: Anh (chị) hãy nêu và phân tích nhân cách của người lãnh đạo, quản lý trong tổ chức và quản lý giáo dục hiện nay? Từ đó rút ra những kết luận cần thiết cho người lãnh đạo, quản lý trong tổ chức và quản lý giao dục hiện nay. 1. Khái niệm Có một vài định nghĩa khác nhau về nhân cách như: Nhân cách: Là tổng hòa tất cả những gì hợp thành con người, một cá nhân với bản tính rõ nét: Đặc điểm thể chất, tài năng, phong cách, ý chí đạo đức, vai trò xã hội. (Từ điển Tâm lí học Nguyễn Khắc Viện. Nhà xuất bản Ngoại văn.H 1991 tr 190). Nhân cách: Là toàn bộ những đặc điểm, phẩm chất tâm lí cá nhân quy định giá trị xã hội và hành vi xã hội của họ (Phạm Minh Hạc – Tâm lí học Nhà xuất bản GD 1988 tr 85) Nhân cách là tổng hòa những phẩm chất tâm lí có tính ổn định, phản ánh nét độc đáo của mỗi cá nhân, quy định giá trị và hành vi của cá nhân và nhân cách được hình thành thông qua hoạt động, đồng thời chịu sự ảnh hưởng của môi trường xã hội, văn hóa, lịch sử… (Tạp chí tâm lí, số 6 (123), 6 – 2009). Nhân cách người lãnh đạo là tổ hợp những đặc điểm, phẩm chất tâm lí của cá nhân người lãnh đạo, quy định hành vi xã hội, giá trị xã hội (những thuộc tính thể hiện ở việc làm, cách ứng xử và hoạt động phổ biến được xã hội đánh giá) và bản sắc (cái riêng, cái đơn nhất) của cá nhân đó. . Nhân cách người lãnh đạo, quản lí không có sẵn trong cá nhân, mà phải được tạo ra, hình thành bằng giáo dục, bằng hoạt động của họ Từ đó có thể tóm lại rằng: nhân cách người lãnh đạo, quản lí là tổng hòa những phẩm chất tâm lí của một nhà chính trị, nhà tổ chức (định hướng, hợp tác và điều hành), am hiểu chuyên môn, một nhà giáo dục biểu hiện qua năng lực, phẩm chất và phong cách trong các hoạt động lãnh đạo, quản lí. Cấu trúc nhân cách người lãnh đạo, quản lí Theo quan niệm truyền thống của Việt Nam thì cấu trúc nhân cách gồm 2 mặt thống nhất với nhau là đức và tài: Đức bao gồm: phẩm chất xã hội (thế giới quan, niềm tin, lí tưởng, thái độ chính trị..); phẩm chất cá nhân (các nết, các thói, các ham muốn của con người); phẩm chất ý chí (tính kĩ luật, tính tự chủ, tính mục đích…); cung cách ứng xử (tác phong, lễ tết, tính khí…) Tài bao gồm: năng lực xã hội hóa (khả năng thích ứng, khả năng sáng tạo, động cơ, mềm dẻo…); năng lực chủ thể hóa (khả năng biểu hiện độc đáo, đặc sắc, cái riêng…); năng lực hành động (khả năng hành động có mục đích, có điều khiển, chủ động, tích cực); năng lực giao lưu (khả năng thiết lập duy trì mối quan hệ với người khác)
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN
VĂN
BÀI CUỐI KỲ TÂM LÝ HỌC ỨNG DỤNG
TP.Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2021
Trang 2Câu 1: Anh (chị) hãy nêu và phân tích nhân cách của người lãnh đạo, quản lý trong tổ chức và quản lý giáo dục hiện nay?
Từ đó rút ra những kết luận cần thiết cho người lãnh đạo, quản lý trong tổ chức và quản lý giao dục hiện nay.
