MỤC LỤ 1 TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ QUY ĐỊNH BỞI PHÁP LUẬT CỘNG HÒA PHÁP I TỔNG QUAN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ ĐƯỢC PHÁ[.]
Trang 2I TỔNG QUAN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ ĐƯỢC PHÁP LUẬT CỘNG
HÒA PHÁP QUY ĐỊNH 3
1 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế: 3
2 Điều kiện hiệu lực của hợp đồng mua bán quốc tế: 4 điều kiện (Đ1108-LDS) 3
3 Giao kết hợp đồng 3
4 Nguồn luật điều chỉnh 3
4.1 Tư pháp quốc tế 3
4.2 Tập quán thương mại quốc tế: Lex Mercatoria 3
4.3 Công ước quốc tế và luật áp dụng 3
II) ĐIỀU KHOẢN CHỦ YẾU CỦA HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ ĐƯỢC QUY ĐỊNH TRONG LUẬT CỘNG HÒA PHÁP 3
1 Hai điều khoản chủ yếu 3
1.1 Đối tượng 3
1.2 Giá cả 3
2 Nghĩa vụ các bên 3
2.1 Nghĩa vụ người bán 3
2.2 Nghĩa vụ người mua 3
III.VÍ DỤ VỀ TRANH CHẤP VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐCTẾ ĐƯỢC LUẬT PHÁP CỘNG HÒA PHÁP GIẢI QUYẾT 3
1 Các bên 3
2 Tóm tắt vụ việc 3
3 Diễn biến vụ kiện 3
3.1.Các lí lẽ công ty A đưa ra 3
3.2 Phán quyết của tòa án 3
TÀI LIỆU THAM KHẢO 3
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Trao đổi hàng hóa là hoạt động chính trong thương mại, là cầu nối giữa sảnxuất và tiêu dùng Trong hoạt động kinh doanh nói chung và kinh doanh quốc tếnói riêng, mua bán hàng hóa là một nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu Khi hai bên tiếnhành mua bán hàng hóa với nhau thì nảy sinh một hình thức được hai bên thỏathuận có thể bằng miệng, bằng văn bản, bằng email hoặc bằng fax…mà người tagọi là hợp đồng mua bán hàng hóa
Loại hợp đồng này rất phong phú, được điều chỉnh bởi nhiều nguồn luật, làmột phần không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh Việc nắm vững, hiểu rõ cácquy định của pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa sẽ giúp các chủ thể kinhdoanh, ký kết và thực hiện hợp đồng được thuận lợi, an toàn và hiệu quả, tránh cáctranh chấp, rủi ro đáng tiếc
Đây cũng là nội dung mà chúng em được học tập, tìm hiểu qua môn học Phápluật kinh doanh quốc tế và qua các môn học bằng Tiếng Pháp ở trường Đại họcNgoại Thương Để có thể đưa ra một cái nhìn toàn diện và mang tính toàn cầu vềnội dung này, chúng em xin được áp dụng những gì đã được học ở các môn chuyên
ngành Tiếng Pháp thương mại để thực hiện để tài: “Hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế quy định bởi pháp luật Cộng hòa Pháp”.
Bài tiểu luận được chia thành 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được pháp luậtCộng hòa Pháp quy định
Chương 2: Điều khoản chủ yếu của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đượcquy định trong luật Cộng hòa Pháp
Chương 3: Ví dụ tranh chấp về hợp đồng mau bán hàng hóa quốc tế đượcpháp luật Cộng hòa Pháp giải quyết
Trang 4Do thời gian nghiên cứu có hạn và việc tìm kiếm tài liệu gặp nhiều khó khănnên bài làm không tránh khỏi nhiều thiếu sót, rất mong nhận được sự đánh giá,góp ý của cô giáo cùng các bạn để nhóm Tiếng Pháp thương mại chúng em có thểhoàn thiện hơn bài tiểu luận của mình.
