1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu Luận - Pháp Luật Kinh Doanh Quốc Tế - Đề Tài - Nghiên Cứu Dịch Vụ Có Yếu Tố Quốc Tế Và Hợp Đồng Cung Ứng Dịch Vụ Quốc Tế

30 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Dịch Vụ Có Yếu Tố Quốc Tế Và Hợp Đồng Cung Ứng Dịch Vụ Quốc Tế
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Pháp luật kinh doanh quốc tế
Thể loại Luận Văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 66,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC MỤC LỤC 1 LỜI MỞ ĐẦU 3 CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ DỊCH VỤ CÓ YẾU TỐ QUỐC TẾ VÀ HỢP ĐỒNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ QUỐC TẾ 4 1 Khái quát về dịch vụ có yếu tố quốc tế 4 1 1 Khái niệm dịch vụ có yếu tố quốc tế[.]

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

LỜI MỞ ĐẦU 3

CHƯƠNG I : KHÁI QUÁT VỀ DỊCH VỤ CÓ YẾU TỐ QUỐC TẾ VÀ HỢP ĐỒNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ QUỐC TẾ 4

1 Khái quát về dịch vụ có yếu tố quốc tế 4

1.1 Khái niệm dịch vụ có yếu tố quốc tế 4

1.2 Phân loại dịch vụ có yếu tố quốc tế tại Việt Nam 4

1.3 Vai trò của dịch vụ có yếu tố quốc tế đối với Việt Nam 5

2 Tổng quan về hợp đồng cung ứng dịch vụ quốc tế 6

2.1 Khái niệm 6

2.2 Đặc điểm của hợp đồng cung ứng dịch vụ quốc tế 7

2.3 Phân loại hợp đồng cung ứng dịch vụ quốc tế 7

CHƯƠNG II: GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ QUỐC TẾ 9

1 Nội dung của hợp đồng cung ứng dịch vụ quốc tế 9

1.1 Điều khoản về dịch vụ và chất lượng dịch vụ 9

1.2 Điều khoản về phương thức cung ứng dịch vụ 9

2 Nghĩa vụ của các bên 10

2.1 Nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ 10

2.2 Nghĩa vụ của bên sử dụng dịch vụ (khách hàng) 10

3 Phân biệt với hợp đồng có yếu tố quốc tế khác 10

3.1 Sự khác nhau giữa hợp đồng cung ứng dịch vụ và hợp đồng mua bán hàng hóa 11

3.2 So sánh với hợp đồng đầu tư quốc tế 12

CHƯƠNG III: TÌM HIỂU THÊM VỀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ CÓ YẾU TỐ QUỐC TẾ 16

1 Dịch vụ phân phối (bán buôn, bán lẻ, đại lý hoa hồng, nhượng quyền thương mại) 16

1.1 Dịch vụ Logistic 16

1.2 Nhượng quyền thương mại 17

1.3 Dịch vụ quảng cáo 18

2 Dịch vụ xã hội 18

Trang 2

2.1 Dịch vụ bưu chính, viễn thông 19

2.2 Dịch vụ y tế 19

2.3 Dịch vụ giáo dục 19

2.4 Dịch vụ nghe nhìn 20

3 Dịch vụ sản xuất 20

3.1 Ngành kiểm toán, kế toán, thuế 20

3.2 Ngành ngân hàng 24

4 Dịch vụ cá nhân 26

KẾT LUẬN 28

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 29

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Việt Nam đã và đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế mạnh mẽ, chính

vì vậy nguồn lực kinh tế để phục vụ quá trình này là vô cùng quan trọng, tận dụng yếu

tố quốc tế trong việc xây dựng, phát triển đất nước đối với chúng ta là vô cùng quan trọng Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa là định hướng mà Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra, trong đó phát triển ngành dịch vụ là việc cốt yếu để thực hiện được điều đó Dịch vụ đã tồn tại ở Việt Nam từ rất lâu, tuy nhiên còn ở quy mô nhỏ lẻ manh mún, trong kỷ nguyên thông tin ngày nay, việc tận dụng các nguồn lực có yếu tố nước ngoài sẽ giúp chúng ta phát triển ngành dịch vụ nhanh hơn, bền vững hơn Điều đó cho ta thấy vai trò của cung cấp dịch vụ có yếu tố quốc tế