1
Khái niệm
Có một vài định nghĩa khác nhau về nhân cách như:
- Nhân cách: Là tổng hòa tất cả những gì hợp thành con người, một
cá nhân với bản tính rõ nét: Đặc điểm thể chất, tài năng, phong cách,
ý chí đạo đức, vai trò xã hội (Từ điển Tâm lí học - Nguyễn Khắc Viện Nhà xuất bản Ngoại văn.H 1991 tr 190)
- Nhân cách: Là toàn bộ những đặc điểm, phẩm chất tâm lí cá nhân quy định giá trị xã hội và hành vi xã hội của họ (Phạm Minh Hạc – Tâm lí học Nhà xuất bản GD 1988 tr 85)
- Nhân cách là tổng hòa những phẩm chất tâm lí có tính ổn định, phản ánh nét độc đáo của mỗi cá nhân, quy định giá trị và hành vi của cá nhân và nhân cách được hình thành thông qua hoạt động, đồng thời chịu sự ảnh hưởng của môi trường xã hội, văn hóa, lịch sử… (Tạp chí tâm lí, số 6 (123), 6 – 2009)
- Nhân cách người lãnh đạo là tổ hợp những đặc điểm, phẩm chất tâm lí của cá nhân người lãnh đạo, quy định hành vi xã hội, giá trị xã hội (những thuộc tính thể hiện ở việc làm, cách ứng xử và hoạt động phổ biến được xã hội đánh giá) và bản sắc (cái riêng, cái đơn nhất) của cá nhân đó Nhân cách người lãnh đạo, quản lí không có sẵn trong cá nhân, mà phải được tạo ra, hình thành bằng giáo dục, bằng hoạt động của họ
Từ đó có thể tóm lại rằng: nhân cách người lãnh đạo, quản lí là tổng hòa những phẩm chất tâm lí của một nhà chính trị, nhà tổ chức (định hướng, hợp tác và điều hành), am hiểu chuyên môn, một nhà giáo dục biểu hiện qua năng lực, phẩm chất và phong cách trong các hoạt động lãnh đạo, quản lí
* Cấu trúc nhân cách người lãnh đạo, quản lí
Theo quan niệm truyền thống của Việt Nam thì cấu trúc nhân cách gồm 2 mặt thống nhất với nhau là đức và tài:
- Đức bao gồm: phẩm chất xã hội (thế giới quan, niềm tin, lí tưởng, thái độ chính trị ); phẩm chất cá nhân (các nết, các thói, các ham muốn của con người); phẩm chất ý chí (tính kĩ luật, tính tự chủ, tính mục đích…); cung cách ứng xử (tác phong, lễ tết, tính khí…)
Trang 3- Tài bao gồm: năng lực xã hội hóa (khả năng thích ứng, khả năng sáng tạo, động cơ, mềm dẻo…); năng lực chủ thể hóa (khả năng biểu hiện độc đáo, đặc sắc, cái riêng…); năng lực hành động (khả năng hành động có mục đích, có điều khiển, chủ động, tích cực); năng lực giao lưu (khả năng thiết lập duy trì mối quan hệ với người khác)
Từ đó có thể nói rằng cấu trúc nhân cách theo truyền thống của người Việt Nam là điển hình cho cấu trúc nhân cách người lãnh đạo, quản lí vì Đức bao giờ cũng được đặt lên đầu tiên: một người lãnh đạo giỏi phải biết đặt mục đích, lợi ích chung của đơn vị lên hàng đầu, nếu chỉ đặt lợi ích của cá nhân lên trên thì rất khó thành công
Ngày 21/10/1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm trường Đại học
Sư phạm Hà Nội Trong bài nói chuyện với các thầy cô giáo, sinh viên
và cán bộ, công nhân viên của nhà trường, Người đã nói: “Dạy cũng như học phải chú trọng cả tài lẫn đức Đức là đạo đức cách mạng Đó
