Xuất phát từ nhu cầu cũng như đòi hỏi mới phát sinh từ thực tiễn quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước đã đặc biệt chú trọng tới các công tác xây dựng, sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật lao động. Từ khi ra đời đến nay qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung Bộ luật lao động 2019 với các quy định về hợp đồng lao động (HĐLĐ) đã gần như đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế thị trường. Thông qua vai trò điều chỉnh của những quy định này, hệ thống quan hệ lao động đã dần đi vào quỹ đạo, điều hòa lợi ích của người lao động (NLĐ), người sử dụng lao động (NSDLĐ), lợi ích chung của nhà nước và xã hội. Đặc biệt trong đó có những quy định sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện các vấn đề liên quan đến HĐLĐ như đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NLĐ để phù hợp với bối cảnh chung của thì trường lao động Việt Nam. Để làm rõ hơn vấn đề em xin chọn chủ đề số 01: Đánh giá các quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của NLĐ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
-BÀI TẬP HỌC KÌ MÔN
LUẬT ĐẤT ĐAI
Chủ đề bài luận: Tại sao pháp luật đất đai hiện hành lại quy định cơ chế hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND xã, phường, thị trấn khi có tranh chấp đất đai xảy ra là yêu cầu bắt buộc phải thực hiện? Phân tích mục đích, ý nghĩa của hòa giải tranh chấp đất đai Anh (chị) có nhận định, đánh giá gì về tính hiệu quả của hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND xã, phường, thị
trấn?
SINH VIÊN: MA THÀNH NAM
LỚP: N05 TL4 MSSV: 432063
Chủ đề số: 10
Trang 2MỞ ĐẦU
Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước Không ai có thể phủ nhận vai trò quan trọng của đất đai đối với cuộc sống của con người, nó có ý nghĩa hàng đầu trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội và an ninh, quốc phòng của mỗi quốc gia Tranh chấp đất đai là một hiện tượng xảy ra phổ biến trong xã hội Đặc biệt, khi nước ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, đất đai trở thành một loại hàng hóa đặc biệt có giá trị thì tranh chấp đất đai có xu hướng ngày càng gia tăng cả về số lượng cũng như mức độ phức tạp Tình trạng tranh chấp đất đai kéo dài với số lượng người dân khiếu kiện ngày càng đông là vấn
đề rất đáng được quan tâm Tranh chấp đất đai phát sinh nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến nhiều mặt của đời sống xã hội như: Làm đình đốn sản xuất, tổn thương đến các mối quan hệ trong cộng đồng dân cư, ảnh hưởng đến phong tục đạo đức tốt đẹp của người Việt Nam, gây ra sự mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội Tranh chấp đ ất đai kéo dài nếu không được giải quyết dứt điểm sẽ dễ dẫn đến “điểm nóng”, bị kẻ xấu lợi dụng, làm giảm niềm tin của nhân dân đối với Nhà nước
Trang 3NỘI DUNG
I, THỰC TRẠNG
Bước sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa cùng với những quan hệ kinh tế xã hội khác các quan hệ đất đai cũng phát triển hết sức đa dạng, phức tạp đòi hỏi pháp luật phải có cơ chế điều chỉnh phù hợp Nhiều quan hệ trước kia bị nghiêm cấm nay được pháp luật cho phép thực hiện Các giao dịch dân sự về đất đai được xác lập như chuyển đổi, chuyển nhượng cho thuê lại, thế chấp bảo lãnh, góp vốn liên doanh bằng giá trị sử dụng đất Cũng từ đó mà các đối tượng tranh chấp đất đai đã có sự thay đổi, không chỉ là quyền quản lý, quyền sử dụng đất đai mà còn tranh chấp trong quá trình xác lập
và thực hiện các giao dịch về đất đai
Báo cáo của Tòa án nhân dân tối cao cho biết các tranh chấp đất đai phải đưa ra tòa giải quyết trong thời gian gần đây đã tăng về số lượng và phức tạp về tính chất
