1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tiểu luận môn pháp luật kinh tế

10 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài tiểu luận môn pháp luật kinh tế
Tác giả Phạm Hà Hương Giang
Trường học Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Pháp luật kinh tế
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 379,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thêm nữa, theo khoản 1 Điều 127 Luật Doanh nghiệp về chuyể nhượng cổ phần: Cổ phần được tự do chuyển nhượng, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 120 của Luật này và Điều lệ công ty

Trang 1

Họ và tên: Phạm Hà Hương Giang Mã Sinh viên: 1873403010463

Khóa/Lớp: (tín chỉ) CQ56/21.02_LT1 (Niên chế): CQ56/21.11

BÀI THI MÔN: PHÁP LUẬT KINH TẾ

Hình thức thi: Bài tập lớn

Mã đề thi: BTL – 08KT Thời gian thi: 1 ngày

BÀI LÀM

Câu 1:

Việc bà Hà chuyển nhượng cổ phần của mình cho bà Lan là phù hợp với quy định của pháp luật Bởi vì:

- Thứ nhất: Căn cứ vào khoản 3 Điều 120 Luật Doanh nghiệp 2020, trong thời hạn 03 năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp,

cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập được tự do chuyển nhượng cho cổ đông sáng lập khác và chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông Trong trường hợp này, việc

chuyển nhượng 200.000 cổ phần phổ thông của ông Phát cho bà Hà là phù hợp với quy định về hạn chế quyền chuyển nhượng cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập Theo đó, ngày 10 tháng 1 năm 2023 (trong thời hạn 03 năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp), được sự đồng ý của Đại hội đồng cổ đông, ông Phát đã chuyển nhượng 200.000 cổ phần phổ thông cho bà Hà - một cổ

Trang 2

đông của công ty, việc chuyển nhượng của ông Phát là hợp pháp do đã được sự đồng

ý của Đại hội đồng cổ đông

- Thứ hai: Căn cứ vào điểm b khoản 4 Điều 120 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định các hạn chế quy định tại khoản 3 Điều 120 Luật Doanh nghiệp 2020 không áp dụng đối với cổ phần phổ thông đã được chuyển nhượng cho người khác không phải

là cổ đông sáng lập Thêm nữa, theo khoản 1 Điều 127 Luật Doanh nghiệp về chuyể

nhượng cổ phần: Cổ phần được tự do chuyển nhượng, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 120 của Luật này và Điều lệ công ty có quy định hạn chế chuyển nhượng cổ phần Trường hợp Điều lệ công ty có quy định hạn chế về chuyển nhượng

cổ phần thì các quy định này chỉ có hiệu lực khi được nêu rõ trong cổ phiếu của cổ phần tương ứng Do bà Hà không phải là cổ đông sáng lập của Công ty cổ phần Hoa

Mai nên sau khi nhận chuyển nhượng cổ phần phổ thông của ông Phát đã chuyển nhượng cổ phần của mình cho bà Lan là phù hợp với quy định của pháp luật với điều kiện điều lệ công ty không có quy định về hạn chế chuyển nhượng cổ phần

theo quy định tại khoản 1 Điều 127 Luật Doanh nghiệp 2020

Câu 2:

Quan điểm của ông Phát là không phù hợp với quy định của pháp luật Bởi vì:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 113 Luật Doanh nghiệp 2020, các cổ đông phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, trừ trường hợp Điều lệ công ty hoặc hợp đồng đăng ký mua cổ phần quy định một thời hạn khác ngắn hơn

Mặt khác, theo quy định tại khoản 3 Điều 113 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định về thanh toán cổ phần đã đăng ký mua khi đăng ký thành lập doanh nghiệp,

trường hợp sau thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này, cổ đông chỉ thanh toán một phần số cổ phần đã đăng ký mua có quyền biểu quyết, nhận lợị tức và các quyền khác tương ứng với số cổ phần đã thanh toán, không được chuyển nhượng quyền mua số cổ phần chưa thanh toán cho người khác Theo quy định này, mặc dù ông

