc cho rằng mình xúc phạm đến người cùng tham gia vμo một hoạt động xã hội với mình, chúng ta thực hiện cặp trao đáp sửa chữa Sự sửa chữa có thể bằng lời : xin lỗi, tỏ ra ân hận, mμ cũng có thể không bằng lời : cười, đưa quμ tặng, tự tay mình sửa lại cái mình lμm hỏng,

Ba vận động : trao lời, trao đáp vμ tương tác lμ ba vận động đặc trưng cho một cuộc hội thoại Những quy tắc, cấu trúc vμ chức năng trong hội thoại đều bắt nguồn từ ba vận động trên, chủ yếu lμ vận động tương tác

II ư Các quy tắc hội thoại

Nhμ ngôn ngữ học Pháp, nữ giáo sư C.K.Orecchioni chuyên gia về dụng học tương tác cho rằng các quy tắc hội thoại chia thμnh ba nhóm

1 Thứ nhất lμ nguyên tắc luân phiên lượt lời

Khi có hai người hội thoại, người nμy phải nói khi người kia nhường lời cho anh ta theo cách lời người nμy kế tiếp lời người kia không có sự dẫm đạp lên lời của nhau Cho a lμ lời của

A vμ b lμ lời của B thì nguyên tắc nμy cho ta a-b-a-b, Do bản chất tuyến tính nên sự giao tiếp bằng lời đòi hỏi phải giảm thiểu đến mức thấp nhất sự dẫm đạp lên lời của nhau

Các lượt lời có thể được một người điều khiển phân phối hoặc do các nhân vật hội thoại tự thương lượng một cách không tường minh với nhau

Khi nμo thì người nμy nhường lời cho người kia ? Rõ rμng lμ có những dấu hiệu nhất định, báo một cách tự động cho người kia biết rằng anh ta có thể nói Đó lμ những dấu hiệu như sự

trọn vẹn về ý, sự trọn vẹn cú pháp, ngữ điệu, các câu hỏi, các từ hư như nhé, nghen, Rất tiếc

chúng ta chưa chú ý nghiên cứu những dấu hiệu đánh dấu sự kết thúc lượt lời nμy

2 Nguyên tắc liên kết hội thoại

Một cuộc hội thoại không phải lμ sự lắp ghép ngẫu nhiên, tuỳ tiện các phát ngôn, các hμnh

vi ngôn ngữ Nguyên tắc liên kết không chỉ chi phối các ngôn bản đơn thoại mμ chi phối cả các lời tạo thμnh một cuộc hội thoại Nếu giữa các lời của các nhân vật hội thoại không có liên kết thì một "cuộc hội thoại giữa những người điếc" sẽ xảy ra, trong đó "ông sẽ nói gμ

còn bμ sẽ nói vịt"

Trang 34

Tính liên kết hội thoại thể hiện trong lòng một phát ngôn, giữa các phát ngôn, giữa các hμnh động ngôn ngữ, giữa các đơn vị hội thoại Cần lưu ý, tính liên kết không chỉ thuộc lĩnh vực nội dung vμ thể hiện bằng các dấu hiệu "ngữ pháp" hiểu theo truyền thống Nó còn thuộc lĩnh vực các hμnh động ngôn ngữ, còn thể hiện trong quan hệ lập luận Lấy một ví dụ :

A1 ư Khoẻ không ?