là cái gốc, rất là quan trọng Nếu không có đạo đức cách mạng thì có tài cũng vô dụng” Để hoàn thành được sứ mệnh vẻ vang đó, mỗi người thầy giáo, cô giáo, đặc biệt là những nhà quản lý giáo dục phải không ngừng rèn luyện để luôn tiến bộ, phải có kiến thức và phương pháp giảng dạy tốt, có nhân cách đạo đức và có tình thương yêu học sinh, say mê với nghề nghiệp Bác chỉ rõ trách nhiệm của người thầy giáo, cô giáo: “Giáo viên phải chú ý cả tài, cả đức, tài là văn hóa, chuyên môn, đức là chính trị Muốn cho học sinh có đức thì giáo viên phải có đức Cho nên thầy giáo, cô giáo phải gương mẫu, nhất là đối với trẻ con”
* Các nhóm phẩm chất nhân cách của người lãnh đạo, quản lý:
- Nhóm phẩm chất chính trị - tư tưởng: thể hiện ở nhận thức và thái độ của cá nhân đối với các vấn đề chính trị ở trong nước và thế giới về quan điểm, lý tưởng giai cấp;
- Nhóm phẩm chất đạo đức, tư cách lối sống: thể hiện ra ở thái độ
và hành vi có liên quan đến tư cách cá nhân và liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ tương ứng với vai trò xã hội đảm nhận;
- Nhóm phẩm chất công tác: thể hiện ra ở hiệu quả hoạt động trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ
* Các đặc điểm chung về nhân cách người lãnh đạo, quản
lý hiện nay:
- Xu hướng cá nhân: nổi bật trước hết là lý tưởng, lập trường giai cấp, tính tư tưởng và niềm tin;
- Kết quả đào tạo về chuyên môn và tổ chức của người quản lý: vốn kiến thức văn hóa và khoa học (chuyên môn và nhất là khoa học quản lý) cùng kinh nghiệm tương ứng với yêu cầu của công tác được giao
Trang 4- Một số phẩm chất nhân cách chung:
+ Sự nhanh trí;
+ Tính cởi mở;
+ Óc suy xét sâu sắc;
+ Tính tích cực hoạt động;
+ Óc sáng kiến;
+ Tính kiên trì;
+ Tính tự kiềm chế;
+ Khả năng làm việc bền lâu;
+ Tính tổ chức, tính tự lập
- Các phẩm chất chuyên biệt:
Đây là những phẩm chất tâm lý đặc biệt, các đặc điểm chuyên biệt của năng lực tổ chức gồm:
+ Sự nhạy cảm về tổ chức (linh cảm hay trực giác tổ chức);
+ Khả năng tạo nghị lực và ý chí khơi dậy ở mọi người tính tích cực hoạt động;
+ Hứng thú đối với hoạt động quản lý
- Các phẩm chất cá biệt: Đây là những phẩm chất tâm lý đảm bảo cho người lãnh đạo thực hiện chức năng đặc trưng nhất của mình là tổng chỉ huy:
- Hiểu biết rộng là thể hiện ở trên nhiều lĩnh vực: hiểu biết chung, riêng và sâu sắc;
- Giới hạn lứa tuổi;
- Tính linh hoạt trong tác phong công tác: gắn liền với kiểu khí chất của mỗi người
Năng lực lãnh đạo, quản lý là toàn bộ những phẩm chất tâm lý giúp cho người lãnh đạo thực hiện được các nhiệm vụ quản lý và mang lại những kết quả nhất định
- Người lãnh đạo, quản lý cần có các năng lực cơ bản như:
+ Năng lực trí tuệ: Năng lực trí tuệ là khả năng vận dụng tri thức thành phương pháp và sử dụng thành thạo chúng để tiếp tục nhận thức, tìm ra bản chất, quy luật, xu hướng tất yếu của sự vật và vận dụng đúng đắn các quy luật đó trong hoạt động Người lãnh đạo, quản lý có năng lực trí tuệ: Là người có được khả năng nhận thức nhanh, nhạy, chính xác; Hình thành được tư duy logic, có hệ thống trên cơ sở thực hiện thuần thục các thao tác trí tuệ như: phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa và cụ thể hóa;
+ Năng lực tổ chức: Năng lực tổ chức là khả năng hoạch định, đề
ra một chương trình, kế hoạch; một quyết định quản lý và tổ chức thực hiện chúng đạt kết quả cao Năng lực tổ chức được thể hiện qua một số kỹ năng như: Kỹ năng ra quyết định quản lý; Kỹ năng tổ chức