Phát đã đăng ký 2 triệu cổ phần phổ thông và 5000 cổ phần ưu đãi biểu quyết nhưng

Trang 3

đến ngày 20 tháng 5 năm 2021 (đã quá thời hạn 90 ngày), ông Phát mới thanh toán

1 triệu cổ phần phổ thông và 5000 cổ phần ưu đãi biểu quyết nên quyền biểu quyết của ông Phát tương ứng với số cổ phần đã thanh toán là 1 triệu cổ phần phổ thông

và 5000 cổ phần ưu đãi biểu quyết

Thêm vào đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 116 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định

về cổ phần ưu đãi biểu quyết là: Ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập có hiệu lực trong 03 năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Sau thời hạn ưu đãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi biểu quyết chuyển đổi thành cổ phần phổ thông Trong trường hợp này, tính đến ngày 15 tháng 3 năm 2024 công ty tổ

chức họp Đại hội đồng cổ đông là quá thời hạn 03 năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp tức là ưu đãi biểu quyết đã hết thời hạn Do

đó, 5000 cổ phần ưu đãi sẽ chuyển thành cổ phần phổ thông Theo quy định tại Điểm

a Khoản 1 Điều 115 Luật doanh nghiệp 2021 thì mỗi cổ phần phổ thông có một phiếu biểu quyết

- Đồng thời, ngày 10 tháng 1 năm 2023, ông Phát đã chuyển nhượng 200.000 cổ phần phổ thông cho bà Hà – một cổ đông của Công ty Sau đó bà Hà chuyển nhượng lại số cổ phần này cho một người bạn là bà Lan Theo khoản 6 Điều

127 Luật Doanh nghiệp 2020: Cá nhân, tổ chức nhận cổ phần trong các trường hợp quy định tại Điều này chỉ trở thành cổ đông công ty từ thời điểm các thông tin của

họ quy định tại khoản 2 Điều 122 của Luật này được ghi đầy đủ vào sổ đăng ký cổ đông thì những thông tin của bà Lan đã được ghi vào sổ đăng ký cổ đông nên bà

Lan đã trở thành cổ đông của công ty

Như vậy, số phiếu biểu quyết của ông Phát được tính là 1.000.000 phiếu của

cổ phần phổ thông cộng với 5000 phiếu của cổ phần ưu đãi biểu quyết đã chuyển đổi thành cổ phần phổ thông trừ đi 200.000 phiếu đã chuyển nhượng ngày 10 tháng

1 năm 2023 nên số phiếu biểu quyết của ông Phát trong cuộc họp ngày 15 tháng 3

là 805.000 phiếu

Câu 3:

Trang 4

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 137 Luật Doanh nghiệp 2020, do Công ty Hoa Mai

có 50 cổ đông nên công ty Hoa Mai bắt buộc phải thành lập Ban Kiểm soát Theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Luật Doanh nghiệp 2020: Công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ

phần có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật Điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Nếu công ty có nhiều hơn một người đại diện theo pháp luật thì Điều lệ công

ty quy định cụ thể quyền, nghĩa vụ của từng người đại diện theo pháp luật Trường hợp việc phân chia quyền, nghĩa vụ của từng người đại diện theo pháp luật chưa được quy định

rõ trong Điều lệ công ty thì mỗi người đại diện theo pháp luật của công ty đều là đại diện

đủ thẩm quyền của doanh nghiệp trước bên thứ ba; tất cả người đại diện theo pháp luật phải chịu trách nhiệm liên đới đối với thiệt hại gây ra cho doanh nghiệp theo quy định của

pháp luật về dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan Do vậy, công ty có 02

người đại diện theo pháp luật bao gồm: Chủ tịch Hội đồng Quản trị và Trưởng Ban Kiểm soát là phù hợp với quy định của pháp luật và Chủ tịch Hội đồng Quản trị và Trưởng Ban Kiểm soát phải chịu trách nhiệm liên đới đối với thiệt hại gây ra cho doanh nghiệp theo quy định của pháp luật có liên quan