A2 ư Bình thường Cám ơn

ư Cám ơn, mình đang nằm viện

Hμnh động hỏi thăm của A1 đòi hỏi lời đáp của A2 Giữa hμnh động, ngôn ngữ của A1 vμ

A2 có sự liên kết với nhau Trong trường hợp A2 trả lời "Cám ơn, mình đang nằm viện." hμnh

động "trần thuật" về tình trạng sức khoẻ của A2 chắc chắn sẽ kéo theo một hμnh động ngôn ngữ nμo đấy của A1, ví dụ A1 sẽ hỏi về bệnh tật, về thời gian mang bệnh, của A2 Nếu lời

đáp của A2 lμ một lời đáp tích cực (bình thường) thì nó lμ một lời đáp không có dấu hiệu vì nó

có tính khuôn sáo, người ta đã biết trước Còn nếu nó lμ lời đáp tiêu cực thì nó lμ lời đáp có dấu hiệu, mang lượng thông tin lớn vμ có tác dụng mở ra một hướng hội thoại mới Lời đáp

"Bình thường, cám ơn." sẽ khoá hội thoại lại, còn lời đáp "Tôi đang nằm viện." sẽ mở ra một

đoạn hội thoại mới Nguyên tắc liên kết có thể mềm dẻo, linh hoạt mμ cũng có thể chặt chẽ, nghiêm ngặt tuỳ theo tính chất các cuộc hội thoại

3 Các nguyên tắc hội thoại

Hội thoại một cách chân thực đòi hỏi người tham gia phải tôn trọng một số nguyên tắc Những nguyên tắc nμy không chặt chẽ như những nguyên tắc ngôn ngữ học thuần tuý Đó lμ các nguyên tắc :

3.1 Nguyên tắc cộng tác hội thoại do Grice nêu ra từ năm 1967 Nguyên tắc nμy được

phát biểu một cách tổng quát như sau :

Hãy lμm cho phần đóng góp của anh (vμo cuộc hội thoại) đúng như nó được đòi hỏi ở giai

đoạn (của cuộc hội thoại) mμ nó xuất hiện phù hợp đích hay phương hướng của cuộc hội thoại

mμ anh đã chấp nhận tham gia vμo

Nguyên tắc nμy có nghĩa như sau :

Giả định có một cuộc hội thoại diễn ra trong đó có các nhân vật tham gia A1, A2, A3, Cuộc hội thoại đó xoay xung quanh vấn đề ví dụ tổ chức một đêm vũ hội của khoa nhân dịp mừng năm mới Đích của cuộc hội thoại lμ thống nhất được kế hoạch vμ phân việc cho A1, A2, A3 tổ chức đêm vũ hội đó A1 có thể nói trước, nêu ra một dự kiến kế hoạch Trong dự kiến giả định có các việc chuẩn bị vũ trường Trong việc chuẩn bị vũ trường giả định có việc mượn vũ trường, trang hoμng vũ trường, chi phí cho việc chuẩn bị vũ trường, điều động đơn vị chuẩn bị vũ trường Cuộc hội thoại cứ theo trật tự từ trên mμ diễn tiến Sau khi bμn xong việc xác định vμ mượn vũ trường sẽ bμn sang vấn đề trang trí, bμn xong trang trí mới quyết định

được kinh phí, đó lμ các giai đoạn của cuộc thoại Nguyên tắc cộng tác đòi hỏi A1, A2, A3, phát biểu theo hướng đó để đạt đích đó Mỗi lượt lời của A1, A2, A3 phải lμm sao cho cuộc hội thoại tiến lên, đạt đến đích, tránh tình trạng các ý kiến đưa ra giẫm chân tại chỗ Khi

đã bμn xong vấn đề mượn vũ trường thì chuyển sang bμn về cách trang hoμng ở giai đoạn nμy các lượt lời của A1, A2, A3, không nên trở lại với việc mượn vũ trường nữa (trừ trường hợp

do yêu cầu trang hoμng mμ địa điểm đã thoả thuận tỏ ra không thích hợp, phải bμn lại địa

Trang 35

điểm Nhưng nên chú ý lúc nμy vấn đề vũ trường đã nằm trong khuôn khổ vấn đề trang hoμng, không còn lμ vấn đề vũ trường tách riêng nữa)

