Câu 1. Tại sao vẫn còn tồn tại hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất trong khi Nhà nước đã tiền tệ hóa quyền sử dụng đất từ năm 1993? Giao đất không thu tiền và giao đất có thu tiền sử dụng đất khác nhau như thế nào? 1 Câu 2. Sự cần thiết phải quy định quỹ đất công ích ở địa phương. Phân tích các quy định pháp luật về quỹ đất công ích và đánh giá việc thực thi các quy định này trên thực tế. 4 KẾT LUẬN 8 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 9 CHÚ THÍCH CĂN CỨ PHÁP LÍ 10
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
Câu 1 Tại sao vẫn còn tồn tại hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất trong khi Nhà nước đã tiền tệ hóa quyền sử dụng đất từ năm 1993? Giao đất không thu tiền và giao đất có thu tiền sử dụng đất khác nhau như thế nào? 1
Câu 2 Sự cần thiết phải quy định quỹ đất công ích ở địa phương Phân tích các quy định pháp luật về quỹ đất công ích và đánh giá việc thực thi các quy định này trên thực tế 4
KẾT LUẬN 8
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 9
CHÚ THÍCH CĂN CỨ PHÁP LÍ 10
Trang 2DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
QSDĐ
UBND
Quyền sử dụng đất
Uỷ ban Nhân dân
Trang 3MỞ ĐẦU
Đất đai là nguồn tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, nó có ý nghĩa hàng đầu trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội và an ninh quốc phòng của mỗi quốc gia Kể từ khi chế độ sở hữu toàn dân đối với toàn bộ đất đai được xác lập trong Hiến pháp năm 1980 và duy trì cho đến nay, pháp luật đất đai đã không ngừng được hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu và phục vụ cho công tác quản lý nhà nước Luật đất đai với
tư cách là một lĩnh vực, một ngành Luật luôn thể hiện được sự cần thiết và tầm quan trọng của mình trong hệ thống pháp luật Việt Nam Bên cạnh việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước, Luật Đất đai còn giữ vai trò hỗ trợ thực hiện quyền sở hữu đất đai, định hướng việc phân phối và sử dụng đất đai đạt hiệu quả cao nhất theo nhu cầu đời sống kinh tế - xã hội
NỘI DUNG Câu 1 Tại sao vẫn còn tồn tại hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất trong khi Nhà nước đã tiền tệ hóa quyền sử dụng đất từ năm 1993? Giao đất không thu tiền và giao đất có thu tiền sử dụng đất khác nhau như thế nào?
Nguyên nhân vẫn còn tồn tại hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất trong khi Nhà nước đã tiền tệ hóa quyền sử dụng đất từ năm 1993
Giao đất, cho thuê đất là hai hình thức phân phối đất đai được áp dụng hiện nay, đều nhằm chuyển giao QSDĐ từ Nhà nước cho người sử dụng đất, đều xác lập QSDĐ cho người
sử dụng đất Căn cứ Khoản 7 Điều 3 Luật Đất đai 2013 quy định: Nhà nước giao quyền sử dụng đất (sau đây gọi là Nhà nước giao đất) là việc Nhà nước ban hành quyết định giao đất
để trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất; Khoản 8 Điều 3 Luật Đất đai 2013: Nhà nước cho thuê quyền sử dụng đất (sau đây gọi là Nhà nước cho thuê đất) là việc Nhà nước quyết định trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất thông qua hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất.
Mặc dù Nhà nước đã tiền tệ hóa quyền sử dụng đất từ năm 1993 bằng các hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất và cho thuê đất nhưng cho đến nay, hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất vẫn còn tồn tại Theo quy định tại Điều 54 Luật Đất đai năm 2013, Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất trong các trường hợp sau:
1 Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối được giao đất nông nghiệp trong hạn mức quy định tại Điều 129 của Luật này;
2 Người sử dụng đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất rừng sản xuất là rừng tự nhiên, đất xây dựng trụ sở cơ quan, đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; đất sử dụng vào mục đích công cộng không nhằm mục đích kinh doanh; đất làm nghĩa trang, nghĩa địa không thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 55 của Luật này;
3 Tổ chức sự nghiệp công lập chưa tự chủ tài chính sử dụng đất xây dựng công trình sự nghiệp;
4 Tổ chức sử dụng đất để xây dựng nhà ở phục vụ tái định cư theo dự án của Nhà nước;
1
Trang 45 Cộng đồng dân cư sử dụng đất nông nghiệp; cơ sở tôn giáo sử dụng đất phi nông nghiệp quy định tại khoản 1 Điều 159 của Luật này.