Trang 5thực hiện quyết định quản lý; Kỹ năng dùng người (tuyển chọn, đào tạo và sử dụng con người),…
+ Năng lực chuyên môn: Năng lực chuyên môn là khả năng vận dụng kiến thức chuyên môn vào việc giải quyết các nhiệm vụ cụ thể Năng lực chuyên môn ở đây được thể hiện: Kỹ năng định hướng hoạt động chuyên môn; Kỹ năng chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các hoạt động chuyên; Kỹ năng kiểm tra, nhận xét, đánh giá hoạt động chuyên môn
+ Năng lực giao tiếp: Năng lực giao tiếp là khả năng thiết lập và vận hành các mối quan hệ xã hội tốt đẹp của người lãnh đạo, quản lý Năng lực giao tiếp bao gồm một số kỹ năng như: Kỹ năng định hướng,
kỹ năng định vị và điểu khiển, điều chỉnh quá trình giao tiếp; Kỹ năng
sử dụng các phương tiện giao tiếp; Kỹ năng vận dụng các yếu tố tâm
lý - xã hội nảy sinh trong giao tiếp; Kỹ năng lắng nghe và gợi mở,…
* Những phẩm chất nhân cách của người lãnh đạo
(1) Có lòng say mê làm lãnh đạo, có mục tiêu, lý tưởng rõ ràng, định hướng hoạt động nhất quán;
(2) Có tính nguyên tắc;
(3) Có tính nhạy cảm;
(4) Sự đòi hỏi cao đối với người dưới quyền;
(5) Tính chất đúng mực, tự chủ, có văn hóa trong quan hệ ứng xử của người quản lý;
(6) Một số nét tính cách khác cần cho người lãnh đạo: Phẩm chất nhân đạo chủ nghĩa; Tính công tâm; Tính quảng giao; Bình tĩnh; Tính lạc quan
- Người lãnh đạo cần tránh: lòng tham lam danh vọng, tính khoác lác; cục cằn, thô lỗ; tự cao, tự đại; tính đa nghi và lòng đố kị, hay ghen ghét; những suy nghĩ nhỏ nhen, hay chấp vặt, thiếu lòng độ
lượng; hay thiên lệch trong đối xử;…(Trần Thị Minh Hằng (2011) Giáo trình tâm lý học quản lý, Nxb Giáo dục Việt Nam tr 55 - 64)
* Những phẩm chất và năng lực cần thiết của người lãnh đạo
(1) Thể lực khỏe mạnh và tinh thần minh mẫn;
(2) Năng lực xác định mực tiêu và định hướng hoạt động của tổ chức;
(3) Trí tuệ năng động;
(4) Lòng nhiệt tình;
(5) Năng lực quan sát;
(6) Tính quyết đoán;
(7) Thành thạo về chuyên môn:
(8) Lòng nhân ái đối với mọi người;
(9) Tính trung thực;
(10) Biết lắng nghe những người dưới quyền;
Trang 6(11) Kiên nhẫn và biết thuyết phục;
(12) Đánh giá khách quan và công bằng những người dưới quyền; (13) Nghệ thuật sử dụng lời khen đối với cấp dưới
(Vũ Dũng (2006) Giáo trình tâm lý học quản lý Nxb Đại học Sư Phạm Hà Nội tr 138 - 174)
2
Nhân cách của người lãnh đạo, quản lý trong tổ chức và quản lý giáo dục hiện nay
- Là người có năng lực chuyên môn cao, kiến thức chính trị cao, làm gương trong mọi hoạt động của tổ chức, có năng lực tốt sẽ giúp ngươi lãnh đạo, quản lý tự tin khi giải quyết vấn đề, khi đưa ra mọi quyết định… Tuy nhiên tự tin vào bản thân không có nghĩa là kêu ngạo, chủ quan… Đặc biệt khi xã hội bước vào thời kì hội nhập, thời kì công nghệ lên ngôi, các nhà quản lý giáo dục luôn phải trau dồi nhiều hơn nữa kiến thức sử dụng dữ liệu số 4.0 để công việc quản lý được hiệu quả hơn Ví dụ như trong thời gian đại dịch covid diễn ra phức tạp, các cơ sở giáo dục phải thực hiện dạy học trực tuyến để hạn chế việc đến trường gây ra nhiều nguy hại cho sức khỏe cộng đồng