Cụ thể, chỉ tính riêng tranh chấp về quyền sử dụng đất (không tính tranh chấp về tài sản gắn liền với đất), trong năm 2007 tòa án nhân dân các cấp thụ lí 19.564 vụ; năm 2008 là 19.730 vụ; năm 2009 là 20.080 vụ Trong các con số nói trên tranh chấp về đất cho mượn, lấn đất, chiếm đất chiếm khoảng 50% trên tổng số các vụ án tranh chấp đất đai; tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chiếm trên 27%; còn lại là tranh chấp khác về đất đai
Báo cáo của Tòa án nhân dân tối cao cũng cho biết, trong năm 2009 ,số các bản án, quyết định về tranh chấp đất đai bị tòa án cấp phúc thẩm hủy 4%, sửa 7,5% Án bị sửa, hủy tập trung nhiều nhất là các vụ án tranh chấp
về đất cho mượn, lấn đất, chiếm đất
Năm 2008 có 107 vụ; năm 2009 có 158 vụ án tranh chấp về đất đai bị hủy
để giải quyết lại, nguyên nhân chủ yếu là do việc thu thập chứng cứ và chúng minh chưa thực hiện đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự
Trang 41, Nguyên nhân
Nguyên nhân khách quan: Tranh chấp đất đai ở nước ta phát sinh có nguồn gốc
sâu xa do lịch sử để lại ở miền Bắc, sau Cách mạng tháng 8 và sau năm 1953, Đảng và Chính phủ đã tiến hành cải cách ruộng đất, xóa bỏ chế độ chiếm hữu ruộng đất của thực dân, phong kiến, thiết lập quyền sở hữu ruộng đất cho người nông dân Năm 1960, thông qua con đường hợp tác hóa nông nghiệp, ruộng đất của người nông dân được đưa vào làm tư liệu sản xuất chung trở thành sở hữu tập thể, do đó tình hình sử dụng đất đai tương đối ổn định ở miền Nam, sau hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm tình hình sử dụng đất đai có nhiều diễn biến phức tạp hơn
Trong chín năm kháng chiến, Chính phủ đã tiến hành chia ruộng đất cho người nông dân hai lần vào các năm 1949 - 1950 và năm 1954, nhưng đến năm 1957, ngụy quyền Sài gòn đã thực hiện cải cách điền địa, thực hiện việc "truất hữu" nhằm xóa bỏ thành quả của cách mạng, gây ra những xáo trộn về quyền quản lý ruộng đất của người nông dân Sau khi thống nhất đất nước, năm 1975, Nhà nước đã tiến hành hợp tác hóa nông nghiệp, đồng thời xây dựng hàng loạt các lâm trường, nông trường, trang trại Những tổ chức đó bao chiếm quá nhiều diện tích đất nhưng sử dụng lại kém hiệu quả Đặc biệt, qua hai lần điều chỉnh ruộng đất vào các năm 1977 - 1978 và năm 1982- 1983, với chính sách chia cấp đất theo kiểu bình quân, "cào bằng" đã dẫn tới những xáo trộn lớn về ruộng đất, về ranh giới, số lượng và mục đích sử dụng đất đai
Khi đất nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường với sự thay đổi cơ chế quản
lý làm cho đất đai thì đất đai ngày càng trở nên có giá trị Dưới góc độ kinh tế, đất đai được coi như một loại hàng hóa trao đổi trên thị trường theo quy luật cung cầu, quy luật giá trị Đây là quy luật tự nhiên, nhưng đối với đất lại không được thừa nhận một cách dễ dàng ở nước ta trong một thời gian khá dài Do vậy Nhà nước chưa kịp thời có các chính sách để điều tiết và quản lý có hiệu quả Từ khi nhà, đất trở nên có giá trị cao đã tác động đến tâm lý của nhiều người dẫn đến tình trạng tranh chấp, đòi lại nhà, đất mà trước đó đã bán, cho thuê, cho mượn, đã bị tịch thu hoặc giao cho người khác sử dụng hoặc khi thực hiện một
số chính sách về đất đai ở các giai đoạn trước đây mà không có các văn bản xác định việc sử dụng đất ổn định của họ
Nguyên nhân chủ quan: Trong thời gian qua, công tác quản lý nhà nước về đất
đai còn bị buông lỏng, nhiều sơ hở, có khi phạm sai lầm, giải quyết tùy tiện, sai pháp luật Trong cơ chế quản lý tập trung, kế hoạch hóa cao độ, Nhà nước phân công, phân cấp cho quá nhiều ngành, dẫn đến việc quản lý đất đai thiếu chặt chẽ,
Trang 5nhiều sơ hở Có thời kỳ mỗi loại đất do một ngành quản lý dẫn đến việc tranh chấp về đất thuộc quyền quản lý của nhiều ngành khác nhau Trong cơ chế thị trường, Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch chung, có sự phân công, phân cấp trách nhiệm quản lý đất đai khá rõ Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn tồn tại nhiều sai phạm, non kém về trình độ quản lý của đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý đất đai Điều này góp phần làm xuất hiện nhiều tranh chấp đất đai phức tạp, khó giải quyết Cụ thể:
- Hồ sơ địa chính chưa hoàn chỉnh, đồng bộ, nên thiếu căn cứ pháp lý và thực
tế để xác định quyền sử dụng và quản lý đất đai của tổ chức, cá nhân, đặc biệt là
ở những vùng mà quan hệ đất đai phức tạp và có nhiều biến động Trong nhiều trường hợp, việc tranh chấp đất đai lại bắt nguồn từ những tài liệu lịch sử của chế độ cũ để lại Hơn nữa, việc giao đất lại không được tiến hành theo một quy trình chặt chẽ, nên hồ sơ đất đai không đồng bộ và bị thất lạc
- Quy hoạch sử dụng đất đai chưa đi vào nề nếp, nên nhiều trường hợp sử dụng đất không hợp lý khó bị phát hiện Khi phát hiện thì lại không được xử lý kịp thời Nhiều địa phương còn có những nhận thức lệch lạc về chính sách đất đai, quản lý đất đai còn nặng về biện pháp mệnh lệnh hành chính mà chưa chú ý đến biện pháp quản lý về mặt kinh tế
- Một số nơi ban hành văn bản pháp lý đất đai không rõ ràng, hoặc chủ trương sai lầm của một số cán bộ đã làm cho một bộ phận nhân dân hiểu lầm là Nhà nước có chủ trương "trả lại đất cũ", trả lại đất ông cha, dẫn đến việc khiếu kiện đòi lại đất ngày càng nhiều
2, Các quy định pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp đất đai
Hiện nay việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện theo các trình tự thủ tục như sau:
Thủ tục hòa giải bắt buộc tại Ủy ban nhân dân cấp xã: Tranh chấp đất đai có
thể được giải quyết theo hai phương thức: Một là khởi kiện tại tòa án có thẩm quyền; Hai là khiếu nại lên cơ quan nhà nước có thẩm quyền Dù theo con đường tố tụng tại tòa án hoặc thủ tục giải quyết tại cơ quan hành chính nhà nước thì thủ tục hòa giải tại UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp là thủ tục và điều kiện bắt buộc Luật Đất đai năm 2013 có quy định khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải tại
cơ sở, nếu không hòa giải được thì gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất để tiến hành hòa giải.Theo quy định tại Điều 202 Luật Đất đai năm 2013 và khoản 1 Điều 88 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp
xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai được Uỷ ban nhân dân cấp xã thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết
Trang 6tranh chấp đất đai Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Uỷ ban nhân dân cấp xã Trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới sử dụng đất thì Uỷ ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường hoặc Sở Tài nguyên và Môi trường để công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
Giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục tố tụng: Tòa án chỉ thụ lý giải
quyết các vụ việc tranh chấp đất đai khi đương sự có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất Việc giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án được thực hiện theo quy định chung tại Bộ luật Tố tụng dân
sự Theo đó, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp để khởi kiện vụ án tại tòa án có thẩm quyền (Tòa án nơi có bất động sản đó) Người khởi kiện vụ án gửi đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ đến Tòa án có thẩm quyền, thực hiện việc tạm ứng án phí và hoàn chỉnh hồ sơ, đơn khởi kiện theo yêu cầu của Tòa án Khi Tòa án đã thụ lý giải quyết vụ án, sẽ tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án Khác với hoạt động hòa giải trước khi khởi kiện, đây là giai đoạn bắt buộc trong quá trình giải quyết vụ án dân sự do chính Tòa án chủ trì và tiến hành Nếu hòa giải thành thì Tòa án sẽ lập biên bản hòa giải thành, hết 07 ngày mà các bên đương sự không thay đổi ý kiến thì tranh chấp chính thức kết thúc Nếu hòa giải không thành thì Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử Ngay trong quá trình xét
xử, các đương sự vẫn có thể thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án Nếu không đồng ý các bên vẫn có quyền kháng cáo theo trình tự phúc thẩm
Giải quyết tranh chấp đất đai theo trình tự hành chính: Trình tự này sẽ được
áp dụng đối với những tranh chấp mà các đương sự không có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất theo quy định và lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Uỷ ban nhân dân hoặc tại Bộ Tài nguyên và Môi trường Thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh đối với tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì khiếu nại đến chủ thể có thẩm quyền giải quyết là Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện Nếu một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu hoặc đối với tranh chấp giữa tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài với nhau hoặc giữa các đối tượng đó với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng
Trang 7dân cư thì các đương sự này có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh sau khi tiếp nhận đơn giao cho cơ quan chuyên môn tiến hành thẩm tra, xác minh vụ việc và tiến hành
tổ chức hòa giải giữa các bên tranh chấp Trong trường hợp cần thiết có thể tổ chức các cuộc họp các ban, ngành có liên quan nhằm giải quyết tranh chấp Tiến hành hoàn chỉnh hồ sơ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân ra quyết định giải quyết tranh chấp hoặc quyết định công nhận sự thỏa thuận (hòa giải thành) cho các bên tranh chấp Thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi trường Đối với tranh chấp giữa tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài với nhau hoặc giữa các đối tượng đó với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thì các đương sự này có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh Nếu một trong các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu này thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường để yêu cầu giải quyết Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường sau khi tiếp nhận đơn giao cho cơ quan chuyên môn tiến hành thu thập, nghiên cứu hồ sơ; lập đoàn công tác để thanh, kiểm tra, xác minh tại địa phương và tiến hành tổ chức hòa giải, hoàn chỉnh hồ sơ Bộ trưởng ra quyết định giải quyết tranh chấp hoặc quyết định hòa giải thành và gửi cho các bên xảy ra tranh chấp cũng như các cơ quan,
tổ chức cá nhân có liên quan Ngoài ra, Luật cũng có quy định nếu đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết tranh chấp lần đầu thì vẫn có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính Quy định này tạo điều kiện thuận lợi cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong xã hội trong việc lựa chọn phương thức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đảm bảo tính khách quan trong quá trình giải quyết tranh chấp đất đai
II, TẠI SAO PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI HIỆN HÀNH LẠI QUY ĐỊNH CƠ CHẾ HÒA GIẢI TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI UBND XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN KHI CÓ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI XẢY RA LÀ YÊU CẦU BẮT BUỘC PHẢI THỰC HIỆN.
Để tìm hiểu sâu hơn về cơ chế hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND xã, phường, thị trấn, em xin trình bày về lý do, tại sao việc hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND xã, phường, thị trấn lại là yêu cầu bắt buộc phải thực hiện
1, Ưu điểm:
Trang 8- Thủ tục hòa giải được tiến hành nhanh gọn, không gò bó và tiết kiệm được thời gian
- Chi phí thấp
- Các bên có được tổ chức hòa giải ngay tại cấp cơ sở hoặc Chủ tịch UBND cấp xã sẽ tổ chức hòa giải ngay tại địa phương nới có đất tranh chấp
- Hòa giải mang tính thân thiện nhằm tiếp tục giữ gìn và phát triển các mối quan hệ gia đình, làng xóm
Thực chất việc hòa giải tranh chấp đất đai là một biện pháp mềm dẻo, linh hoạt
và hiệu quả nhằm giúp cho các bên tranh chấp tìm ra một giải pháp thống nhất
để tháo gỡ những mâu thuẫn, bất đồng trong tranh chấp đất đai trên cơ sở tự nguyện, tự thỏa thuận Từ đó góp phần ổn định, hài hòa mối quan hệ giữa các bên trong quan hệ đất đai Trong hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai nói riêng, hòa giải có tầm quan trọng đặc biệt Nếu hòa giải thành, có nghĩa là tranh chấp sẽ kết thúc, không những hạn chế được sự phiền hà, tốn kém cho các bên đương sự mà còn giảm bớt được công việc đối với Tòa án, phù hợp với đạo lý tương thân, tương ái của dân tộc, giữ được tình làng, nghĩa xóm, đảm bảo đoàn kết trong nội bộ nhân dân Không những vậy, thông qua hòa giải, các đương sự
sẽ hiểu thêm về pháp luật và chính sách của Nhà nước.Vì vậy Luật đất đai năm
2013 đã quy định hòa giải là thủ tục đầu tiên và bắt buộc của quá trình giải quyết tranh chấp đất đai
2, Mục đích và ý nghĩa: Hòa giải không chỉ có ý nghĩa đối với Tòa án, bản thân
các đương sự mà còn có ý nghĩa đối với cả xã hội Cụ thể là: Đối với Tòa án Trong những năm gần đây tình trạng tranh chấp đất đai ở Việt Nam ngày càng
có xu hướng gia tăng, đa dạng và khá phức tạp Việc giải quyết tranh chấp đất đai thường kéo dài, phải trải qua nhiều cấp xét xử Do vậy, nếu tranh chấp đất đai được hòa giải thành sẽ giúp Tòa án giảm bớt được nhiều thời gian, công sức cho việc giải quyết vụ án Đặc biệt nếu hòa giải thành trong thời gian chuẩn bị xét xử thì Tòa án sẽ không phải mở phiên tòa sơ thẩm và không phải tiến hành các thủ tục xét xử tiếp theo, nếu hòa giải không thành có thể Tòa án sẽ phải thực hiện như xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm Mặt khác, nếu làm tốt công tác hòa giải thì không chỉ số lượng xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm giảm xuống
mà số lượng án ở Tòa án cấp phúc thẩm cũng giảm một cách rõ rệt, hiệu quả xét
xử được nâng cao Điều này sẽ không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tăng cường uy tín của cơ quan xét xử nói riêng cũng như cơ quan nhà nước nói chung Ngoài ra, trong trường hợp hòa giải tranh chấp đất đai không thành thì Tòa án cũng có điều kiện nắm vững nội dung tranh
Trang 9chấp, tâm tư nguyện vọng của đương sự để xác định đường lối xét xử đúng đắn trong quá trình giải quyết vụ án Đối với các đương sự hòa giải tranh chấp đất đai giúp các đương sự hiểu biết và thông cảm với nhau góp phần khôi phục lại tình đoàn kết giữa họ, giúp họ giải quyết tranh chấp với tinh thần cởi mở, giảm bớt mâu thuẫn, ngăn ngừa tội phạm có nguồn gốc từ tranh chấp đất đai phát sinh Trong trường hợp không hòa giải thành thì quá trình hòa giải cũng giúp cho các đương sự ngồi lại với nhau, hiểu rõ hơn nguyên nhân tranh chấp đất đai, được bày tỏ ý chí của mình Từ đó, họ có thể phần nào tìm được tiếng nói chung, hạn chế bớt mâu thuẫn Hòa giải góp phần nâng cao ý thức pháp luật của các đương sự Thông qua việc giải thích pháp luật của Tòa án trong phiên hòa giải, các đương sự sẽ phần nào hiểu được quy định của pháp luật về vấn đề mà
họ đang tranh chấp Từ đó, các bên có thể hiểu và tự quyết định về việc giải quyết tranh chấp, không trái quy định của pháp luật Đối với trật tự xã hội thông qua hòa giải, nhiều tranh chấp đất đai đã được giải quyết mà không cần mở phiên tòa xét xử Nếu hòa giải không thành thì cũng giúp các bên đương sự hiểu
rõ hơn quyền, nghĩa vụ của mình, làm giảm bớt hoặc kiềm chế mâu thuẫn Như vậy, hòa giải tranh chấp đất đai góp phần vào việc giữ gìn an ninh, trật tự, công bằng xã hội, làm cho quan hệ xã hội phát triển không bằng mệnh lệnh mà bằng giáo dục thuyết phục và sự cảm thông của các thành viên trong xã hội Mặt khác, hòa giải làm cho sự hiểu biết chính sách pháp luật về đất đai của các đương sự nói riêng và của người dân nói chung được nâng cao
3, Tính hiệu quả trên thực tế
Việc hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND xã, phường, thị trấn có nhiều ưu ddiemr là thế nhưng trên thực tế còn rất nhiều vướng mắc và bất cập như sau:
Một là, trường hợp UBND cấp xã triệu tập nhiều lần nhưng người bị kiện cố
tình không đến, cho nên không thể tiến hành hòa giải được Như vậy, theo quy định trước đây thì nếu người bị kiện cố tình trốn tránh việc tham gia hòa giải thì tranh chấp sẽ kéo dài thời gian hòa giải mà nếu chưa qua hòa giải được ở địa phương thì Tòa án không thụ lý đơn khởi kiện Tuy nhiên, hiện tại theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 sau thời gian 45 ngày hòa giải không thành hoặc không thể tiến hành hòa giải được thì các bên tranh chấp đất đai có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền hòa giải tranh chấp đất đai cho mình lập một Biên bản hòa giải không thành để có thể tiến hành các bước tiếp theo, có thể tiếp tục yêu cầu lên cấp trên hoặc khởi kiện tại Tòa án
Trang 10Hai là, trong thực tế, tranh chấp đất đai xảy ra rất nhiều dạng, vậy loại tranh
chấp nào phải qua hòa giải tại cấp xã? Ðây là vấn đề có nhiều cách hiểu khác nhau Nơi này thì cho rằng chỉ có loại tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất mới phải qua hòa giải tại cấp xã, còn các tranh chấp về hợp đồng liên quan quyền sử dụng đất như chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho và tranh chấp thừa kế quyền sử dụng thì không bắt buộc phải qua hòa giải tại cơ sở Ngược lại,
ở nơi khác thì lại khẳng định tất cả các tranh chấp đất đai kể cả các tranh chấp hợp đồng liên quan quyền sử dụng đất và thừa kế quyền sử dụng đất đều bắt buộc phải qua hòa giải tại cấp xã trước khi khởi kiện đến Tòa án Khi đó, ở từng địa phương khác nhau sẽ có cách giải quyết hòa giải khác nhau
Ngoài ra, theo quy định tại khoản 3 Ðiều 202 Luật Ðất đai năm 2013 thì UBND cấp xã phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận để tiến hành hòa giải Trong thực tế, do không nắm vững các quy định của pháp luật cho nên nhiều trường hợp thành phần tham gia hòa giải ở cấp xã không đúng Chẳng hạn như không có sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên của mặt trận mà chỉ có thường trực UBND, cán bộ địa chính, tư pháp và đại diện một số hội, đoàn thể ở xã mà quên mất thành phần cần có là đại diện Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam Các vụ hoà giải trên đây tuy không đúng với quy định của Luật Đất đai, song, không có
gì đáng nói, nếu đã được hòa giải thành Điều đáng nói là, khi các bên tranh chấp hòa giải không thành đã tiến hành khởi kiện theo trình tự của Bộ luật tố tụng dân sự, do biên bản hòa giải không có Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tham gia hòa giải (áp dụng đối với một số trường hợp bắt buộc phải tiến hành hòa giải cơ sở) nên Tòa án đã căn cứ điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm
2015 và được hướng dẫn chi tiết tại khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP để trả lại đơn cho người khởi kiện vì chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật
Bên cạnh đó, còn nhiều trường hợp khác là UBND xã tổ chức hòa giải nhưng không giao biên bản để người khởi kiện nộp cho Tòa án, kéo dài nhiều tháng đến cả năm Tranh chấp đất đai bao giờ cũng chiếm một số lượng lớn trong các
vụ án dân sự ở các địa phương, nhưng trong quan hệ đất đai thường phức tạp do vậy việc định hướng hòa giải đối với cấp xã đôi khi cũng rất khó khăn