Ta thấy, đối tượng được giao đất không thu tiền sử dụng đất là những trường hợp được hưởng ưu đãi tài chính về sử dụng đất Pháp luật vẫn duy trì hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất nhằm để hỗ trợ cho một số trường hợp có điều kiện kinh tế khó khăn hoặc do việc sử dụng đất của các chủ thể này không nhằm mục đích lợi nhuận về kinh tế mà
vị lợi ích chung của cộng đồng.1 Đặc trưng chung của các trường hợp được giao đất không thu tiền sử dụng đất là đất được giao để phục vụ việc thực hiện chính sách của Nhà nước (như chính sách phát triển nông nghiệp, phát triển rừng, giáo dục – đào tạo…), vào mục đích công cộng, lợi ích quốc gia, an ninh, quốc phòng và mục tiêu phát triển kinh tế
Ví dụ: Những tổ chức có mục đích sử dụng đất là hướng tới phục vụ cho lợi ích
chung của cộng đồng và xã hội, lợi ích quốc phòng – an ninh, lợi ích quốc gia hoặc vì lợi ích của một bộ phận, nhóm người trong xã hội được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất và việc sử dụng đất trên không nhằm mục đích lợi nhuận
Kế thừa và phát triển các Luật đất đai trước đây (Luật Đất đai năm 1993 và Luật Đất đai năm 2003), Luật Đất đai năm 2013 vẫn giữ nguyên các hình thức về giao đất và cho thuê đất So với các quy định trước đây thì hiện nay sự phân biệt các hình thức giao đất và xác định nghĩa vụ tài chính của người sử dụng rõ ràng và cụ thể hơn Luật Đất đai năm 1993 nêu khá chung chung: mọi tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng đất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản và làm muối thì không phải trả tiền, còn sử dụng vào mục đích khác thì phải trả tiền Như vậy, trong các trường hợp sử dụng đất vào mục đích công cộng, lợi ích quốc gia, vào mục đích an ninh quốc phòng thì chưa có quy định cụ thể Và so với Luật Đất đai 2003, Luật Đất đai 2013 đã bổ sung một trường hợp Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, đồng thời thu hẹp đối tượng được giao đất không thu tiền sử dụng đất (giảm 03 đối tượng) chuyển sang thuê đất Cụ thể:
Luật Đất đai 2013 bổ sung trường hợp Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất là
tổ chức sự nghiệp công lập chưa tự chủ tài chính sử dụng đất xây dựng công trình sự nghiệp có thể nhận thấy trường hợp được bổ sung là trường hợp phù hợp với thực tế sử dụng đất hiện nay khi thực hiện giao đất không thu tiền sử dụng đất
Luật Đất đai năm 2013 bỏ ba nhóm đối tượng được giao đất không thu tiền sử dụng đất
so với Luật Đất đai năm 2003, gồm (i) Tổ chức sử dụng đất vào mục đích nghiên cứu, thí nghiệm, thực nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối; (ii) Hợp tác xã nông nghiệp sử dụng đất làm mặt bằng xây dựng trụ sở hợp tác xã, sân phơi, nhà kho; xây dựng các cơ sở dịch vụ trực tiếp phục vụ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối; (iii) Đơn vị vũ trang nhân dân được Nhà nước giao đất để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối hoặc sản xuất kết hợp với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.2
1 Lưu Quốc Thái (2020), Giáo trình Luật Đất đai (tái bản lần 1, có sửa đổi và bổ sung), Trường Đại học Luật Thành phố
Hồ Chí Minh, Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam.