là vô cùng quan trọng, cấp thiết trong bối cảnh hiện nay của nước ta Đi kèm với phát triển là phải có sự quản lý của cơ quan chức năng nhằm định hướng đúng và điều tiết hợp lý theo đúng mục đích của chúng ta, chính vì vậy đòi hỏi pháp luật phải theo đúngnhu cầu cấp thiết của thực tế Để tìm hiểu sâu thêm về vấn đề đó, nhóm em sẽ giới thiệu và tìm hiểu một số vấn đề cơ bản về “Pháp luật Việt Nam về hợp đồng cung ứng dịch vụ có yếu tố quốc tế” Do giới hạn về mặt thời gian và hạn chế về mặt hiểu biết, bài tiểu luận của nhóm không tránh khỏi những thiếu sót Hi vọng sẽ nhận được sự quan tâm, góp ý của cô giáo và các bạn để bài tập nhóm của chúng em được hoàn thiệnhơn

Chúng em xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

CHƯƠNG I : KHÁI QUÁT VỀ DỊCH VỤ CÓ YẾU TỐ QUỐC

TẾ VÀ HỢP ĐỒNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ QUỐC TẾ

1 Khái quát về dịch vụ có yếu tố quốc tế.

1.1 Khái niệm dịch vụ có yếu tố quốc tế.

Dịch vụ là gì? Có rất nhiều định nghĩa về dịch vụ nhưng có một định nghĩa

được thừa nhận rộng rãi nhất đó là: “ Dịch vụ là một loại sản phẩm vô hình, phi vậtchất không thể lưu trữ được.” Định nghĩa này cũng đã nêu lên được các đặc điểmchính của dịch vụ đó là các đặc điểm sau:

- Tính đồng thời: có nghĩa là sự sản xuất và tiêu dùng dịch vụ thường diễn ra

đồng thời

- Tính không thể tách rời: Sản xuất và tiêu dùng dịch vụ không thể tách rời, điều

này cũng thể hiện rõ qua tính đồng thời của dịch vụ, nghĩa là nếu thiếu một trong haimặt sản xuất hoặc tiêu dùng thì “hàng hóa đặc biệt” là dịch vụ sẽ không sinh ra

- Tính không đồng nhất: các dịch vụ khác nhau sẽ có chất lượng không giống

nhau

- Tính vô hình: dịch vụ không có hình hài rõ rệt, không tồn tại dưới dạng vật chất

nên không cầm nắm được, không thể nhìn thấy được

- Tính không lưu trữ được: Do sản xuất và tiêu dùng luôn diễn ra đồng thời,

không thể tách rời vì thế dịch vụ không thể lưu trữ được có nghĩa là không có hàng tồnkho là dịch vụ

Dịch vụ có yếu tố quốc tế là dịch vụ trong đó có xuất hiện yếu tố quốc tế như cócác chủ thể tham gia vào quá trình cung cấp dịch vụ ở các quốc gia khác nhau, sảnphẩm dịch vụ được cung cấp qua các quốc gia khác nhau hoặc các sự kiện pháp lý nhưxác lập, thay đổi và chấm dứt các quan hệ pháp luật xảy ra ở nước ngoài Dịch vụ cóyếu tố quốc tế có tất cả các đặc điểm cơ bản của dịch vụ.Ngoài ra còn có thêm yếu tốquốc tế trong hoạt động cung cấp dịch vụ

1.2 Phân loại dịch vụ có yếu tố quốc tế tại Việt Nam.

Căn cứ vào yếu tố thương mại thì dịch vụ sẽ được chia ra làm hai nhóm: dịch

vụ mục đích vì thương mại và dịch vụ có mục đích phi thương mại Ví dụ như: các

Trang 5

với nhau Nếu dựa vào mục tiêu của dich vụ có thể phân dịch vụ thành bốn nhómchính sau:

- Dịch vụ phân phối: vận chuyển, lưu kho,bán buôn, bán lẻ, quảng cáo, môi

giới…

- Dịch vụ sản xuất: bao gồm các nhóm dịch vụ như ngân hàng, tài chính, bảo

hiểm, các dịch vụ tư vấn như kỹ sư, thiết kế công trình, kế toán, kiểm toán, dịch vụpháp lý…

- Dịch vụ xã hội: gồm có dịch vụ sức khỏe, y tế, giáo dục, dịch vụ bưu điện, viễn

thông, vệ sinh, các dịch vụ nghe nhìn và xã hội khác…

- Dịch vụ cá nhân: dịch vụ sửa chữa,dịch vụ du lịch, khách sạn, nhà hàng, các

dịch vụ giải trí, văn hóa…

Trên đây là cách phân loại dịch vụ tổng quan, tuy nhiên đối với dịch vụ cóyếu tố quốc tế mặc dù cũng được phân thành bốn nhóm như trên nhưng sự đa dạng lạikhông có nhiều bởi Việt Nam là một nước đang phát triển, là một nước nông nghiệpnên tỷ trọng các ngành dịch vụ là thấp, chưa phát triển được mạnh Và chính vấn đề vềcung cấp dịch vụ thiết yếu cho tiêu dùng hiện nay như: điện, nước, giáo dục, y tế làmột bài toán rất khó đòi hỏi chúng ta phải có giải pháp Nếu chỉ dựa vào nguồn lựctrong nước thì khó lòng mà đáp ứng, phục vụ kịp theo sự phát triển quá nóng của nềnkinh tế và sự gia tăng dân số tại Việt Nam Vì vậy, có sự tham gia của nguồn lực bênngoài, sự hợp tác, giúp đỡ đến từ quốc tế là cần thiết trong bối cảnh hiện nay

1.3 Vai trò của dịch vụ có yếu tố quốc tế đối với Việt Nam.

Như đã phân tích ở trên, dịch vụ có yếu tố quốc tế là rất cần thiết cho sự pháttriển của Việt Nam trong bối cảnh hiện nay Nó có các vai trò quan trọng chính sau đốivới Việt Nam:

- Thúc đẩy, phát triển môi trường cạnh tranh lành mạnh của các ngành dịch vụchính, thiết yếu đang bị độc quyền hoặc có rất ít nhà cung cấp tại Việt Nam

- Nâng cao tính cạnh tranh cho các doanh nghiệp Việt Nam về cung ứng dịch vụ

- Góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại Việt Nam theo hướng công nghiệphóa, hiện đại hóa Tạo ra nhiều cơ hội việc làm hơn cho lao động, đem lại nguồn lựcmới cho đất nước có gồm nguồn thu ngoại tệ cần thiết

Trang 6

- Tham gia mạnh mẽ hơn vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, cũng như toàncầu hóa.

Thực tế tại Việt Nam dịch vụ có yếu tố quốc tế đang phát triển rất mạnh mẽ và

là ngành rất hấp dẫn, tạo ra nhiều việc làm đối với lực lượng lao động Các ngành dịch

vụ như: giáo dục, y tế, tài chính, ngân hàng, kế toán, kiểm toán cũng như các dịch vụ

tư vấn pháp lý, thiết kế… có yếu tố quốc tế đã và đang trở thành một phần không thểthiếu của nền kinh tế nước ta Có thể nói sự phát triển của các hoạt động đó đã gópphần không nhỏ vào việc tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao cho nước ta Tuy cónhiều mặt hữu ích từ các hoạt động đó nhưng cũng có nhiều bất cập sinh ra từ sự pháttriển chóng mặt này như các tranh chấp phát sinh, sự lũng đoạn, thao túng ảnh hưởngkhông nhỏ tới nền kinh tế… điều này đòi hỏi phải có sự quản lý mạnh tay từ các cơquan của Nhà nước cũng như xã hội được thực hiện bằng pháp luật Vậy, pháp luậtViệt Nam đã quy định như thế nào để quản lý tốt hoạt động cung ứng dịch vụ có yếu

tố quốc tế này?

2 Tổng quan về hợp đồng cung ứng dịch vụ quốc tế.

2.1 Khái niệm.

- Hợp đồng cung ứng dịch vụ:

Theo Điều 3 khoản 9 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005: Hợp đồng cung

ứng dịch vụ là thỏa thuận, theo đó một bên (bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (sau đây gọi

là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ

theo thỏa thuận

- Hợp đồng cung ứng dịch vụ quốc tế:Một hợp đồng cung ứng dịch vụ sẽ được

coi là có yếu tố quốc tế khi có một trong các yếu tố sau:

 Bên cung ứng dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ có nơi cư trú tại các quốc giakhác nhau (đối với các chủ thể hợp đồng là công ty thì có thể lấy trụ sở thương mại

làm tiêu chí) Điểm này được quy định rõ hơn tại Điều 75 Luật Thương mại Việt Nam

năm 2005

 Địa điểm cung ứng dịch vụ là ở lãnh thổ nước ngoài

Trang 7

2.2 Đặc điểm của hợp đồng cung ứng dịch vụ quốc tế.

Hợp đồng cung ứng dịch vụ quốc tế có những đặc điểm của hợp đồng cung ứng

dịch vụ thông thường (Điều 74, 76 Luật Thương mại Việt Nam 2005):

- Chủ thể:gồm bên cung ứng dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ (còn gọi là khách

hàng)

- Đối tượng: là một loại hình dịch vụ nào đó (VD: dịch vụ quảng cáo, dịch vụ tư

vấn, dịch vụ ngân hàng, dịch vụ photocopy,…) Đối với các dịch vụ cấm kinh doanh,dịch vụ hạn chế kinh doanh và dịch vụ kinh doanh có điều kiện được quy định tại Điều

76 Luật Thương mại 2005

- Nội dung: quyền và nghĩa vụ của hai bên, trong đó bên cung ứng dịch vụ có

nghĩa vụ chủ yếu là thực hiện dịch vụ cho bên kia, còn bên sử dụng dịch vụ có nghĩa

vụ chủ yếu là thanh toán phí sử dụng dịch vụ

- Hình thức: văn bản, lời nói hoặc hành vi cụ thể Được quy định tại Điều 74

Luật Thương mại 2005

Ngoài những yếu tố quốc tế kể trên thì hợp đồng cung ứng dịch vụ còn có cácđặc điểm:

- Chủ thể của hợp đồng thường là các cá nhân/tổ chức có nơi cư trú/trụ sở thươngmại tại các quốc gia khác nhau Cũng có trường hợp cả bên cung ứng dịch vụ và bên

sử dụng dịch vụ đều tại Việt Nam, nhưng dịch vụ được cung ứng ở nước ngoài, thì hợpđồng này vẫn được coi là hợp đồng cung ứng dịch vụ quốc tế

- Địa điểm cung ứng dịch vụ có thể là tại nước ngoài đối với một trong hai bêncủa hợp đồng

- Đồng tiền thanh toán có thể là ngoại tệ đối với các bên của hợp đồng

- Luật áp dụng cho hợp đồng này có thể là luật nước ngoài đối với một trong haibên của hợp đồng, có thể là các điều ước quốc tế liên quan hoặc các tập quán quốc tếtrong lĩnh vực kinh doanh tương ứng

- Cơ quan giải quyết tranh chấp liên quan đến hợp đồng có thể là tòa án nướcngoài, trọng tài nước ngoài đối với các bên trong hợp đồng

2.3 Phân loại hợp đồng cung ứng dịch vụ quốc tế

Dựa theo cách phân loại các ngành dịch vụ của WTO, có thể chia các hợp đồngcung ứng dịch vụ quốc tế thành:

Trang 8

- Hợp đồng cung ứng dịch vụ kinh doanh (VD: dịch vụ máy tính, dịch vụ chothuê máy móc,…).

- Hợp đồng cung ứng dịch vụ truyền thông (VD: dịch vụ bưu điện, dịch vụ viễnthông,…)

- Hợp đồng cung ứng dịch vụ xây dựng và kỹ sư công trình (VD: dịch vụ đại lý,dịch vụ thương mại bán buôn, bán lẻ,…)

Trang 9

CHƯƠNG II: GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG CUNG

ỨNG DỊCH VỤ QUỐC TẾ

1 Nội dung của hợp đồng cung ứng dịch vụ quốc tế.

Khi nghiên cứu nội dung của hợp đồng cung ứng dịch vụ quốc tế, cần lưu ý hai điều khoản: Điều khoản về dịch vụ và chất lượng dịch vụ và Điều khoản về phương thức cung ứng dịch vụ

1.1 Điều khoản về dịch vụ và chất lượng dịch vụ.

Do dịch vụ có tính vô hình, khó nắm bắt nên điều khoản về công việc phải thựchiện và chất lượng dịch vụ là rất quan trọng Điều khoản này sẽ là cơ sở pháp lý quantrọng để giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa các bên của hợp đồng Vì vậy, điềukhoản này cần được quy định càng rõ ràng, càng chi tiết càng tốt Cụ thể, cần nêu rõ:

- Đối tượng được cung ứng là gì? Ví dụ: với dịch vụquảng cáo, cần nêu rõ đối

tượng cần quảng cáo là gì; với dịch vụ tư vấn pháp lý cần nêu rõ mục đích và nội dung

tư vấn; với các hợp đồng cung ứng dịch vụ xây dựng thì đối tượng có thể là thiết kế, tưvấn thiết kế, tư vấn xây dựng,…

- Yêu cầu đối với chất lượng dịch vụ là gì? Đối với trường hợp nghĩa vụ của bên

cung ứng dịch vụ là nghĩa vụ theo kết quả công việc thì phải quy định rõ các kết quả

mong muốn đạt được (cụ thể tại Điều 79 Luật thương mại Việt Nam năm 2005) Còn

trong trường hợp nghĩa vụ theo nỗ lực và khả năng cao nhất, khách hàng yêu cầu bêncung ứng dịch vụ phải nỗ lực cao nhất để đạt được kết quả mong muốn thì bên cungứng phải thực hiện nghĩa vụ cung ứng dịch vụ đó với nỗ lực và khả năng cao nhất (

Điều 80 Luật Thương mại Việt Nam 2005).

1.2 Điều khoản về phương thức cung ứng dịch vụ.

Phương thức cung ứng dịch vụ là khác nhau tùy thuộc vào loại hợp đồng Các

hợp đồng có thể được cung ứng với phương thức:

- Trọn gói, theo đơn giá, theo thời gian hay theo tỷ lệ phần trăm (Đối với hợp

đồng xây dựng) Cũng cần quy định rõ có được sử dụng nhà thầu phụ hay không

- Chuyên chở và giao hàng một lần/nhiều lần, có chuyển tải hay không (Đối với

hợp đồng chuyên chở)

Trang 10

- Qua điện thoại, trao đổi bẳng thư, gửi chuyên gia tư vấn,… (Đối với các dịch vụ

tư vấn)

- Trực tiếp, từ xa hay trực tuyến,… (Đối với dịch vụ đào tạo).

2 Nghĩa vụ của các bên

2.1 Nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ

Được quy định tại Điều 78, 79, 80 Luật Thương mại Việt Nam 2005.

Điều 78 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 quy định bên cung ứng dịch vụ có nghĩa vụ:

- Cung ứng các dịch vụ và thực hiện những công việc có liên quan một cách đầy

đủ, phù hợp với thỏa thuận và theo quy định của Luật này Bên cung ứng dịch vụ phảithực hiện các công việc theo đúng quy định trong hợp đồng và trong thời hạn đã thỏathuận trong hợp đồng

- Bảo quản và giao lại cho khách hàng tài liệu và phương tiện được giao để thực

hiện dịch vụ sau khi hoàn thành công việc

- Thông báo ngay cho khách hàng trong trường hợp thông tin, tài liệu không đầy

đủ, phương tiện không bảo đảm để hoàn thành việc cung ứng dịch vụ

- Giữ bí mật về thông tin mà mình biết được trong quá trình cung ứng dịch vụ

nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định

2.2 Nghĩa vụ của bên sử dụng dịch vụ (khách hàng).

Điều 85 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 quy định khách hàng có nghĩa vụ:

- Thanh toán tiền cung ứng dịch vụ như theo giá và thời hạn đã thỏa thuận trong

hợp đồng

- Cung cấp kịp thời các kế hoạch, chỉ dẫn và những chi tiết khác để việc cung

ứng dịch vụ được thực hiện không bị trì hoãn hay gián đoạn

- Hợp tác trong tất cả những vấn đề cần thiết khác để bên cung ứng có thể cung

ứng dịch vụ một cách thích hợp

- Trường hợp một dịch vụ do nhiều bên cung ứng dịch vụ cùng tiến hành hoặc

phối hợp với bên cung ứng dịch vụ khác, khách hàng có nghĩa vụ điều phối hoạt độngcủa các bên cung ứng dịch vụ để không gây cản trở đến công việc của bất kỳ bên cungứng dịch vụ nào