Một khi những người tham gia tôn trọng nguyên tắc nμy thì cuộc hội thoại đạt tính chất năng động hội thoại (dinamique conversationnel, viết tắt DC) có nghĩa lμ cuộc hội thoại tuần

tự tiến đến đích, không luẩn quẩn, không giật lùi trở lại

Nguyên tắc cộng tác hội thoại trên được Grice tách thμnh 4 phương châm nhỏ :

a) Phương châm về lượng Phương châm nμy lại chia thμnh hai vế :

ư Hãy lμm cho phần đóng góp của anh có lượng tin đúng như đòi hỏi của đích cuộc hội thoại

ư Đừng lμm cho lượng tin của anh lớn hơn yêu cầu mμ nó được đòi hỏi

b) Phương châm về chất Phương châm nμy được phát biểu tổng quát như sau : hãy cố

gắng lμm cho phần đóng góp của anh lμ đúng, đặc biệt lμ :

ư Đừng nói điều gì mμ anh tin rằng không đúng

ư Đừng nói điều gì mμ anh không có đủ bằng chứng

c) Phương châm quan hệ (còn được gọi lμ phương châm quan yếu) Hãy lμm cho phần

đóng góp của anh quan yếu (pertinent) tức có dính líu đến câu chuyện đang diễn ra

d) Phương châm cách thức Dạng tổng quát của phương châm nμy lμ : hãy nói cho rõ rμng,

đặc biệt lμ :

ư Hãy tránh lối nói tối nghĩa

ư Hãy tránh lối nói mập mờ, mơ hồ về nghĩa

ư Hãy ngắn gọn

ư Hãy có trật tự

Như đã nói, các phương châm nμy đúng cho cuộc hội thoại chân thực, trong đó người hội thoại thực sự muốn lμm cho nó đạt kết quả một cách tường minh, trực tiếp Tất nhiên có rất nhiều cuộc hội thoại trong đó người ta nói chuyện với nhau bằng các ẩn ý Chúng ta sẽ thấy ở

chương Nghĩa tường minh vμ nghĩa hμm ẩn, chính những phương châm nμy sẽ giải thích

những nghĩa hμm ẩn trong hội thoại Thực ra những phương châm nμy trong cách trình bμy của Grice chủ yếu mới có tính định tính, chưa được định lượng một cách chặt chẽ, đường ranh giới giữa điều "nên" vμ "không nên" còn khá mơ hồ Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể nhận ra

được những trường hợp vi phạm chúng trong hội thoại, qua đó đánh giá được kết quả của cuộc hội thoại

Nếu những phương châm trên được tôn trọng thì một cuộc hội thoại sẽ đạt được tính chất

cộng tác giữa những nhân vật hội thoại, đạt được tính quan yếu, có nghĩa lμ xoay quanh vấn đề

được đưa ra hội thoại, đạt được tính chân thμnh, có nghĩa lμ những người hội thoại thực sự mong muốn cuộc hội thoại thμnh công, đạt được yêu cầu về lượng tin vμ đạt yêu cầu triệt để

(exhaustivité), có nghĩa lμ nói hết những điều mμ người hội thoại cho lμ quan yếu với vấn đề

được đưa ra

3.2 Nguyên tắc tôn trọng thể diện (faces) của những người hội thoại

Mỗi con người đều có mặt mạnh, đáng tự hμo vμ có những mặt yếu Trong cuộc sống, đặc biệt lμ trong hội thoại, chúng ta phải tránh không đụng chạm tới chỗ yếu của người đối thoại với mình ; hoặc buộc lòng phải nói tới thì chọn cách nói sao cho người đối thoại ít bị xúc

Trang 36

phạm nhất Hội thoại bằng miệng lại cμng tôn trọng thể diện của nhau Ngay cả khi người đối thoại với mình đưa ra một yêu cầu, một lời xin cực kì vô lí, chúng ta vẫn khó có thể bác bỏ