Trang 5I TỔNG QUAN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ ĐƯỢC PHÁP LUẬT CỘNG HÒA PHÁP QUY ĐỊNH
1 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế:
a) Khái niệm hợp đồng:
- Theo Bộ luật Dân sự Pháp (Code Civil): Hợp đồng (contrat) là một thỏa thuận
từ đó dẫn tới việc phát sinh nghĩa vụ của một hay nhiều người đối với một haynhiều người khác về việc chuyển giao, làm hoặc không làm một việc gìđó(Đ1101-BLDS)
- Thỏa thuận: Là sự thống nhất ý chí giữa 2 hay nhiều người để làm phát sinh
một hệ quả pháp luật nào đó (ví dụ như nghĩa vụ) Tuy nhiên, trong ngôn ngữthông dụng, 2 thuật ngữ “hợp đồng” và “thỏa thuận” thường được sử dụng nhưnhững từ đồng nghĩa
b) Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế:
- Mua bán là một thỏa thuận theo đó một bên có nghĩa vụ chuyển giao một vật,
và bên còn lại có nghĩa vụ thanh toán (Đ1582-LDS)
- Hợp đồng mua bán hàng hóa mang tính chất “quốc tế” khi hợp đồng đó liên
quan đến những lợi ích thương mại quốc tế (Đ1492-Luật thủ tục dân sự)
- Yếu tố quốc tế: yếu tố qua đó hợp đồng có thể có một phần liên hệ với một trật
tự pháp lý nước ngoài Yếu tố đó thể là trụ sở kinh doanh ngoài nước Pháp củamột chủ thể, quốc tịch, vị trí địa lí của một hàng hóa hay nơi kí kết hợp đồng…
- Hình thức: Dưới dạng văn bản (Đ1108-1- LDS) hoặc hợp đồng điện tử
(Đ1316-1 và (Đ1316-13(Đ1316-16-4- LDS)
Trang 62 Điều kiện hiệu lực của hợp đồng mua bán quốc tế: 4 điều kiện (Đ1108-LDS)
a) Các bên giao kết hoàn toàn tự nguyện
- Mọi thỏa thuận đều không có giá trị nếu đạt được do nhầm lẫn, do bị đe dọahoặc bị lừa dối (Đ1109-LDS)
- Theo Unidroit, nhầm lẫn là “một lỗi suy đoán liên quan tới việc thực hiện hoặctới quyền”
- Tất cả những sự đe dọa không có căn cứ nhằm phá vỡ sự tự nguyện của mộttrong các bên đều là vi phạm pháp luật Pháp (Đ1111-LDS)
b) Các bên giao kết có năng lực giao kết hợp đồng
Các trường hợp được coi là không có năng lực giao kết hợp đồng:
- Người chưa thành niên
- Người thành niên được bảo vệ theo Điều 448-LDS
- Hợp đồng sẽ bị tuyên vô hiệu nếu bất cứ người nào nắm giữ chức vụ hoặclàm việc trong các cơ quan, trung tâm chăm sóc người cao tuổi hoặc cungcấp các dịch vụ chăm sóc người mắc bệnh tâm thần trở thành người mua tàisản, chuyển giao quyền thuộc về người được chăm sóc tại trung tâm đó, haycho thuê nơi ở của họ trước khi vào trung tâm (Đ1125-1- LDS)
c) Đối tượng của hợp đồng phải xác định
Chỉ những vật phẩm trong thương mại mới có thể trở thành đối tượng của hợpđồng (Đ1128-LDS) Trong đó, “thương mại” được hiểu là “khả năng của một vậtnhằm phục vụ như một đối tượng của một hành vi pháp lý”
Trang 7d) Căn cứ của hợp đồng phải hợp pháp
- Nghĩa vụ không có căn cứ, căn cứ sai hoặc bất hợp pháp có thể không hiệu lực(Đ1131_LDS)
- Căn cứ được coi là bất hợp pháp nếu bị cấm theo qui định của pháp luật, trái vớiđạo đức hoặc trật tự chung
3 Giao kết hợp đồng
a) Đề nghị giao kết hợp đồng
Một đề nghị được gọi là đề nghị giao kết hợp đồng nếu nó đủ rõ ràng và thể hiện
ý chí của bên đưa ra đề nghị bị ràng buộc khi đề nghị giao kết được chấp nhận (điều 2.1.2 bộ nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế)
Đề nghị giao kết cần phải thực sự rõ ràng Nhưng đôi khi sự rõ ràng này được miễn trừ, nhất là trong trường hợp mối quan hệ kinh doanh đó được duy trì từ lâu qua dòng chảy kinh doanh luôn được xác định trước Nó có thể được nêu lên trong tập quán thương mại quốc tế để thay thế và đơn giản hóa những điều khoản của hợp đồng, nhưng nó vẫn phải được thực hiện một cách chặt chẽ
Thời hạn hiệu lực của một đề nghị giao kết sẽ do bên đề nghị ấn định Trong trường hợp bên đề nghị không ấn định thì thời hạn hiệu lực sẽ dựa trên một khoảng