3 Phân biệt với hợp đồng có yếu tố quốc tế khác.

Trang 11

3.1 Sự khác nhau giữa hợp đồng cung ứng dịch vụ và hợp đồng mua bán hàng hóa.

- Về nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ: Nếu căn cứ vào kết quả của việc thực

hiện hợp đồng thì có thể phân nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ thành hai loại lànghĩa vụ cung ứng dịch vụ theo kết quả công việc và nghĩa vụ cung ứng dịch vụ theo

nỗ lực và khả năng cao nhất Trong khi đó, đối với hợp đồng mua bán hàng hóa, người

ta không thể làm công việc tương tự như vậy Bởi lẽ đối với một hợp đồng mua bánhàng hóa thì nghĩa vụ của người bán thường là nghĩa vụ kết quả, đó là việc phải cungcấp cho người mua một lô hàng nhất định mà các tiêu chí phải được xác định một cách

cụ thể Còn dịch vụ có tính vô hình và được thực hiện bởi những người cung cấp khácnhau, ở những thời gian, địa điểm khác nhau và có cả sự can thiệp của khách hàngtrong quá trình tạo ra dịch vụ Điều đó đã tạo nên tính không ổn định của dịch vụ Do

đó khó có thể kiểm tra trước chất lượng dịch vụ hay khó xác định kết quả cụ thể, vàđiều này gây khó khăn cho khách hàng trong quản lý chất lượng của dịch vụ Vìvậy,trong hợp đồng cung ứng dịch vụ phải quy định rõ các kết quả mong muốn đạtđược nếu là trường hợp nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ là nghĩa vụ theo kết quảcông việc Còn trong trường hợp nghĩa vụ theo nỗ lực và khả năng cao nhất, các bên

có thể thỏa thuận rằng bên cung ứng dịch vụ phải nỗ lực cao nhất để đạt được kết quảmong muốn Để đánh giá việc thực hiện một nghĩa vụ cung ứng dịch vụ theo nỗ lực vàkhả năng cao nhất, tòa án và trọng tài thường dựa trên cơ sở so sánh nỗ lực của bêncung ứng dịch vụ với các cố gắng của một cá nhân bình thường có cùng khả năng thực

hiện trong cung một hoàn cảnh tương tự (Điều 79, 80 Luật thương mại 2005).

- Trường hợp theo thỏa thuận hoặc dựa vào tình hình cụ thể, một dịch vụ do

nhiều bên cung ứng dịch vụ cùng tiến hành hoặc phối hợp với bên cung ứng dịch vụkhác thì có thể xảy ra tình trạng người cung ứng dịch vụ này gây cản trở hoặc làmchậm tiến độ của người cung ứng dịch vụ khác Vì vậy, trong hợp đồng cung ứng dịch

vụ có thêm điều khoản quy định về nghĩa vụ hợp tác giữa các bên cung ứng dịch vụ.Trong quá trình thực hiện dịch vụ, các nhà cung ứng phải tiến hành trao đổi, thông tincho nhau về tiến độ công việc và yêu cầu của mình có liên quan đến việc cung ứngdịch vụ, đồng thời phải cung ứng dịch vụ vào thời gian và theo phương thức phù hợp

để không gây cản trở đến hoạt động của bên cung ứng dịch vụ đó; và phải tiến hành

Trang 12

bất kỳ hoạt động hợp tác cần thiết nào với các bên cung ứng dịch vụ khác (Điều 81 –

Luật thương mại 2005)

- Về nghĩa vụ của bên mua, ngoài những nghĩa vụ thanh toán tiền mua, nhận

hàng dịch vụ, tuân thủ các phương thức, trình tự thủ tục thanh toán theo thỏa thuận vàquy định của pháp luậtthì trong hợp đồng cung ứng dịch vụ,khách hàng còn được quyđịnh thêm nghĩa vụ: Cung cấp kịp thời các kế hoạch, chỉ dẫn và những chi tiết khác đểviệc cung ứng dịch vụ được thực hiện không bị trì hoãn hay gián đoạn; Hợp tác trongtất cả những vấn đề cần thiết khác để bên cung ứng có thể cung ứng dịch vụ một cáchthích hợp Trường hợp một dịch vụ do nhiều bên cung ứng dịch vụ cùng tiến hànhhoặc phối hợp với bên cung ứng dịch vụ khác, khách hàng có nghĩa vụ điều phối hoạtđộng của các bên cung ứng dịch vụ để không gây cản trở đến công việc của bất kỳ bêncung ứng dịch vụ nào.Như vậy bên mua trong hợp đồng cung ứng dịch vụ phải thực

hiện nhiều nghĩa vụ hơn so với hợp đồng mua bán hàng hóa (Điều 85 - Luật thương

mại 2005)