"thẳng thừng" được Mỗi người chúng ta có hai dạng thể diện : thể diện tích cực vμ thể diện tiêu cực Thể diện tích cực lμ nhân cách, vị trí, địa vị xã hội biểu hiện bên ngoμi mμ qua đó chúng ta tác động vμo người khác Thể diện tiêu cực lμ lãnh địa riêng của từng người, chủ yếu của từng người mμ chúng ta không muốn cho người khác biết Ví dụ, một chμng trai hay một cô gái quá lứa lỡ thì Sự "quá lứa lỡ thì" lμ một thể diện tiêu cực Cần chú ý, trong hội thoại, quyền được nói cũng lμ một thể diện tích cực, đó lμ lãnh địa hội thoại của từng người

Nguyên tắc tôn trọng thể diện của người hội thoại đòi hỏi chúng ta khi hội thoại phải khéo léo tránh những xúc phạm tμn nhẫn đến thể diện người khác cũng như cố gắng gìn giữ thể diện của mình Đó lμ nguồn gốc của các biện pháp tu từ như nói giảm, nói vòng, của các công thức xã giao, của những lời nói dối vì lịch sự, Trong hội thoại, nguyên tắc nμy còn đòi hỏi chúng

ta đừng xâm phạm lãnh địa hội thoại của người khác, đừng trả lời thay, đừng nói hớt, đừng cướp lời, giμnh phần nói của người khác

3.3 Nguyên tắc khiêm tốn

Trong hội thoại tránh đừng tự khen ngợi mình Tục ngữ Pháp có câu : "Cái tôi lμ cái đáng

ghét." Trong hội thoại, người nμo luôn luôn bộc lộ cái tôi ra sẽ gây khó chịu cho người đối

thoại Bởi vậy, trong ngôn ngữ thông thường, cái tôi thường tìm cách trốn sau cái "chúng tôi"

Những quy tắc hội thoại vừa giới thiệu đều ít nhiều có tính chất phổ quát Bên cạnh những quy tắc phổ quát đó, tuỳ từng địa phương, tuỳ từng cá nhân, tuỳ từng dân tộc mμ còn có những

quy tắc hội thoại "đặc ngữ" Bởi vậy, sự nghiên cứu hội thoại, một mặt đi theo hướng nghiên

cứu quen thuộc lμ tìm ra quy luật chung, mặt khác cần biết phải đi theo con đường so sánh,

đối chiếu để tìm ra đặc thù liên văn hoá của hội thoại

III ư thương lượng hội thoại

Hội thoại lμ một vận động Từ khi các nhân vật hội thoại gặp nhau bắt đầu cuộc tiếp xúc cho đến khi kết thúc, hình thức vμ nội dung không phải đã được đặt ra từ đầu vμ giữ nguyên vẹn không thay đổi Phải trải qua một cuộc thương lượng, thương lượng ngầm nhưng vẫn phải thương lượng (trừ những cuộc hội đμm có tính chất quan phương trong đó sự thương lượng về hình thức, nội dung các thμnh phần tham gia, được tách riêng thμnh một mục thảo luận lớn trước khi cuộc hội đμm chính thức bắt đầu) những người tham gia mới đạt được một sự thoả thuận về hình thức vμ nội dung cho cuộc hội thoại đang diễn ra Trong khi trò chuyện, giữa hμnh vi, cách ứng xử của các nhân vật có thể có sự "trục trặc kĩ thuật" cần được điều chỉnh ngay Cũng phải trải qua thương lượng mới đạt được sự điều chỉnh đó

IV ư cấu trúc hội thoại

Hội thoại lμ một tổ chức tôn ti như tổ chức một đơn vị cú pháp Các đơn vị cấu trúc của hội thoại lμ :

Cuộc thoại (cuộc tương tác)

Đoạn thoại

Cặp trao đáp

Ba đơn vị trên có tính chất lưỡng thoại, có nghĩa lμ hình thμnh do vận động trao đáp của các nhân vật hội thoại

Ngày đăng: 02/02/2021, 05:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN