BÀI KIỂM TRA Lớp Cao học K 28 CN Lý luận và Lịch sử Nhà nước PL Môn học TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ Câu hỏi Trách nhiệm pháp lý quốc tế khái niệm, lịch sử hình thành, bản chất, các hình thức áp dụng Trả lời 1[.]
Trang 1BÀI KIỂM TRA Lớp Cao học K 28 CN Lý luận và Lịch sử Nhà nước PL
Môn học : TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ
Câu hỏi: Trách nhiệm pháp lý quốc tế: khái niệm, lịch sử hình thành, bản chất, các hình thức áp dụng
Trả lời:
1 KHÁI NIỆM
Trách nhiệm pháp lý quốc tế được hiểu là việc khôi phục lại trật tự pháp lý quốc tế thông qua việc áp dụng những hạn chế nhất định về vật chất hoặc phi vật chất đối với quốc gia có hành vi vi phạm luật quốc tế hoặc xâm phạm đến quyền của quốc gia khác, kể cả quyền của quốc gia bị thiệt hại áp dụng những hạn chế này với mục đích đảm bảo sự tuân thủ các quy phạm Luật quốc tế
Cơ sở truy cứu trách nhiệm pháp lý quốc tế là sự vi phạm các cam kết quốc tế đã được định chế bằng các quy phạm của Luật quốc tế và sự hiện diện của các yếu tố cấu thành
vi phạm pháp luật, bao gồm: hành vi, chủ thể, khách thể, thiệt hại và quan hệ nhân -quả giữa hành vi trái luật gây nguy hiểm cho xã hội và hậu -quả của hành vi đó
Ví dụ: Ví dụ: Khi Iraq xâm lược Kuwait, Liên Hợp Quốc đã ra lệnh cấm vận trừng phạt bằng kinh tế vật chất sau đó là trừng phạt vũ trang để loại bỏ mối nguy hiểm cho hòa bình an ninh thế giới
Tóm lại, Trách nhiệm pháp lý quốc tế là hậu quả pháp lý bất lợi mà chủ thể có hành vi
vi phạm luật quốc tế (hoặc trong trường hợp thực hiện các hành vi mà luật quốc không cấm), gây thiệt hại cho các chủ thể khác trong quan hệ quốc tế phải gánh chiu Theo đó, chủ thể gây thiệt hại phải chấm dứt hành vi vi phạm, khắc phục thiệt hại đã gây ra, thực hiện một số các yêu cầu của chủ thế bị thiệt hại, kế cả việc phải gánh chịu các biện pháp trừng phạt do chủ thể bị thiệt hại hoặc các chủ thể khác áp dụng hoặc các hình thức và biện pháp khác trên cơ sở luật quộc tế
2 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH
Trách nhiêm pháp lý quốc tế là chế định độc lập trong luật quốc tế Nhưng trước thế
kỷ XX, những vấn đề lý luận về chế định trách nhiệm pháp lý quốc tế chưa được làm
rõ và trong quan hệ quốc tế, việc giải quyết hậu quả của sự vi phạm pháp luật quốc tế
Trang 2trên cơ sở quốc gia vi phạm pháp luật quốc tế phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về nhân thân và tài sản cho người nước ngoài
Đầu thế kỷ XX, bắt đầu xuất hiện các quy phạm pháp luật quốc tế về trách nhiệm của quốc gia vi phạm phải đền bù thiệt hại cho quốc gia khác, tức quốc gia bị hại Tiếp đến, những sự thay đổi lớn của luật quốc tế sau Chiến tranh thế giới lần thứ n đã kéo theo những thay đổi quan trọng trong chế định trách nhiệm pháp lý quốc tế Trước Chiến tranh thế giới lần thứ n, luật quốc tế chưa có khái niệm "xâm lược" và "trách nhiệm gây ra chiến tranh" Vì vậy, chưa có các quy định truy cứu trách nhiệm đối với quốc gia và cá nhân phát động chiến tranh xâm lược Sau Chiến tranh thế giới lần thứ
n, một loạt các quy định về trách nhiệm pháp lý quốc tế được ghi nhận, có vai trò vô cùng quan ttọng trong việc củng cố hoà bình và an ninh nhân loại Đó là các quy phạm
về trách nhiêm đối với các hành vi xâm lược, diệt chủng, phân biột chủng tộc, duy trì chế độ thuộc địa
Sự phát triển khoa học kỹ thuật trên thế giới kéo theo sự phát triển các ngành công nghiệp Việc khai thác ồ ạt các nguồn tài nguyên trên thế giới đã đặt nền văn minh thế giới trước nguy cơ mới là nguy cơ về ô nhiễm môi trường Trong luật quốc tế bắt đầu xuất hiện các quy phạm về trách nhiệm pháp lý quốc tế do các hành vi gây ô nhiễm môi trường của chủ thể luật quốc tế Như vậy, cùng với sự phát triển của hệ thống luật quốc tế, chế định trách nhiệm cũng ngày càng có nhiều quy phạm tiến bộ để ràng buộc trách nhiệm của các chủ thể luật quốc tế trong khi tham gia các mối quan hệ quốc tế
Chế định trách nhiệm pháp lý quốc tế là tổng thể các nguyên tắc và quy phạm luật quốc tế, điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể luật quốc tế (chủ yếu giữa các quốc gia) do vi vi phạm luật quốc tế (hoặc trong trường hợp thực hiện các hành vi
mà lúật không cấm), gây thiệt hại cho chủ thể khác, phải có nghĩa vụ đáp ứng đòi hỏi
về mặt chính trị và vật chất của bên bị hại Trong những trường hợp xác định, chủ thể gây thiệt hại có thể bị gánh chịu sự trừng phạt trên cơ sở luật quốc tế, do bên bị hại hoặc các chù thể khác của luật quốc tế thực hiện
Chế định trách nhiệm pháp lý quốc tế là công cụ pháp lý cần thiết, nhằm đảm bảo sự tuân thủ các quy phạm luật quốc tế của chủ thể luật quốc tế, do ý nghĩa răn đe và khôi phục lại các quyền cùng trật tự pháp lý bị xâm hại của chế định này, thông qua các hình thức và thể loại truy cứu trách nhiệm Suy đến cùng, chế định này được sử dụng như một công cụ đặc biệt nhằm điều chỉnh các quan hệ quốc tế cấp chính phủ và đảm bảo cho luật quốc tế thực hiện được chức năng của mình Điều này lý giải vì sao trong
cả hai hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tế đều tồn tại chế định trách nhiệm pháp lý tương ứng vĩêc gắn hậu quả của các hành vi pháp lý của chủ thể luật quốc tế với trách nhiệm pháp lý quốc tế là căn cứ để phân biệt giữa hành vi mang tính chính trị với hành
vi pháp lý quốc tế cùa chủ thể luật quốc tế
Thông thường, các chủ thể quan hệ pháp luật quốc tế tự nguyện thực hiện các cam kết
Trang 3kết và nghĩa vụ quốc tế thì vấn đề xác định trách nhiệm pháp lý sẽ được đặt ra Và nếu
có sự vi phạm mà không có vấn đề truy cứu trách nhiệm pháp lý quốc tế thì một mặt, quyền và lợi ích chính đáng của các chủ thể khác sẽ bị xâm phạm, không được bảo vệ hoặc khôi phục Mặt khác, tiềm ẩn nguy cơ về ý thức không tôn trọng các quy định của luật quốc tế, do không có sự ràng buộc nghĩa vụ của chủ thể luật quốc tế với những hâu quả xấu mà chù thể đó đã gây ra cho chủ thể khác hoặc gây tổn hại đến lợi ích của cộng đồng quốc tế
Các quy định của chế định trách nhiệm pháp lý quốc tế được viện dẫn để giải quyết quan hệ pháp luật quốc tế phát sinh giữa các chủ thể luật quốc tế, khi xảy ra sự kiện vi phạm lợi ích chính đáng của một chủ thể luật quốc tế hoặc khi lợi ích của cộng đổng quốc tế bị xâm phạm Trong quan hệ này, trách nhiêm pháp lý quốc tế được hiểu là sự cưỡng chế trong luật quốc tế để buộc chủ thể đã thực hiện hành vi trái pháp luật quốc
tế, hoặc tuy thực hiện hành vi mà luật quốc tế không cấm nhưng gây ra thiệt hại cho chủ thể khác, phải loại bỏ thiệt hại đã gây ra, phải thực hiện một hoặc một số yêu cầu của chủ thể bị thiệt hại, kể cả việc phải gánh chịu những biện pháp trừng phạt do chủ thể bị thiệt hại hoặc các chủ thể khác áp dụng, trên cơ sở pháp luật quốc tế
3 BẢN CHẤT
Bản chất Trách nhiệm pháp lý quốc tế là hậu quả pháp lý bất lợi mà chủ thể luật quốc
tế phải gánh chịu do việc vi phạm pháp luật quốc tế hay nghĩa vụ bồi thường gây thiệt hại gây ra do hành vi không phải là hành vi vi phạm pháp luật quốc tế nếu việc bồi thường đó được quy định trong các điều ước quốc tế chuyên biệt
3.1 Chủ thể của quan hệ trách nhiệm pháp lý quốc tế:
Chủ thể quan hệ trách nhiệm pháp lý quốc tế là chủ thể của luật quốc tế (quốc gia, các tổ chức quốc tế liên chính phủ, chủ thể phái sinh, các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập và các tổ chức đặc biệt khác)
3.1.1 Quốc gia:
Quốc gia là chủ thể chủ yếu chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế vì quốc gia là chủ thể chủ yếu của luật quốc tế Quốc gia phải chịu trách nhiệm về những hành vi nhất định của các cơ quan, tổ chức và cá nhân, không phụ thuộc vào việc họ ở trong hay ngoài phạm vi lãnh thổ quốc gia
Quốc gia phải chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế đối với các hành vi vi phạm sau:
Thứ nhất: Hành vi của các cơ quan nhà nước của quốc gia (bao gồm: cơ quan lập
pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp):
Trang 4 Quốc gia có thể gánh chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế do hành vi vi phạm pháp luật quốc tế của cơ quan lập pháp (quốc hội, nghị viện…) được thể hiện dưới những biểu hiện như:
Không ban hành các văn bản pháp luật cần thiết để thực hiện một nghĩa
vụ quốc tế
Ví dụ: Thành viện WTO phải có lộ trình giảm thuế mà Việt Nam không ban hành các văn bản cần thiết quy định việc giảm thuế.
Ban hành các văn bản pháp luật trái với nghĩa vụ pháp lý quốc tế của quốc gia
Ví dụ: Thành viên công ước quốc tế về chống phân biệt với phụ nữ mà lại ra văn bản không cho phụ nữ tham gia vào công việc quản lý nhà nước.
Không hủy bỏ các văn bản trái với nghĩa vụ quốc tế.
Ví dụ: Nam Phi là thành viên của Liên Hợp Quốc, nhưng pháp luật vẫn còn ghi nhận việc phân biệt chủng tộc Apacthei vi phạm điều 55, khoản c, Hiến Chương Liên Hợp Quốc Việc Nam Phi không bải bỏ các quy định này là vi phạm pháp luật quốc tế.
Quốc gia có thể gánh chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế do hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan hành pháp (trung ương lẫn địa phương)
Quốc gia có thể gánh chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế do hành vi vi phạm pháp luật quốc tế của cơ quan tư pháp như các hành vi sau:
- Ra một bản án sai trái với nghĩa vụ quốc tế
- Ra một bản án sai trái xâm phạm bôi nhọ quyền và lợi ích của quốc gia hay tổ chức công dân của quốc gia khác
- Từ chối xét xử
Thứ hai: Quốc gia có thể gánh chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế do hành vi vi phạm
pháp luật quốc tế của viên chức nhà nước khi họ thực hiện nhiệm vụ nhân danh nhà nước hay trường hợp thực hiện vượt quá phạm vi thẩm quyền của mình.
Thứ ba: Quốc gia có thể gánh chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế do hành vi vi
phạm pháp luật quốc tế của công dân
Trang 5Quốc gia phải chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế đối với hành vi cá nhân là công dân của quốc gia trong những trường hợp sau:
Việc ngăn chặn những hành vi đó là nghĩa vụ của quốc gia nhưng có cơ
sở khẳng định quốc gia đã không thực hiện
Ví dụ: Các phần tử quá kích ở Việt Nam biểu tình ném đá vào tòa đại sứ Hàn Quốc thì Việt Nam có nghĩa vụ ngăn chặn hành vi này, bảo vệ an ninh khu vực trụ sở ngoại giao và nhà của viên chức ngoại giao Nếu Việt Nam không thực hiện nghĩa vụ trên thì phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế.
Quốc gia đã không áp dụng các biện pháp cần thiết để trừng trị những kẻ phạm tội
Ví dụ: Việt Nam không xử phạt người xâm nhập Tòa đại sứ Hoa Kỳ.
Quốc gia đã không áp dụng các biện cần thiết để điều tra truy tố tội phạm
Ví dụ: Việt Nam không tiến hành điều tra việc mất tài sản tại nhà ở của viên chức ngoại giao.
Thứ tư: Quốc gia gánh chịu trách nhiệm pháp lý do hành vi vi phạm của tổ chức
quốc tế gây ra thiệt hại mà quốc gia là thành viên.
3.1.2 Tổ chức quốc tế liên chính phủ:
Là một chủ thể của luật quốc tế, các tổ chức quốc tế liên chính phủ cũng phải chịu trách nhiệm về các hành vi vi phạm luật quốc tế cũng như có thể yêu cầu các quốc gia khác bồi thường thiệt hại Trách nhiệm pháp lý quốc tế phát sinh từ việc các tổ chức quốc tế này vi phạm các nghĩa vụ quốc tế được quy định trong các điều ước quốc tế và các nguồn luật khác Bên cạnh đó, tổ chức quốc tế cũng phải chịu trách nhiệm pháp lý trong trường hợp do hành vi vi phạm của quốc gia là thành viên của tổ chức hay do hành vi vi phạm của cơ quan thuộc tổ chức đó
3.1.3 Các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập và các chủ thể đặc biệt khác
Cũng như các chủ thể trên, các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập và chủ thể đặc
biệt phải chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế đối với những hành vi của các cơ quan, cá nhân nhân danh dân tộc đó, chủ thể đó
Trang 6Ví dụ: Cơ quan của Vatican có hành vi vi phạm pháp luật quốc tế thì Vatican phải chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế.
4 CÁC HÌNH THỨC ÁP DỤNG
4.1 Căn cứ vào thiệt hại xảy ra: Trách nhiệm pháp lý quốc tế bao gồm:
4.1.1 Trách nhiệm phi vật chất:
Thể loại phi vật chất là một dạng trách nhiệm pháp lý quốc tế, theo đó chủ thể
vi phạm luật quốc tế phải có nghĩa vụ đền bù thiệt hại về mặt tinh thần cho chủ thể luật quốc tế khác (chủ thể bị hại), và một số trường hợp, phải gánh chịu thiệt hại vật chất
do các biện pháp trả đũa hoặc trừng phạt mà một chủ thể áp dụng trên cơ sở quy định của luật quốc tế Trách nhiệm phi vật chất có thể áp dụng một trong ba hình thức truy cứu trách nhiệm pháp lý quốc tế: Hình thức đáp ứng đòi hỏi của bên bị hại; hình thức trả đũa và hình thức trừng phạt
Là một hình thức thực hiện trách nhiệm phi vật chất như xin chia buồn, thông cảm chính thức hay xin lỗi, cam kết không tái phạm, long trọng tuyên bố chính thức thừa nhận việc vi phạm, ban hành văn bản pháp luật ngăn ngừa vi phạm và xét xử nghiêm minh các cá nhân vi phạm hoặc có thể bồi thường một phần nhỏ thiệt hại về danh nghĩa
Là hình thức truy cứu trách nhiệm pháp lý quốc tế do bên bị hại tiến hành nhằm mục đích trừng phạt những vi phạm pháp luật quốc tế, thực hiện thông qua hành vi đáp trả một cách tương xứng đối với các hành vi vi phạm trên cơ sở luật quốc tế
Là hình thức truy cứu trách nhiệm pháp lý quốc tế mang tính ngiêm khắc nhất, được
áp dụng với các vi phạm luật quốc tế nghiêm trọng và chỉ được tiến hành mang tính chất tập thể Hình thức trừng phạt thường được thực hiện trong khuôn khổ của Liên Hợp Quốc trên cơ sở của Hội đồng bảo an nhằm áp dụng biện pháp trừng phạt đối với quốc gia vi phạm hòa bình hoặc đe dọa hòa bình Được thực hiện qua ba phương thức:
Trang 7+ Trừng phạt phi vũ trang có thể là : cắt đứt một phần hoặc toàn bộ quan hệ ngoại giao; cắt đứt giao thông, liên lạc như cấm vận hàng hải, hàng không, khai trừ khỏi các tổ chức quốc tế , bao vây, phong tỏa, cấm vận kinh tế…
+ Trừng phạt bằng vũ trang là việc hội đồng bảo an quyết định sử dụng lực lượng hải, lục, không quân nhằm khôi phục lại hòa bình và an ninh quốc tế
+ Trừng phạt bằng cách hạn chế chủ quyền như chiếm đóng một phần lãnh thổ, hạn chế quyền có lực lượng vũ trang; áp đặt chế độ kiểm soát quốc tế
Ví dụ: Sau thế chiến thứ hai, phe Đồng minh đã phân chia lãnh thổ Đức, không cho Đức, Ý, Nhật thành lập lực lượng vũ trang đưa quân ra nước ngoài.
4.1.2 Trách nhiệm vật chất :
Thể loại vật chất của trách nhiệm pháp lý quốc tế là một dạng trách nhiệm pháp
lý quốc tế, theo đó chủ thể vi phạm pháp luật quốc tế phải có nghĩa vụ đền bù về mặt vật chất cho chủ thể bị hại
Thể loại vật chất xuất hiện khi có các yếu tố cấu thành vi phạm là có hành vi vi phạm pháp luật quốc tế; có thiệt hại vật chất trên thực tế; có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm với thiệt hại vật chất xảy ra Thể loại vật chất có hai hình thức: Khôi phục nguyên trạng ( Restitusia ) và đền bù thiệt hại (Reparasia )
Là hình thức truy cứu trách nhiệm pháp lý quốc tế về mặt vật chất, theo đó, bên gây hại có nghĩa vụ khôi phục lại các thiệt hại vật chất cho bên bị hại gần với hiện trạng vật chất ban đầu Hình thức khôi phục nguyên trạng chỉ thực hiện trong trường hợp có điều kiện (ví dụ: xây lại cây cầu bị phá, trả lại đồ vật bị tịch thu…)
Ví dụ : Khi giải quyết tranh chấp năm 1962 về ngôi đền giữa Thái Lan và Campuchia, tòa quốc tế đã yêu cầu Thái Lan phải trả lại đồ vật trong đền.
So với hình thức phục hồi nguyên trạng thì hình thức này được áp dụng nhiều hơn Đền bù thiệt hại phải dựa trên nguyên tắc “sự bồi thường phải tương xứng với thiệt hại xảy ra” được áp dụng để xác định mức độ bồi thường có nghĩa là mức độ bồi thường không hơn, không kém thiệt hại đã xảy ra trên thực tế Với những hành vi vi phạm thông thường , nhiều khi cách giải quyết, tính toán mức bồi thường có phần
Trang 8giống với cách giải quyết của trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng của luật dân sự trong nước( mối lợi đã mất, khoản tiền bồi thường thiệt hại tinh thần, khoản tiền lời trong trường hợp bồi thường quá muộn)
Riêng đối với việc đền bù bằng tiền có thể thực hiện cả đối với trách nhiệm vật chất và trách nhiệm phi vật chất , mặc dù trên thực tế những mất mát về tinh thần không thể được thay thế bằng các lợi ích vật chất khác nhưng phần nào cũng giúp các chủ thể bị thiệt hại khắc phục các hậu quả đáng tiếc xảy ra và nó còn có ý nghĩa là các hình phạt tượng trưng đối với các chủ thể đã có hành vi vi phạm
4.2 Căn cứ vào hành vi gây hại:
4.2.1 Trách nhiệm pháp lý quốc tế khách quan:
Các hành vi luật quốc tế không cấm nhưng luật quốc tế lại ràng buộc nghĩa vụ bồi thường thiệt hại với các chủ thể khi tiến hành các hoạt động được luật quốc tế cho phép nhưng lại gây thiệt hại cho các chủ thể khác của luật quốc tế (thường là vật chất)
Nguồn luật điều chỉnh:
Các quy phạm về bồi thường thiệt hại gây ra do thực hiện hành vi mà luật quốc
tế không cấm được ghi nhận trong:
Các ngành luật chuyên biệt: Luật hàng không dân dụng quốc tế, luật vũ trụ quốc tế, luật nguyên tử quốc tế, luật biển quốc tế, …
Một số công ước quốc tế : Công ước về trách nhiệm quốc tế đối với thiệt hại do phương tiện bay vũ trụ gây ra; công ước về trách nhiệm trước bên thứ ba trong lĩnh vực năng lượng hạt nhân 1960 (công ước bổ sung cho công ước này năm 1963); công ước về trách nhiệm của người tác nghiệp các tàu hạt nhân năm 1962; công ước về trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại hat nhân năm 1963; công ước về bồi thường thiệt hại phát sinh do phương tiện bay nước ngoài gây cho người thứ ba trên mặt đất năm 1952
Căn cứ xác định trách nhiệm vật chất đối với thiệt hại gây ra bởi hành vi luật quốc tế không cấm ( trách nhiệm khách quan ).
Có ba điều kiện được xem là cơ sở xác định trách nhiệm khách quan:
Trang 9 Có sự kiện làm phát sinh hiệu lực áp dụng của các quy phạm pháp lý nêu trên
+ Đây là điều kiện cần để xác định trách nhiệm pháp lý khách quan, là cơ sở thực tiễn
để xác định trách nhiệm pháp lý khách quan
+ Là hành vi sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ làm xuất hiện các tình thế, hoàn cảnh không kiểm soát được với các trang thiết bị, biện pháp khắc phục hiện có mặc dù các chủ thể đó không mong muốn
nhiệm khách quan
+ Căn cứ về sự kiện pháp lý chỉ là cơ sở thực tiễn để xác định trách nhiệm pháp lý khách quan, còn căn cứ này là cơ sở pháp lý, là điều kiện đủ để xác định trách nhiệm pháp lý khách quan
+ Một hành vi không bị Luật quốc tế cấm và làm phát sinh thiệt hại đối với các chủ thể khác chỉ phải chịu trách nhiệm pháp lý khi có các quy phạm pháp lý quy định về nghĩa
vụ này, hay nói cách khác phải có các thỏa thuận quốc tế về việc xác định trách nhiệm trong những trường hợp cụ thể này Có nghĩa là, nếu không có các quy phạm kể trên , các chủ thể luật quốc tế sẽ không có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do các hành vi hợp pháp của họ gây ra
* Các quy phạm pháp lý kể trên có thể được ghi nhận trong các điều ước quốc tế trong các lĩnh vực khác nhau: Luật hàng không, luật vũ trụ, luật biển…
sinh.
Là cơ sở để xác đinh đúng chủ thể có nghĩa vụ thực hiện trách nhiệm pháp lý khách quan, đảm bảo tính quy luật, tính khách quan, tránh suy diễn chủ quan trong xác định trách nhiệm pháp lý quốc tế Chú ý rằng thiệt hại xảy ra ở đây chỉ bao gồm thiệt hại vật chất mà thôi
Thực hiện trách nhiệm vật chất đối với thiệt hại gây ra do hành vi mà luật quốc
tế không cấm :
Trang 10Đối với trách nhiệm từ thực hiện hành vi hợp pháp của quốc gia, có thể áp dụng các hình thức sau:
Đền bù bằng tiền hoặc hiện vật Nguyên tắc chung của việc bồi thường
là sự bồi thường phải tương xứng với thiệt hại xảy ra và phải bồi thường toàn bộ
Có thể áp dụng hạn hữu hình thức thực hiện trách nhiệm khác như hình thức thay thế thiệt hại bằng việc chuyển giao cho chủ thể bị hại những đối tượng tương ứng về ý nghĩa và giá trị, thay thế đối tượng bị mất đi
Các loại vi phạm pháp luật quốc tế:
Vi phạm pháp luật quốc tế là hành vi của chủ thể luật quốc tế trái với quy định của pháp luật quốc tế, được thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động, gây ra thiệt hại cho một hoặc một số chủ thể của luật quốc tế khác
Tội ác quốc tế:
Hành vi vi phạm pháp luật quốc tế cực kì nguy hiểm của một chủ thể luật quốc tế, làm tổn hại hòa bình, an ninh thế giới, làm tổn hại quyền lợi quan trọng và sự sống còn của một dân tộc, một quốc gia hay một tổ chức quốc tế Bao gồm:
Tội ác chống hòa bình Ví dụ: Lập kế hoạch, tiến hành chiến tranh xâm lược.
Tội ác chống lại quyền dân tộc tự quyết Ví dụ: Hành vi dùng vũ lực duy trì quyền đô hộ của các nước đế quốc trước đây.
Tội ác chống lại loài người Ví dụ: Ngược đãi tù nhân, tội ác diệt chủng.
Tội ác hủy hoại môi trường môi sinh: vi phạm các điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường Ví dụ: Tàng trữ, sử dụng vũ khí hạt nhân, vi trùng, chất hóa học gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước, biển cả.
Ngoài quốc gia thì các cá nhân cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình
Ví dụ: Tòa án quốc tế Nuremberg và Tokyo xét xử tội phạm chiến tranh thế giới thứ hai.
Những vi phạm pháp luật quốc tế thông thường.