2 Nguyễn Thị Nga (2015), Hỏi đáp Luật đất đai, Nxb Tư pháp.
2
Trang 5Có thể nhận thấy là quy định này đã làm rõ hơn quan điểm của Nhà nước về việc xóa bỏ bao cấp trong quản lý, sử dụng đất tiến tới công bằng trong việc sử dụng tài nguyên quốc gia
Sự khác nhau giữa giao đất có thu tiền sử dụng đất và giao đất không thu tiền sử dụng đất:
ST
T
TIÊU
CHÍ
GIAO ĐẤT KHÔNG THU TIỀN SỬ DỤNG ĐẤT
GIAO ĐẤT CÓ THU TIỀN SỬ
DỤNG ĐẤT
1. Căn cứ
pháp lí Điều 54 Luật Đất đai 2013 Điều 55 Luật Đất đai 2013
2. Mục đích
sử dụng Phục vụ mục đích công cộng,lợi ích quốc gia, an ninh, quốc
phòng và mục tiêu phát triển kinh tế
Xây dựng nhà ở cho mục đích sinh hoạt và kinh doanh
thức sử
dụng
Không thu tiền sử dụng đất Có thu tiền sử dụng đất
4. Chủ thể Hộ gia đình, cá nhân, tổ chức Hộ gia đình, cá nhân, tổ chức,
người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
5. Quyền và
nghĩa vụ
của tổ
chức sử
dụng đất
Theo Điều 173 Luật Đất đai
2013: “Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất không có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê quyền sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; không được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất.”
Theo Điều 174 Luật Đất đai 2013:
“Tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê ngoài quyền và nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều này còn có các quyền sau đây:
a) Chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất;
b) Cho thuê quyền sử dụng đất, tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất đối với trường hợp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất; cho thuê lại quyền sử dụng đất, tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất đối với
3
Trang 6trường hợp được Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê;
c) Tặng cho quyền sử dụng đất cho Nhà nước; tặng cho quyền sử dụng đất cho cộng đồng dân cư để xây dựng các công trình phục vụ lợi ích chung của cộng đồng; tặng cho nhà tình nghĩa gắn liền với đất theo quy định của pháp luật;
d) Thế chấp bằng quyền sử dụng đất, tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất tại các tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam;
đ) Góp vốn bằng quyền sử dụng đất, tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất để hợp tác sản xuất, kinh doanh với tổ chức, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo quy định của pháp luật.”
6. Ví dụ Tổ chức xây dựng các công
trình phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng, xây dựng nhà ở cho đối tượng xã hội, trụ sở cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp, sử dụng đất cho mục đích tôn giáo, sinh hoạt chung của cộng đồng người
Tổ chức kinh tế trong nước sử dụng đất để xây dựng kinh doanh kết cấu
hạ tầng nghĩa trang, nghĩa địa nhằm
để chuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn liền với kết cấu hạ tầng đó
Câu 2 Sự cần thiết phải quy định quỹ đất công ích ở địa phương Phân tích các quy định pháp luật về quỹ đất công ích và đánh giá việc thực thi các quy định này trên thực tế.
Sự cần thiết phải quy định quỹ đất công ích ở địa phương:
Việc để lại một quỹ đất không quá 5% đất nông nghiệp ở địa phương để sử dụng cho nhu cầu công ích ở địa phương là quy định lần đầu tiên được đề cập trong Luật đất đai năm
1993 tại Điều 45.3 Đất công ích 5% (hay còn gọi là quỹ đất dự phòng 5%) là loại đất được lấy từ không quá 5% quỹ đất nông nghiệp ở địa phương bao gồm đất trồng cây hàng năm,
3 Trần Quang Huy (2019), Giáo trình Luật Đất đai, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân.
4
Trang 7đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thủy sản, để phục vụ cho các nhu cầu công ích của địa phương
Dưới sự lãnh đạo của Đảng qua từng thời kì, nông thôn Việt Nam đã có những thay đổi đáng kể, đặc biệt trong phát triển nông nghiệp Tuy nhiên, trên thực tế, các cơ sở hạ tầng
kĩ thuật – xã hội ở khu vực nông thôn vẫn còn thiếu, bị xuống cấp và thiếu đồng bộ, hiện đại, nên không đáp ứng được yêu cầu của quá trình phát triển kinh tế xã hội nói chung và công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông dân, nông thôn nói riêng Đây dường như là nguyên nhân cơ bản tạo ra sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa khu vực nông thôn với khu vực thành thị nước ta Để tạo điều kiện thúc đẩy và rút ngắn khoảng cách phát triển giữa khu vực nông thôn và khu vực thành thị thì cần thiết phải tiến hành xây dựng, nâng cấp, cải tạo hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội ở xã, phường, thị trấn phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Nếu giao toàn bộ đất đai nông nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp thì khi địa phương có nhu cầu sẽ không còn đất để xây dựng các công trình công cộng phục vụ đời sống nhân dân
Như vậy, việc quy định quỹ đất công ích ở địa phương là cần thiết nhằm tạo thuận lợi cho địa phương khi có nhu cầu xây dựng, nâng cấp cơ sở hạ tầng, đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Phân tích quy định pháp luật về quỹ đất công ích:
Nguồn hình thành quỹ đất công ích.
Căn cứ vào quỹ đất, đặc điểm và nhu cầu của địa phương, mỗi xã, phường, thị trấn được lập quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích không quá 5% tổng diện tích đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thủy sản để phục vụ cho các nhu cầu công ích của địa phương
Đối với những nơi đã để lại quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích vượt quá 5% thì diện tích ngoài mức 5% được sử dụng để xây dựng hoặc bồi thường khi sử dụng đất khác để xây dựng các công trình công cộng của địa phương; giao cho hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản tại địa phương chưa được giao đất hoặc thiếu đất sản xuất
Đất nông nghiệp do tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trả lại hoặc tặng cho quyền sử dụng cho Nhà nước, đất khai hoang, đất nông nghiệp thu hồi là nguồn để hình thành hoặc bổ sung cho quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn
Quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn để sử dụng vào các mục đích sau:
1 Xây dựng các công trình công cộng của xã, phường, thị trấn bao gồm công trình văn hóa, thể dục thể thao, vui chơi, giải trí công cộng, y tế, giáo dục, chợ, nghĩa trang, nghĩa địa và các công trình công cộng khác theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
5
Trang 82 Bồi thường cho người có đất được sử dụng để xây dựng các công trình công cộng quy định tại điểm a khoản 2 điều 132 Luật Đất đai 2013
3 Xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương
Đối với diện tích đất chưa sử dụng vào các mục đích quy định tại khoản 2 Điều 132 Luật đất đai 2013:
Ủy ban nhân dân cấp xã cho hộ gia đình, cá nhân tại địa phương thuê để sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản theo hình thức đấu giá để cho thuê Thời hạn sử dụng đất đối với mỗi lần thuê không quá 05 năm Tiền thu được từ việc cho thuê đất thuộc quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích phải nộp vào ngân sách nhà nước do Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý và chỉ được dùng cho nhu cầu công ích của xã, phường, thị trấn theo quy định của pháp luật
Thẩm quyền thu hồi đất công ích của xã, phường, thị trấn:
Theo Điểm b Khoản 1 Điều 66 Luật Đất đai 2013 thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có quyền thu hồi đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn
Bồi thường khi thu hồi đất công ích của xã, phường, thị trấn:
Theo quy định tại Luật Đất đai 2013, khi Nhà nước thu hồi đất thì Đất công ích khi bị thu hồi sẽ không được bồi thường về đất mà sẽ chỉ được bồi thường về chi phí đầu tư vào đất còn lại, chi phí đầu tư vào đất còn lại gồm toàn bộ hoặc một phần của các khoản chi phí bao gồm có chi phí như: chi phí san lấp mặt bằng; cải tạo làm tăng độ màu mỡ của đất, thau chua rửa mặn, chống xói mòn, xâm thực đối với đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp; chi phí gia cố khả năng chịu lực chống rung, sụt lún đất đối với đất làm mặt bằng sản xuất kinh doanh; Chi phí khác có liên quan đã đầu tư vào đất phù hợp với mục đích sử dụng đất (Điều 76 Luật Đất đai 2013)
Điều 24 Nghị định 47/2014/NĐ-CP có quy định: “Trường hợp đất thu hồi thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn thì được hỗ trợ; mức hỗ trợ cao nhất có thể bằng mức bồi thường; mức hỗ trợ cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định; tiền hỗ trợ được nộp vào ngân sách nhà nước và được đưa vào dự toán ngân sách hàng năm của xã, phường, thị trấn; tiền hỗ trợ chỉ được sử dụng để đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng, sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn.”
Với quỹ đất 5% tổng quỹ đất nông nghiệp của địa phương theo quy định của Luật đất đai năm 2013 tuy không lớn nhưng lợi ích công mà nó mang lại thì không nhỏ Vì vậy, Ủy ban nhân dân xã nơi có đất phải quản lý, sử dụng nguồn đất này một cách hiệu quả
Đánh giá việc thực thi quy định về quỹ đất công ích ở địa phương trên thực tế
Những kết quả đạt được của việc thực thi quy định về quỹ đất công ích ở địa phương trên thực tế:
Thứ nhất, sau một thời gian thực hiện quy định của pháp luật đất đai về việc để lại
quỹ đất công ích không quá 5% cho xã (còn gọi là quỹ đất dự phòng), những địa phương có
6
Trang 9đất công ích đã giải quyết tốt việc cải tạo và chỉnh trang cơ sở hạ tầng nông thôn làm đối mới bộ mặt nông thôn, tạo điều kiện thuận lợi cho chính quyền cơ sở trong việc xã hội hoá các lĩnh vực văn hoá, y tế, giáo dục, thể dục thể thao ở nông thôn, cải thiện theo hướng hiện đại, đồng bộ góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn nước ta Điều 132 Luật Đất đai năm
2013 tiếp tục cụ thể hóa cơ chế pháp lý của quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích, xác định tỷ lệ phần trăm quỹ đất nông nghiệp được phép để lại, thời hạn cho thuê đất, đối tượng được thuê đất và tính bồi thường giá trị tài sản đầu tư trên đất thuê khi Nhà nước thu hồi quỹ đất này sử dụng vào mục đích công cộng
Thứ hai, trên cơ sở kế thừa và phát triển các quy định trước đây, Luật Đất đai năm
2013 đã xác lập đầy đủ các quy định về quản lý, sử dụng quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích Từ đó, chính quyền các địa phương căn cứ vào thẩm quyền cho thuê đất
tổ chức việc đấu giá quyền sử dụng đất để cho thuê và thu tiền thuê vào ngân sách cấp xã để thực hiện các mục đích công ích, tránh tình trạng bỏ hoang, lãng phí đất
Một số hạn chế trong việc thực thi quy định về quỹ đất công ích ở địa phương trên thực tế:
Bên cạnh những tác động tích cực, việc tổ chức thi hành quy định về quỹ đất công ích còn bộc lộ một số hạn chế, yếu kém cơ bản sau:
Thứ nhất, việc để lại quỹ đất công ích không được thực hiện thống nhất trong phạm vi
toàn quốc Thực tế thời gian qua cho thấy việc hình thành, quản lí và sử dụng quỹ đất này rất khác nhau giữa miền Nam và miền Bắc, giữa đồng bằng và miền núi Đặc biệt, có thời gian quỹ đất công ích không được thi hành ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, miền Đông Nam
Bộ và Tây Nguyên Trong quản lí đất đai ở đây hầu như không có khái niệm về quỹ đất công ích, vì vậy, các tỉnh này gặp nhiều khó khăn trong việc triển khai các chương trình xã hội
Thứ hai, do quản lí lỏng lẻo nên có sự khác nhau giữa quỹ đất công ích trên thực tế
và quỹ đất trên giấy tờ, thường quỹ đất trên thực tế nhiều hơn Theo số liệu của Bộ Tài nguyên và Môi trường, trong số 33 tỉnh phía Bắc và miền Trung có để lại quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích thì có đến 27 tỉnh để lại quỹ đất này vượt mức tối đa được quy định trong Luật Đất đai 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành Điều này ảnh hưởng đến quỹ đất nông nghiệp giao cho hộ gia đình, cá nhân sản xuất nông nghiệp và gây
sự bức xúc trong nhân dân, đặc biệt đối với các địa phương mà diện tích đất nông nghiệp hạn chế, nơi “đất chật người đông”.4