- Là người nhìn xa, trông rộng nhưng không suy nghĩ viển vông: Phát hiện và tạo vận mệnh cho tổ chức mà người đó lãnh đạo và biết cách truyền tầm nhìn xa đó cho những người đi theo dưới quyền Biết suy nghĩ năng động nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế Để truyền được cảm hứng, tầm nhìn và trách nhiệm cho nhân viên cấp dưới và nhất là trong lĩnh vực giáo dục, người quản lý luôn thể hiện uy tín, tầm nhìn của bản thân, chủ tịch Hồ Chí Minh là một ví dụ điển hình trong trường hợp này
- Là người giải quyết vấn đề: Nhận biết những vấn đề nảy sinh trong mỗi tổ chức giáo dục Sẵn sàng đối mặt với tư cách là người lãnh đạo, áp dụng nhiều cách tiếp cận khác nhau để giải quyết Không đùn đẩy trách nhiệm, đổ lỗi cho cấp dưới Ví dụ điển hình cho trường hợp này là thầy hiệu trưởng trường THCS Bạch Đằng quận 3
đã mạnh dạng nhận hết phần lỗi về mình khi sự viêc đáng tiếc xảy ra trong sân trường ngày hôm đó, tuy rằng nếu nhìn nhận khách quan thì trách nhiệm hoàn toàn không thuộc về thầy
- Là người xây dựng tập thể: Mang người khác lại với nhau để tạo nên một tập thể và giúp họ phát huy hết tài năng và cá tính của mình, luôn xây dựng quy tắc hoạt động cho cả nhóm và tiếp thu các ý kiến phản hồi để xây dựng tập thể ngày một tốt hơn Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại các nhà quản lý thường e ngại, nghi ngờ những người có trình độ tốt, chia tách nhân viên để dễ dàng kiểm soát nhằm tránh sự
đe dọa đến quyền lực của họ hoặc rất ít khi ủy quyền cho người khác
để tránh việc quyền lực của bản thân bị giảm đi và thường hạ thấp những người được ủy quyền… Đó đều là những sai lầm lớn của các
Trang 7nhà quản lý giáo dục hiện nay… Biết tin tưởng đến cấp dưới nhưng phải quan sát và để tâm theo dõi quá trình để kịp thời đưa ra những
hỗ trợ khi có vấn đề phát sinh Xây dựng mối quan hệ thân thiết với nhân viên của mình nhưng phải giữ được khoảng cách phù hợp Một
số nhà lãnh đạo, quản lý vẫn còn khá “khắt khe” trong việc phê duyệt cho nhân viên cấp dưới đi học, như trường hợp của chị L hiện là học viên lớp cao học Quản lý giáo dục - chị tâm sự chị đi học nhưng không muốn để sếp biết vì khi biết sếp sẽ không tạo điều kiện mà ngược lại
sẽ gây nhiều cản trở với những công việc phát sinh ngoài giờ làm
- Là một nhà quản lý giỏi: “giỏi” ở đây phải là người biết quản lý thời gian (sắp xếp và phân bố thời gian), quản lý con người, quản lý cảm xúc (khả năng kìm nén sự cáu giận), quản lý sự căng thẳng (giảm sự căng thẳng do áp lực công việc) Xây dựng thời gian biểu phù hợp nhưng phải linh hoạt để thích nghi với các điều kiện thực tế diễn ra, không làm ảnh hưởng đến cái chung của tổ chức
- Là một người truyền đạt: lắng nghe tốt, nói tốt, viết tốt, phỏng vấn tốt, biết cách huấn luyện người khác tốt Thông tin là công cụ quan trọng bậc nhất trong việc thực hiện quy trình quản lý Người quản lý phải là người nói năng, truyền đạt mạch lạc rõ ràng các quy định, thông báo, nghị quyết, phân công, yêu cầu…và quá trình tiếp nhận thông tin cũng vậy, nhất là khi tổ chức xảy ra mâu thuẫn, người quản lý luôn lắng nghe những thông tin chính xác để đưa ra những giải quyết khách quan nhằm đem lại sự công bằng cho tổ chức, uy tín cho bản thân