“thời gian hợp lý” đối với từng trường hợp, thường là 30 ngày sau khi đề nghị đượcphát đi
Đề nghị giao kết có hiệu lực là khi nó đến được tới bên được đề nghị ( điều 2.1.3
bộ nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế)
Trang 8Một đề nghị giao kết, kể cả loại không hủy ngang, cũng có thể được rút lại nếu
sự thông báo rút lại đó đến trước hoặc cùng lúc với đề nghị (điều 2.1.3 bộ nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế)
Kể cả đến thời điểm ký kết hợp đồng, đề nghị giao kết vẫn có thể bị hủy bỏ nếu thư đề nghị đến trước khi bên được đề nghị gửi chấp nhận đề nghị giao kết của họ (điều 2.1.4 bộ nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế)
Tuy nhiên, đề nghị giao kết không thể hủy bỏ được nếu: (điều 2.1.4 bộ nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế)
- Đề nghị giao kết quy định rằng nó không thể bị hủy ngang với việc quy định mộtthời hạn xác định, hoặc:
- Bên được đề nghị có cơ sở hợp lý để tin rằng đề nghị giao kết này là không thể hủy ngang
Đề nghị giao kết sẽ chấm dứt nếu bên đề nghị nhận được sự từ chối của bên được đề nghị (điều 2.1.5 bộ nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thươngmại quốc tế): Sự từ chối đề nghị giao kết có thể là rõ ràng hoặc không rõ ràng Im lặng cũng là thể hiện sự từ chối đề nghị giao kết hợp đồng của bên được đề nghị.Khi đó hợp đồng không được hình thành và bên đề nghị giao kết hợp đồng không còn bị ràng buộc bởi đề nghị giao kết hợp đồng của mình
b) Chấp nhận đề nghị giao kết
Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng có thể là một tuyên bố hoặc cách xử
sự khác của bên được đề nghị cho thấy họ chấp nhận đề nghị gioa kết hợp đồng Sự im lặng không có giá trị như một chập nhận giao kết hợp đồng (điều 2.1.6 bộ nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế)
Trang 9Chấp nhận đề nghị giao kết là hành động thể hiện ý chí sẵn lòng để bị ràngbuộc với các điều khoản của đề nghị mà bên đươc đề nghị phản hồi tới bên
đề nghị Chấp nhận đề nghị giao kết nếu không tuân thủ các điều kiện quy định của đề nghị giao kết thì được coi là không có hiệu lực, ngoại trừ trường hợp chấp nhận đề nghị giao kết đó là để tạo nên một đề nghị mới
Chấp nhận đề nghị giao kết cần phải thực sự phải rõ ràng và đơn giản, thể hiện ngay từ hình thức đến nội dung
Hình thức mà bên được đề nghị thể hiện sự đồng thuận của mình không bịhạn chế, có thể là hành vi, văn bản hoăc lời nói Trong trường hợp bên đề nghị đã quy định hình thức chấp nhận thì bên được đề nghị phải trả lời theo đúng hình thức đó
Theo đề nghị giao kết hợp đồng, giữa các bên đã tồn tại một thói quen haytập quán thì bên được đề nghị có thể chỉ ra chấp nhận giao kết của mình bằng một hành vi mà không cần thông báo hành vi đó cho bên đề nghị biết, việc chấp nhân có hiệu lực khi hành vi đó được hoàn thành (điều 2.1.6 bộ nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế)
Thời hạn hiệu lực của một chấp nhận đề nghị giao kết do bên đề nghị quy định Nếu đề nghị không đề cập đến khoảng thời gian này thì thời hạn hiệu lực của chấp nhận đề nghị giao kết sẽ đựa trên một khoảng “thời gian hợp lý” phụ thuộc vào tốc độ phương tiện thông tin mà đề nghị được phát đi Một
đề nghị bằng lời nói phải được phản hồi ngay, trừ khi hoàn cảnh cho thấy điều ngược lại ( điều 2.1.7 bộ nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế)
Một chấp nhận giao kết có thể được rút lại nếu thư hủy bỏ đến chậm nhất vào thời điểm chấp nhận giao kết có hiệu lực ( điều 2.1.10 bộ nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế)
Trang 104 Nguồn luật điều chỉnh
4.1 Tư pháp quốc tế
a) Đối tượng điều chỉnh
- Là quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài, gồm các quan hệ: hôn
nhân gia đình, thừa kế, lao động, về hợp đồng kinh tế ngoại thương…
- Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các
bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân người nước ngoài
- Về yếu tố nước ngoài:
Chủ thể: người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài
Khách thể của quan hệ đó ở nước ngoài: VD: Tài sản thừa kế ở nướcngoài;
Sự kiện pháp lý là căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt các quan hệ đóxảy ra ở nước ngoài: VD: Kết hôn ở nước ngoài
b) Phương pháp điều chỉnh
Tư pháp quốc tế là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan
hệ pháp luật dân sự, thương mại, hôn nhân gia đình, lao động, và tố tụng dân
sự có yếu tố nước ngoài
Phương pháp điều chỉnh là tổng hợp các biện pháp cách thức mà nhà nước
sử dụng để tác động lên các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài làm chocác quan hệ này phát triển theo hướng có lợi cho giai cấp thống trị trong xãhội
c) Nguồn cơ bản của tư pháp quốc tế
- Những nguồn thuộc nhà nước: luật pháp của mỗi quốc gia
- Những tiêu chuẩn không thuộc nhà nước: các điều ước quốc tế ( Công ước Viên,Rome, La Haye…), tập quán thương mại quốc tế ( Lex Mercatoria)
4.2.Tập quán thương mại quốc tế: Lex Mercatoria
Trang 11Tập quán thương mại Lex Mercatoria là bộ nguyên tắc tập quán được việndẫn và áp dụng trong khuôn khổ quốc tế mà không cần dẫn chiếu đến bất kì
hệ thống luật quốc gia nào
Một nhận định khác cho rằng Lex Mercatoria là các thói quen thương mạiđược hình thành từ lâu đời, có nội dung rõ ràng được áp dụng liên tục trongthương mại quốc tế, được chấp nhận có giá trị pháp lí bắt buộc Thôngthường, tập quán, tập quán thương mại quốc tế trở thành luật áp dụng chungđối với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế khi các bên lựa chọn Một trongnhững tập quán thông dụng trong thương mại quốc tế hiện nay là các điềukiện thương mại quốc tế Incoterm do Phòng thương mại quốc tế ban hànhnăm 1936, được sửa đổi bổ sung năm 1953, 1967, 1980, 1990, 2000; Quy tắcchung về tập quán và thực hành tín dụng chứng từ (UCP600); Bộ nguyên tắcUNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế 2004;…
Đặc điểm chính của Lex Mercatoria là “tính chất bổ sung luật” (nghĩa làkhông phải luật, bổ sung, hỗ trợ, làm rõ các quy định của luật) và “ xuyênquốc gia” (phát triển và được thừa nhận bở cộng đồng thương mại quốc tế).Điều kiện áp dụng: khi các bên trong hợp đồng thương mại quốc tế khôngchấp nhận lựa chọn một hệ thống pháp luật cụ thể nào làm luật áp dụng chohợp đồng thì họ thường quy định rằng hợp đồng đó sẽ được điều chỉnh bởi “những quy định chung của luật” hoặc tập quán thương mại quốc tế” hoặc
“Lex Mercatoria”
Cơ chế áp dụng:
Lex Mercatoria mang tính quốc tế
Lex Mercatoria mang tính toàn cầu
Lex Mercatoria mang tính bền vững
4.3.Công ước quốc tế và luật áp dụng
a) Hai công ước La Haye năm 1964 về mua bán quốc tế những động sản hữu hình
- Luật thống nhất về thành lập hợp đồng mua bán quốc tế các động sản hữu hình
- Luật thống nhất cho mua bán quốc tế về động sản hữu hình
Trang 12b) Công ước La Haye năm 1955 về luật áp dụng đối với mua bán hàng hóa các động sản hữu hình
Theo công ước này hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải tuân thủ luật
mà các bên lựa chọn Nếu không có sự thỏa thuận về luật áp dụng của cácbên thì luật nước nơi người bán có trụ sở kinh doanh vào lúc nhận được đơnđặt hàng sẽ được áp dụng, trừ các trường hợp sau:
- Khi đơn hàng được giao cho một chi nhánh của người bán thực hiện thì luật củanước nơi có chi nhánh được áp dụng
- Khi đơn hàng được giao cho người bán hoặc đại lí của người bán ở nước ngườimua thì luật của nước nơi người mua thường trú được áp dụng
c) Công ước Viên năm 1980 của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG)
Công ước này kí tại Viên vào ngày 11/4/1980 và chính thức có hiệu lựcngày 1/1/1988 CISG được soạn thảo bởi Uỷ ban Liên hợp quốc về luậtthương mại quốc tế Đã có 76 nước tham gia công ước và ước tính công ướcđiều chỉnh chiếm ba phần tư thương mại hàng hóa thế giới
CISG gồm 101 điều, được chia làm 4 phần:
- Phần 1: phạm vi áp dụng và các quy định điểu chỉnh
- Phần 2: thành lập hợp đồng
- Phần 3: mua bán hàng hóa
- Phần 4: các quy định cuối cùng
Các trường hợp áp dụng CISG cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế:
- Khi các bên trong hợp đồng có trụ sở thương mại tại các quốc gia thành viênCISG (điều 1.1a CISG)
Trang 13- Trong trường hợp xung đột dẫn chiếu tới việc áp dụng luật của một quốc giathành viên (điều 1.1b CISG)
d) Công ước Rome năm 1980 về luật áp dụng đối với các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng
Theo công ước thì một hợp đồng sẽ bị điều chỉnh bởi luật do các bên lựachọn Sự lựa chọn này phải được thể hiện rõ trong các điều khoản của hợpđồng hoặc theo hoàn cảnh của vụ việc Các bên có thể lựa chọn luật áp dụngđối với toàn bộ hoặc chỉ một phần của hợp đồng
Trong trường hợp luật áp dụng đối với hợp đồng không được lựa chọn thìhợp đồng sẽ được điều chỉnh theo luật của nước có mối liên hệ mật thiết nhấtvới hợp đồng đang tranh chấp
Nước có mối liên hệ mật thiết nhất với hợp đồng là nước có địa bàn kinhdoanh chính của bên thực hiện nghĩa vụ chính
Để xác định được nước có mối liên hệ mật thiết với hợp đồng , trước tiêntòa án giải quyết tranh chấp phải xác định được nghĩa vụ chính của hợpđồng Nghĩa vụ chính của hợp đồng là nghĩa vụ của một bên phải thực hiện
để nhận được tiền thanh toán
Trang 14I ĐIỀU KHOẢN CHỦ YẾU CỦA HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ ĐƯỢC QUY ĐỊNH TRONG LUẬT CỘNG HÒA PHÁP
1) Hai điều khoản chủ yếu
1.1 Đối tượng
Đối tượng của hợp đồng là một trong những yếu tố quan trọng và bắt buộc đểcấu thành hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Trong phần này, bài tiểu luận sẽlàm rõ các quy định của luật dân sự Pháp về đối tượng và các yêu cầu đối với đốitượng đó
a) Những vật phẩm nào có thể trở thành đối tượng của hợp đồng
Theo Đ1128-BLDS :“Chỉ những vật phẩm trong thương mại mới có thể trởthành đối tượng của hợp đồng” Đầy đủ hơn, theo Đ1598-BLDS “tất cả những vậttrong thương mại mà không bị các luật chuyên ngành cấm chuyển nhượng thì cóthể trở thành đối tượng của hợp đồng” Trong đó, “thương mại” được hiểu theonghĩa rộng là “khả năng của một vật nhằm phục vụ như một đối tượng của mộthành vi pháp lý”
Ở trên có nhắc đến một nguyên tắc quan trọng, đó là nguyên tắc tự do chuyểnnhượng Có nghĩa là đối tượng của hợp đồng phải nằm trong danh mục các đốitượng được tự do chuyển nhượng và trong thương mại theo quy định của phápluật Ngược lại nếu nằm trong danh mục cấm chuyển nhượng hay các ngoại lệ(trường hợp ngoài thương mại) thì không thể trở thành đối tượng của hợp đồng.Đối với những hàng hóa bị hạn chế chuyển nhượng hoặc chuyển nhượng có điềukiện thì việc mua bán chỉ được thực hiện khi các bên tham gia và hàng hóa phảiđáp ứng đầy đủ các yêu cầu của pháp luật
Các trường hợp không thể là đối tượng của hợp đồng :
Các trường hợp ngoài thương mại:
Các quyền nhân thân phi tài sản