- Trong hợp đồng mua bán hàng hoá thông thường, nếu đã đến thời hạn giao

hàng theo thỏa thuận trong hợp đồng mà người bán chưa giao đủ hoặc chưa giao thìngười mua có quyền từ chối nhận hàng hoặc nhận hàng và yêu cầu người bán bồithường thiệt hại Tuy nhiên, một đặc thù của hợp đồng cung ứng dịch vụ là việc thựchiện cung ứng dịch vụ thường kéo dài trong một khoảng thời gian nhất định Từ đặcthù này mà trong hợp đồng cung ứng dịch vụ có điều khoản tiếp tục hợp đồng dịch vụ.Sau khi đã kết thúc thời hạn dịch vụ mà công việc chưa hoàn thành và bên cung ứngdịch vụ vẫn tiếp tục thực hiện công việc, còn bên thuê dịch vụ biết nhưng không phảnđối thì hợp đồng dịch vụ đương nhiên được tiếp tục thực hiện theo nội dung đã thỏa

thuận cho đến khi công việc được hoàn thành (Điều 526 – Bộ luật dân sự 2005).

3.2 So sánh với hợp đồng đầu tư quốc tế.

Trang 13

Tiêu

chí HĐ cung ứng DVQT

HĐ Đầu tư quốc tế

HĐ liên doanh HĐ hợp tác kinh doanh (Hợp

đủ năng lực theo quy định của pháp luật liên quan Số lượng chủ thể phải lớn hơn 2

và không có giới hạn tối đa

HĐ có thể được

ký giữa: Nhà đầu tư (có thể làNĐT trong nước và

nước ngoài) và cơ quan nhà nước có thẩm quyền (các Bộ,

cơ quan ngang Bộ, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc TW hoặc các cơ quan trực thuộc các cơ quan này được ủy quyền ký kết HĐ)

+ Một số nhà đầu

tư VN với nhau

+ Một/một số nhàđầu từ VN với một/một số nhà đầu tư nước ngoài

Các công trình kết cấu hạ tầng

CP về hướng dẫn thi hành luật đầu tư (Bao gồm 11 nội dung)

Ngoài ra nội dung của HĐ còn bao gồm các nội dung khác mà các

Được quy định tạiĐiều 55 54 Nghị định

108/2006/NĐ-CP

về hướng dẫn thi hành luật đầu tư (Bao gồm 9 nội dung) Ngoài ra nội dung của HĐ còn bao gồm các nội dung khác màcác bên liên doanh thỏa thuận thêm mà không

Trường ĐH Ngoại Thương, TS.NguyễnMinh Hằng, Giáo trình PLKDQT, NXB ĐH Quốc Gia

HN, trang 417, 418

và 419

Trang 14

trái với quy định của pháp luật.

ký vào từng trang và ký đầy

đủ vào cuối HĐ

Giống HĐ liên doanh

hai bên của HĐ

Luật quốc gia Việt Nam (có thể là luật đầu

tư, luật thương mại…)

Pháp luật chuyên ngành trong các lĩnh vực (VD: lĩnh vực tài chính, lĩnh vực khai thác khoáng sản…)Ngoài ra còn cócác điều ước quốc tế liên quan, pháp luậtnước ngoài và tập quán đầu tưquốc tế trong

Là pháp luật về đầu tư của Việt Nam và pháp luật chuyên ngành nếuBCC được ký kết giữa các nhà đầu

tư VN với nhau

Nếu có thêm sự tham gia của các bên nước ngoài vào HĐ thì HĐ còn được điều chỉnh bởi các điềuước quốc tế có liên quan và các tập quán đầu từ quốc tế nếu luật

VN chưa có quy định

Luật đầu tư 2005, Nghị định 108/2009/NĐ-CP; Thông tư số03/2011/TT-

BKHĐT do Bộ Kế hoạch và Đầu tư banthành Ngoài ra, đối với các HĐ có yếu

tố nước ngoài, còn

có luật nước ngoài theo thỏa thuận của các bên

Trang 15

pháp luật Việt Nam chưa có quy định.

tế, trọng tài do các bên tranh chấp thỏa thuậnlựa chọn

Có thể là toán án

VN, trọng tài VN

Nếu BCC có thêm yếu tố nước ngoài thì có tòa

án quốc tế, trọng tài do các bên tranh chấp thỏa thuận lựa chọn

Tổ chức trọng tài, tòa án Việt Nam, hoặc hội đồng trọng tài do các bên thỏa thuận thành lập

Ngày đăng: 10/06/2023, 01:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w