Thứ ba, việc để lại quỹ đất công ích ở mỗi địa phương được thực hiện khác nhau Có
nơi chỉ lấy đất nông nghiệp trồng cây hàng năm để sử dụng cho quỹ đất này trong khi pháp luật quy định là lấy từ quỹ đất nông nghiệp nói chung, có nơi để quỹ đất công ích liền khoảnh, tập trung, có nơi không xác định được vị trí cụ thể mà đan xen vào diện tích đất giao
ổn định cho hộ gia đình rồi tính sản lượng để thu quỹ Vì vậy, người thuê đất công ích lại được sử dụng với thời hạn bằng thời hạn Nhà nước giao đất nông nghiệp Ngoài ra, có nơi thời hạn thuê là một nhiệm kì của UBND xã, có nơi thời hạn thuê là 10 năm
4 Bùi Hồng Nhung (2017), Pháp luật về đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn, Luận
văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
7
Trang 10Thứ tư, thực trạng để lại quỹ đất nông nghiệp sử dụng cho mục đích công ích cũng
như thực tiễn áp dụng các quy định này ở địa phương khá đa dạng, đôi khi có sự lạm dụng từ phía chính quyền cấp xã trong 20 năm qua.5
Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi quy định về quỹ đất công ích ở địa phương:
Thứ nhất, hoàn thiện quy định pháp luật về quỹ đất công ích, phải căn cứ vào quan
điểm, đường lối của Đảng về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới nói chung và đổi mới chính sách, pháp luật về đất nông nghiệp nói riêng
Thứ hai, cần quy định những chế tài cụ thể về xử lý hành vi vi phạm pháp luật về đất
nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn nhằm uốn nắn, sửa chữa những sai phạm đã xảy ra trong việc quản lý và sử dụng quỹ đất này
Thứ ba, muốn nâng cao hiệu quả thực hiện chế định pháp luật về đất công ích cần
phải công khai, minh bạch hóa trong quá trình thực thi pháp luật về đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn
Thứ tư, nâng cao năng lực chuyên môn, sự hiểu biết pháp luật đất đai, phẩm chất đạo
đức và kỹ năng nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước nói chung và đội ngũ cán bộ cấp xã nói riêng nhằm cải thiện tính hiệu quả trong tổ chức thực hiện pháp luật về đất công ích
Thứ năm, đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đất đai nói chung và
các quy định về đất công ích nói riêng
Thứ sáu, tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm trong quá trình
thực hiện các quy định pháp luật về đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn
KẾT LUẬN
Đất đai là một vấn đề lớn, phức tạp và rất nhạy cảm, tác động trực tiếp đến kinh tế, chính trị, xã hội, sự ổn định và phát triển của đất nước Trong những năm qua, công tác quản
lý đất đai đã đạt được nhiều kết quả quan trọng Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực thi chính sách đất đai thời gian qua còn nhiều hạn chế, bất cập Thực trạng
đó đặt ra yêu cầu cấp bách hiện nay là Nhà nước phải không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật về đất đai để phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội, mục tiêu xây dựng đất nước Chỉ có như thế, chúng ta mới khai thác, sử dụng một cách hiệu quả nguồn lực quan trọng, quý giá này cho sự phát triển của đất nước, kiểm soát, ngăn chặn có hiệu quả nhóm lợi ích tiêu cực trong thực thi chính sách đất đai
5 Trần Quang Huy, Nguyễn Thị Nga (2017), Giáo trình Luật Đất đai Việt Nam, Viện Đại học Mở Hà Nội, Nxb Lao động –
xã hội.
8