- Là một người kiên định: Kiên định không phải là không nghe lời khuyên của cả nhóm, không thay đổi suy nghĩ ngay cả khi đã sai, bướng bỉnh, ngang tàng và nhất định không phải là ngông cuồng Tính kiên định hàm chứa một lý tưởng mà người lãnh đạo và điều hành nhận lãnh như một sứ mệnh để phục vụ tổ chức trường học mà mình là người đứng đầu
- Là một người có lương tâm: Lương tâm có thể nói vắn tắt là sống có đạo, đạo ở đây là đạo trời, đạo sư, đạo cha mẹ…Đây là một
tư tưởng thấm nhuần trong nền văn hóa của nhân loại
- Là một người phải có uy tín, không hứa suông, công tư phân minh: công bằng, dân chủ và không xen lẫn tính chất cá nhân vào công việc từ những việc đơn giản nhất như phân công công việc, cất nhắc thăng chức… Tuy nhiên hiện tại vẫn còn một số trường tuyển dụng theo hướng “ưu tiên người nhà” gây bất công và tạo những cách nhìn tiêu cực trong nội bộ, qua đó làm cho những người dưới quyền mất niềm tin và giới hạn sự nổ lực cho những công việc được giao sau đó…
3 Những yêu cầu về nhân cách của người cán bộ lãnh đạo, quản lý hiện nay
Trang 8Nhân cách của người lãnh đạo, quản lý là sự tổng hòa giữa tài và đức, giữa phẩm chất và năng lực Trong đó, đạo đức được coi là gốc của nhân cách và tài giữ vai trò quan trọng Vì vậy, đối với người cán bộ lãnh đạo, quản lý khi rèn, luyện phát triển nhân cách phải phát triển cả tài và đức, phẩm chất và năng lực
- Bản lĩnh chính trị vững vàng, giữ lập trường giai cấp công nhân, tuyệt đối trung thành với lý tưởng cách mạng, với chủ nghĩa Mác –Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Gương mẫu trong thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
- Gần gũi, tận tụy, chăm lo đời sống của cán bộ, công nhân viên, biết phát huy sức mạnh tập thể thực hiện đúng quan điểm, định hướng của tổ chức
- Người lãnh đạo, quản lý phải là những người tự tin, nhất quán, dám nghĩ, dám làm, dám dân thân vào việc khó, quyết tâm vượt qua thử thách, thực hiện mục tiêu đã đặt
ra, không dao động trước những khó khăn, tác động bên ngoài, lời nói và hành động đi đôi với nhau, từ đó tạo lòng tin cho cấp dưới Phải có khả năng vượt qua những cám dỗ, tiêu cực của chức quyền và lợi lộc, giữ vững phẩm chất trong sáng của người cán bộ
- Phải gương mẫu về đạo đức, lối sống, thực hiện lời Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy
“cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư”, tích cực đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng
và các tệ nạn xã hội khác; đấu tranh với lối sống thực dụng, lối sống trái với đạo đức truyền thống của dân tộc, giữ gìn đoàn kết, thống nhất trong Đảng, gắn bó với nhân dân Đồng thời có trái tim nhân hậu, có khát vọng cống hiến Những phẩm chất này sẽ góp phần tạo nên uy quyền của người cán bộ lãnh đạo, quản lý đối với thuộc cấp
Câu 2: Anh (chị) hãy nêu và phân tích động cơ làm việc của người lao động (giáo viên, giảng viên, nhân viên, )? Từ đó rút ra những kết luận cần thiết cho người lãnh đạo, quản lý trong tổ chức và quản lý giao dục hiện nay.
1
Khái niệm và phân tích:
Động cơ là yếu tố thúc đẩy hành động, gắn liền với việc thỏa mãn nhu cầu của chủ thể, là toàn bộ những điều kiện bên trong và bên ngoài có khả năng khơi dậy tính tích cực của chủ thể Động cơ là nguyên nhân, là cơ sở của sự lựa chọn hành động của người lao động
và tổ chức Động cơ của con người gắn liền với nhu cầu và được hình thành từ nhu cầu Khi nhu cầu gặp đối tượng và có điều kiện thỏa mãn thì trở thành động cơ của chủ thể Động cơ là một phản ứng nối tiếp bắt đầu với sự cảm thấy có nhu cầu, dẫn đến các mong muốn, đưa tới những trạng thái căng thẳng thôi thúc và tiếp đó dẫn đến những hành động để đạt tới mục tiêu và cuối cùng thỏa mãn điều
mong muốn ( Vũ Dũng (2006) Giáo trình tâm lý học quản lý Nxb Đại
học Sư Phạm Hà Nội tr 150)
Từ những phân tích được nêu trên, có thể đưa ra khái niệm ngắn gọn về động cơ: “Động cơ chính là những gì thúc đẩy con người hành động để đạt được những mục tiêu cụ thể và thỏa mãn những nhu cầu,
kỳ vọng của họ.”
* Một số lý thuyết về động cơ làm việc:
Trang 9 Thuyết nhu cầu Maslow
Sự phân loại về các nhu cầu mà phổ biến nhất được phát triển bởi Maslow Trong hệ thống cấp bậc của nhu cầu ông đã phát triển 05 tầng chính của nhu cầu, những nhu cầu đó đã được liệt kê theo thứ tự tầm quan trọng: nhu cầu về tâm lý, nhu cầu về an toàn, nhu cầu về
xã hội, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu tự khẳng định mình
Tầng thứ nhất: Các nhu cầu về căn bản nhất thuộc "sinh lý" (physiological) - thức ăn, nước uống, nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, thở, nghỉ ngơi Đây là những nhu cầu cơ bản để con người duy trì sự tồn tại của mình Các nhu cầu cơ bản thường được ưu tiên chú ý trước
so với những nhu cầu bậc cao Với một người bất kỳ, nếu thiếu ăn, thiếu uống họ sẽ không quan tâm đến các nhu cầu về vẻ đẹp, sự tôn trọng Tuy nhiên, tuỳ theo nhận thức, kiến thức, hoàn cảnh, thứ bậc các nhu cầu cơ bản có thể đảo lộn Ví dụ như: người ta có thể hạn chế ăn, uống, ngủ nghỉ để phục vụ cho các sự nghiệp cao cả hơn Sự thành công của cá nhân chính là sự thành công của nhóm Trong các
xã hội cộng đồng nghèo khó, có thể thông qua thoả mãn nhu cầu gắn
bó, người ta có thể thỏa mãn nhu cầu an toàn cũng như nhu cầu tồn tại Tổ chức có thể làm giúp nhân viên thỏa mãn các yêu cầu này thông qua việc đáp ứng các chế độ lương, sự dễ chịu về điều kiện làm việc (được bố trí nơi nghỉ ngơi, ăn uống giữa giờ… giảm tải áp lực) Tầng thứ hai: Nhu cầu an toàn (safety) - cần có cảm giác yên tâm
về an toàn thân thể, việc làm, gia đình, sức khỏe, tài sản được đảm bảo Gia đình mà không có tiền để sống, gia đình sẽ bị chết đói Nhu cầu này thúc đẩy con người lao động để thoả mãn nhu cầu Khi nhu cầu bậc thấp được thoả mãn thì xuất hiện nhu cầu ở bậc cao hơn Theo Maslow, mỗi bậc nhu cầu ở bậc thấp được thỏa mãn thì mới xuất hiện nhu cầu ở bậc cao hơn Chính sách phúc lợi, điều kiện làm việc
an toàn, lợi ích từ công ty và những bảo đảm việc làm … có thể nói là các nhân tố từ tổ chức có thể hỗ trợ cho nhân viên, giáo viên để đáp ứng nhu cầu an toàn này
Các nhu cầu cao hơn nhu cầu cơ bản trên được gọi là nhu cầu bậc cao Những nhu cầu này bao gồm nhiều nhân tố tinh thần như sự đòi hỏi công bằng, an tâm, an toàn, vui vẻ, địa vị xã hội, sự tôn trọng, vinh danh với một cá nhân …
Tầng thứ ba: Nhu cầu xã hội được giao lưu tình cảm và được trực thuộc (love/belonging) - muốn được trong một nhóm cộng đồng nào
đó, muốn có gia đình yên ấm, bạn bè thân hữu tin cậy Tổ chức nên tạo điều kiện để nhân viên, giáo viên có thể gắn kết trong quá trình làm việc nhóm, người quản lý lãnh đạo thân thiện thúc đẩy các mối quan hệ giữa cấp trên và cấp thừa hành tốt đẹp dần lên, từ đó xây
Trang 10dựng các mối quan hệ mật thiết nhằm duy trì hiệu quả công việc cho
tổ chức…
Tầng thứ tư: Nhu cầu được quý trọng, kính mến (esteem) - cần có cảm giác được tôn trọng, kính mến, được tin tưởng Tổ chức có thể làm giúp nhân viên thỏa mãn các yêu cầu này thông qua việc công nhận chức danh, đóng góp, thăng chức, công khai khen thưởng, phản hồi tích cực từ tổ chức đến nhân viên từ công việc của chính họ xây dựng…
Tầng thứ năm: Nhu cầu về tự thể hiện bản thân cường độ cao (self - actualization) - muốn sáng tạo, được thể hiện khả năng, thể hiện bản thân, trình diễn mình, có được và được công nhận là thành đạt Người quan lý có thê giúp nhân viên thỏa mãn nhu cầu được quý trọng bằng cách giao cho nhân viên, giáo viên các nhiệm vụ thách thức trí óc họ, cơ hội giúp học sáng tạo, gặt hái thành tựu trong công viêc, đồng thời phát triển kỹ năng, đào tạo nhân viên
Theo Maslow, khi con người có nhu cầu, nhu cầu sẽ chuyển thành ham muốn, người ta sẽ có hành vi đề đạt được ham muốn, ngừơi ta
bỏ sức lực để thoả mãn nhu cầu của mình Người ta phê phán Maslow
là ông không chỉ ra phương thức chuyển hóa từ nhu cầu sang động cơ
Học thuyết tồn tại, quan hệ thân thiết và phát triển (E R G)
Học thuyết ERG được mở rộng từ tháp nhu cầu Maslow, Alderler cho rằng nhu cầu có thể được phân vào 3 nhóm thay vì 5 Ba nhóm nhu cầu là:
(1) Nhu cầu tồn tại (Existence - E) là những nhu cầu sự khỏe mạnh về mặt sinh lí và đầy đủ về mặt vật chất (Theo Maslow, gồm như cầu an toàn và nhu cầu sinh lý)
(2) Nhu cầu có quan hệ, liên kết (Relatedness - R) là nhu cầu có những mối quan hệ giữa con người với nhau
(3) Nhu cầu phát triển, trưởng thành (Growth - G) là những nhu cầu đạt được sự phát triển về mặt cảm xúc và trí tuệ (nhu cầu này gộp từ nhau cầu tự thể hệ và nhu cầu được tôn trọng của Maslow) Đầu tiên con người phải thoả mãn các nhu cầu sinh lí để tồn tại, sau mới đến các nhu cầu xã hội và nhu cầu khẳng định bản thân
Học thuyết hai yếu tố
Theo Vũ Dũng (2011) cho rằng:
Học thuyết hai yếu tố ho Herzberg đưa ta năm 1968 dựa trên quan điểm cho rằng động cơ làm việc của con người được xuất phát
từ chính công việc, chứ không xuất phát từ những phần thưởng hoặc các điều kiện làm việc Theo học thuyết này, các nhu cầu đối với công việc của con người dựa trên hai yếu tố Bản chất có tính chất sinh vật của con người, nó cũng giống như các nhu cầu sinh lí và yếu tố thể