Trong trường hợp này, Điều lệ công ty Hoa Mai chưa quy định rõ việc phân chia quyền, nghĩa vụ của từng người đại diện theo pháp luật nên mỗi người đại diện theo pháp luật của công ty đều có đủ thẩm quyền của doanh nghiệp trước bên thứ ba và tất cả người đại diện theo pháp luật phải chịu trách nhiệm liên đới đối với thiệt hại gây ra cho doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan

Như vậy, việc ông Hùng – Trưởng ban Kiểm soát – nhân danh người đại diện theo pháp luật của công ty Hoa Mai – đã ký hợp đồng mua bán với công ty TNHH hai thành viên trở lên Hoa Sen để mua 1 lô thiết bị y tế là phù hợp với quy định của pháp luật

Câu 4:

Quan hệ hợp đồng được kí hợp đồng được kí kết giữa công ty Hoa Mai và công ty Hoa Sen KHÔNG thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật tài chính Bởi vì:

Trang 5

- Pháp luật tài chính là hệ thống các qui phạm pháp luật, điều chỉnh các quan

hệ xã hội phát sinh trong hoạt động tài chính của các chủ thể, nhằm thiết lập, duy trì một trật tự xã hội nhất định đối với các hoạt động tài chính

- Đối tượng điều chỉnh của Luật tài chính là những quan hệ phát sinh gắn liền với việc hình thành và quản lý, sử dụng các nguồn vốn tiền tệ nhất định như: quỹ ngân sách nhà nước, quỹ của doanh nghiệp, quỹ của doanh nghiệp bảo hiểm được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ

- Căn cứ vào tính chất của các quan hệ tài chính, các quan hệ tài chính thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật tài chính bao gồm nhóm quan hệ tài chính công

và nhóm quan hệ tài chính tư Các quan hệ tài chính phát sinh trong hoạt động tài chính tư của các chủ thể cũng thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật tài chính

- Trong tình huống này, quan hệ hợp đồng được ký kết giữa công ty Hoa Mai

và công ty Hoa Sen là không phải là quan hệ phát sinh gắn liền với việc hình thành

và quản lý, sử dụng các nguồn vốn, quỹ tiền tệ của doanh nghiệp mà là hoạt động thương mại của các thương nhân mà cụ thể là hoạt động mua bán hàng hoá, thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật Thương mại và pháp luật doanh nghiệp

Câu 5:

Các bên không bắt buộc phải hoà giải để giải quyết tranh chấp thương mại về việc công ty Hoa Sen chậm giao hàng và gây thiệt hại cho công ty Hoa Mai Bởi vì:

- Phương thức giải quyết tranh chấp bằng hoà giải thương mại được quy định tại Nghị định 22/2017/NĐ-CP ngày 24 tháng 2 năm 2017 của Chính phủ quy định

về hoà giải thương mại Theo đó, khoản 1 Điều 5 Nghị định 22/2017/NĐ-CP ngày

24 tháng 2 năm 2017 của Chính phủ quy định về hoà giải thương mại quy định chính

sách của nhà nước về hoà giải thương mại là Khuyến khích các bên tranh chấp sử

dụng hòa giải thương mại để giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực thương mại và các tranh chấp khác mà pháp luật quy định được giải quyết bằng hòa giải thương mại

- Mặt khác, căn cứ vào khoản 1 Điều 3 Nghị định 22/2017/NĐ-CP ngày 24 tháng 2 năm 2017 của Chính phủ quy định về hoà giải thương mại định nghĩa Hòa

Trang 6

giải thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại do các bên thỏa thuận và được hòa giải viên thương mại làm trung gian hòa giải hỗ trợ giải quyết tranh chấp theo quy định của Nghị định này Đồng thời, theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Nghị định 22/2017/NĐ-CP ngày 24 tháng 2 năm 2017 của Chính phủ quy định về hoà giải thương mại thì nguyên tắc đầu tiên của giải quyết tranh chấp bằng hoà giải thương mại là Các bên tranh chấp tham gia hòa giải hoàn toàn tự nguyện

và bình đẳng về quyền và nghĩa vụ

 Từ những quy định trên có thể thấy, phương thức hoà giải thương mại là do các bên tranh chấp tự thoả thuận, pháp luật không bắt buộc các bên tranh chấp phải tiến hành hoà giải để giải quyết tranh chấp Trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình, nếu như có tranh chấp trong kinh doanh xảy ra tùy thuộc vào các tranh chấp mà các bên có thể chọn lựa một trong các phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh bằng thương lượng, hòa giải, trọng tài thương mại hoặc tòa án nếu như phương thức đó là tối ưu và bảo đảm được các yêu cầu của các bên

- Để giải quyết tranh chấp bằng hoà giải, các bên phải đáp ứng những điều kiện quy định tại Điều 6 Nghị định 22/2017/NĐ-CP ngày 24 tháng 2 năm 2017 của Chính phủ quy định về hoà giải thương mại quy định về điều kiện giải quyết tranh

chấp bằng hoà giải thương mại như sau: Tranh chấp được giải quyết bằng hòa giải thương mại nếu các bên có thỏa thuận hòa giải Các bên có thể thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng hòa giải trước, sau khi xảy ra tranh chấp hoặc tại bất cứ thời điểm nào của quá trình giải quyết tranh chấp Tức là, các bên muốn giải quyết

tranh chấp bằng hòa giải thì phải có thỏa thuận hòa giải, thỏa thuận này có thể được xác lập trước hoặc sau khi tranh chấp xảy ra hoặc tại bất cứ thời điểm nào của quá trình giải quyết tranh chấp Theo quy định tại Điều 4 Nghị định 22/2017/NĐ-CP ngày 24 tháng 2 năm 2017 của Chính phủ quy định về hoà giải thương mại thoả thuận về hoà giải thương mại của các bên phải được xác lập trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và bình đẳng, nội dung thoả thuận không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ, không xâm phạm quyền của bên thứ ba

Trang 7

Câu 6:

Trong trường hợp này, Tòa án từ chối thụ lý và giải quyết tranh chấp thương mại về việc công ty Hoa Sen chậm giao hàng và gây thiệt hại cho công ty Hoa Mai Bởi vì:

- Căn cứ ở khoản 1 Điều 5 Luật Trọng tài thương mại 2010 quy định: Tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thỏa thuận trọng tài và thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp Ở đây, sau

khi hòa giải không thành công, các bên tranh chấp muốn đưa vụ việc ra giải quyết bằng Trọng tài thương mại Trưởng ban kiểm soát của Công ty Hoa Mai – nhân danh người đại diện theo pháp luật – đã ký Thỏa thuận trọng tài với công ty Hoa Sen (thông qua người đại diện pháp luật của công ty này) Do đó, sau khi xảy ra tranh chấp, các bên tranh chấp đã có thỏa thuận trọng tài

- Theo quy định tại Điều 6 Luật Trọng tài thương mại 2010 quy định về việc

Tòa án từ chối thụ lý trong trường hợp đã có thỏa thuận trọng tài như sau: Trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Toà án thì Toà án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được Trong trường hợp này, các bên

tranh chấp đang có thỏa thuận về trọng tài mà công ty Hoa Sen khởi kiện tại Tòa án thì Tòa án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa

thuận trọng tài không thể thực hiện được

Vì thỏa thuận trọng tài vẫn đang có hiệu lực và có thể thực hiện được nên Tòa án phải từ chối thụ lý trong tình huống này

Câu 7:

Quan điểm của Luật sư là không phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành về sáp nhập công ty Bởi vì:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 201 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định: Một hoặc một số công ty (sau đây gọi là công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công

ty khác (sau đây gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản,

Trang 8

quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập Trong trường hợp này, mặc dù công ty Hoa

Mai và công ty Hoa Sen là hai công ty có loại hình doanh nghiệp khác nhau nhưng

vì Điều 201 Luật Doanh nghiệp 2020 không quy định về điều kiện doanh nghiệp khi sáp nhập công ty nên việc sáp nhập giữa công ty Hoa Mai và công ty Hoa Sen

là phù hợp với quy định của pháp luật

Câu 8:

Việc phân chia tài sản khi giải thể doanh nghiệp như trên là KHÔNG phù hợp với quy định của pháp luật Bởi vì:

- Mặc dù theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 207 và khoản 2 Điều 207 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định các trường hợp và điều kiện giải thể doanh nghiệp thì việc công ty Hoa Sen tổ chức họp Hội đồng thành viên và ra quyết định giải thể trong điều kiện đã giải quyết xong tranh chấp với công ty Hoa Mai và đủ khả năng thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác là phù hợp với quy định của pháp luật

- Tuy nhiên, việc công ty Hoa Mai phân chia tài sản như trên là không phù hợp với quy định của pháp luật về thứ tự thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp Cụ thể như sau:

Căn cứ vào khoản 5 Điều 208 Luật Doanh nghiệp 2020: Các khoản nợ của

doanh nghiệp được thanh toán theo thứ tự ưu tiên sau đây:

a) Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và các quyền lợi khác của người lao động theo thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết;

b) Nợ thuế;

c) Các khoản nợ khác;

Trang 9

Trong trường hợp này, khi phân chia tài sản, Công ty Hoa Sen đã ưu tiên thanh toán nợ thuế cho cơ quan thuế trước, sau đó mới tiếp tục thanh toán các khoản nợ của các tổ chức, cá nhân khác là không phù hợp với quy định của pháp luật về thứ tự ưu tiên thanh toán các khoản nợ khi doanh nghiệp giải thể theo quy định tại khoản 5 Điều 208 Luật Doanh nghiệp 2020

Câu 9:

Công ty cho thuê tài chính là tổ chức tín dụng thành lập dưới hình thức công ty kinh doanh theo phương thức cung ứng vốn cho khách hàng chủ yếu thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị và các loại động sản khác

Công ty Hoa Mai hoạt động trong lĩnh vực cung ứng vốn cho khách hàng chủ yếu thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị và các loại động sản Do đó công ty Hoa Mai là

tổ chức tín dụng

Căn cứ vào khoản 1 Điều 4 Luật Phá sản 2014 quy định: Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán

khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán

Thời điểm mất khả năng thanh toán được xác định từ thời điểm đáo hạn của khoản

nợ không có bảo đảm, có bảo đảm một phần đến hạn đầu tiên cộng thêm 3 tháng

Trong trường hợp này, khoản nợ không có bảo đảm, có bảo đảm một phần đến hạn sớm nhất của công ty Hoa Mai là nợ lương công nhân tháng 2 năm 2022 Nếu đến ngày 10/5/2022, công ty Hoa Mai không trả hoặc không thanh toán đủ lương cho công nhân thì doanh nghiệp sẽ bị mất khả năng thanh toán

Câu 10:

Việc làm này của các chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là không phù hợp với quy định của pháp luật Bởi vì theo quy định, công ty Hoa Mai là một tổ chức tín dụng bị mất khả năng thanh toán Cụ thể như sau:

Trang 10

Căn cứ vào Điều 98 Luật Phá sản năm 2014 quy định về Quyền, nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì những chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản sau khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc văn bản chấm dứt áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán

mà tổ chức tín dụng vẫn mất khả năng thanh toán thì những người sau đây có quyền, nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản bao gồm:

- Chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần

- Người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở những nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở

- Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 20% số cổ phần phổ thông trở lên trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng

- Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu dưới 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi công ty cổ phần mất khả năng thanh toán trong trường hợp Điều lệ công ty quy định

Như vậy, việc khi công ty Hoa Mai bị mất khả năng thanh toán thì ngay lập tức những chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu theo Điều 5 Luật Phá sản năm 2014 trong tình huống trên đã gửi đơn đến toà án có thẩm quyền yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với công

ty Hoa Mai là không phù hợp với quy định của pháp luật, chỉ sau khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc văn bản chấm dứt áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán mà tổ chức tín dụng vẫn mất khả năng thanh toán thì mới có quyền nộp đơn

Ngày đăng: 21/08/2023, 08:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w